Hãng phim truyền hình

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm

Hãng phim truyền hình hay còn gọi là công ty sản xuất phim truyền hình là đơn vị chủ yếu tham gia sản xuất phim truyền hình và nhiều khi cả phim điện ảnh. Hiện tại một số hãng phim lớn không còn giới hạn ở việc sản xuất phim nữa mà trở thành công ty văn hoá giải trí toàn diện, trong đó bao gồm quản lý nghệ sĩ, quảng cáo, truyền thông cũng như tiếp thị.

Sản phẩm chính[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình, phim điện ảnh, quảng cáo, phim tài liệu, phim truyện, giới thiệu sản phẩm...

Các hãng phim tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Các hãng phim truyền hình Tên khác Tên đầy đủ Năm thành lập Người sáng lập Trụ sở Các lĩnh vực hoạt động
Trung Quốc (đại lục) Hoa Nghị Huynh Đệ Huayi Brothers
  • Tập đoàn Truyền thông Hoa Nghị Huynh Đệ 华谊兄弟传媒集团
  • Công ty Cổ phần Hữu hạn Truyền thông Hoa Nghị Huynh Đệ 华谊兄弟传媒股份有限公司 (Huayi Brothers Media Corp.)
1994 Hai anh em Vương Trung QuânVương Trung Lỗi Bắc Kinh Thu âm, buổi hòa nhạc, sản xuất và phát hành phim điện ảnh cùng với phim truyền hình, quản lý nghệ sĩ
Thượng Hải Đường Nhân
  • Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất Phim điện ảnh Thượng Hải Đường Nhân 上海唐人电影制作有限公司 (Chinese Entertainment Shanghai Limited)
  • Công ty Trách nhiệm hữu hạn Điện ảnh Đường Nhân 唐人影视有限公司
  • Đường Nhân Ảnh thị 唐人影视 (Tangren Media)
1998 Thái Nghệ Nông (蔡艺侬) Thiên Tân Sản xuất phimtruyền hình
Phòng chế tác Lâm Tâm Như Ruby Studio Lâm Tâm Như Công tác thất 林心如工作室 2009 Lâm Tâm Như Bắc Kinh Sản xuất phim truyền hình, quản lý nghệ sĩ
Hoan Ngu Ảnh Thị (Điện ảnh - truyền hình Hoan Ngu) Hãng phim Vu Chính/ Vu Chính Công tác thất 于正工作室 (tên cũ trước năm 2016) Công ty Trách nhiệm hữu hạn Văn hóa Điện ảnh Đông Dương Hoan Ngu 东阳欢娱影视文化有限公司 2008 Vu Chính Quận Triều Dương, Bắc Kinh Sản xuất và phát hành phim truyền hình cùng với phim điện ảnh, quản lý nghệ sĩ
Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình Trung Quốc (中国电视剧制作中心)
Tập đoàn Hải Nhuận 1993 Lưu Yến Minh (刘燕铭)
Tập đoàn Giải trí Tranh Thiên (橙天娱乐集团)
Lập Điểm ảnh nghiệp (立点影业)
Quang Tuyến 1998 Vương Trường Điền
Hồng Kông Đài TVB Television Broadcasts Limited Công ty Trách nhiệm hữu hạn Phát thanh Truyền hình 電視廣播有限公司 1967 Thiệu Dật Phu, Douglas Clague (Kỳ Đức Tôn) và Lợi Hiếu Hòa Tân Giới Phát thanh truyền hình
Hàn Quốc Creative Leaders Group Eight 2000
Kim Jong-hak Production 1998
JTBC Content Hub - Drama House 2007
DOREMI Entertainment 도레미엔터테인먼트
Love Letter
Logos Film 2000 Lee Jang-soo
MiiN Pictures 미인픽쳐스
Verdi Media 베르디미디어
Samhwa Networks 1980
Story TV 2010
Shinyoung EnC 신영이엔씨
  • Shinyoung Entertainment and Communications
  • 신영EnC
SidusHQ
  • 싸이더스HQ (SsaideoseuHQ)
  • iHQ
  • Công ty Cổ phần SidusHQ (주식회사 싸이더스 HQ)
  • Công ty Cổ phần iHQ 주식회사 아이에이치큐
1962 Teddy Hoon-tak Jung (Jung Hoon-tak) Phường Samseong, quận Gangnam, Seoul Giải trí, quản lý nghệ sĩ
IOK 아이오케이 IOK Company 아이오케이컴퍼니
Apollo Pictures 아폴로픽쳐스
Urban Works Media
Every Show 에브리쇼 Công ty Trách nhiệm hữu hạn Every Show (Every Show Co., Ltd)
S.M. Culture & Contents 1987
Eight Works 에이트웍스
A Story 에이스토리
Yein E&M (예인E&M)
Lee Kwan-hee Productions 이관희 프로덕션 LKH Productions
Lee Kim Production 이김프로덕션
JS Pictures 1999
Jerryboys Contents 제리보이스콘텐츠
GnG Production 2005
Chorokbaem Media 2000
Taewon Entertainment
Pan Entertainment 1998
Plan B Pictures 플랜비픽쳐스
Hwang-geum Sonamu 황금소나무
KBS Media 1991
Đài MBC 1961
Đài Loan Comic Communication
  • Khả Mễ Quốc tế Ảnh thị (Điện ảnh Quốc tế Khả Mễ)
  • Comic Quốc tế Ảnh thị (Điện ảnh Quốc tế Comic)
  • Comic Cola Entertainment Co., Ltd.
  • Comic International Productions Co., Ltd.
  • Comic Communication Co., Ltd.
1990 Phùng Gia Thụy Quận Tín Nghĩa, Đài Bắc Âm nhạc, truyền hình
Star Ritz International Entertainment Quần Tinh Thụy Trí
  • Khả Mễ Thụy Trí/ Comic Thụy Trí 可米瑞智 (từ năm 2001)
  • Công ty Hữu hạn Tài nghệ Quần Tinh Thụy Trí 群星瑞智藝能有限公司 (từ năm 2003)
  • Công ty Cổ phần Hữu hạn Giải trí Quốc tế Quần Tinh Thụy Trí 群星瑞智國際娛樂股份有限公司 (từ năm 2013)
2001 Sài Trí Bình Quận Tùng Sơn, Đài Bắc Sản xuất phim, quản lý nghệ sĩ
Thái Lan Act-Art Generation Act-Art Generation Company Limited 2002 Thanya Wachirabanjong

Pongphat Wachirabunjong

Băng Cốc Sản xuất phim truyền hình - Trực thuộc Đài Channel 3 (Thái Lan)
Boardcast Thai Boardcast Thai Television Company Limited 1989 Nong Arunosha Băng Cốc Sản xuất phim truyền hình - Trực thuộc Đài Channel 3 (Thái Lan)
Dara VDO Dara VDO Company Limited 1968 Phairat Sangwaribut Nonthaburi Sản xuất phim truyền hình - Trực thuộc Đài Channel 7 (Thái Lan)
DIDA Video DIDA Video Production Company Limited 1995 Phairat Sangwaribut Nonthaburi Sản xuất phim truyền hình - Trực thuộc Đài Channel 7 (Thái Lan)
Good Feeling Good Feeling Company Limited Somching Srisupap Băng Cốc Sản xuất phim truyền hình - Trực thuộc Đài Channel 3 (Thái Lan)
Maker J Group Maker J Group Company Limited 1985 Jariya Anfone Băng Cốc Sản xuất phim truyền hình - Trực thuộc Đài Channel 3 (Thái Lan)
Metta and Mahaniyom Metta and Mahaniyom Company Limited 2008 Chatchai Plengpanich & Sinjai Plengpanich Băng Cốc Sản xuất phim truyền hình - Trực thuộc Đài Channel 3 (Thái Lan)
Lakorn Thai Lakorn Thai Company Limited 2001 Hathairat Amatawanich Băng Cốc Sản xuất phim truyền hình - Trực thuộc Đài Channel 3 (Thái Lan)
The One Enterprise The One Enterprise Company Limited (2014 - nay)

Tên gọi trước: Exact & Scenario (1991 - Exact, 2003 - Scenario)

1991, 2003, 2014 Thakonkeat Wirawan Băng Cốc Sản xuất phim truyền hình, Gameshow - Trực thuộc Đài OneHD31 (trước đây thuộc Đài Channel 5 (Thái Lan))
Pordeecom Pordeecom Entertainment Company Limited 2007, 2010 Thongchai Prasongsanthi Băng Cốc Sản xuất phim truyền hình - Trực thuộc Đài Channel 7 (Thái Lan) đến đầu năm 2020, hiện thuộc về đài OneHD
Sonix Boom Sonix Boom 2013 Company Limited (2014 - nay)

Sonix Youth 1999 Company Limited (2012 - 2014)

2012 Kong (Piya Sawetpikul) Băng Cốc Sản xuất phim truyền hình - Trực thuộc Đài Channel 3 (Thái Lan)
Thong Entertainment Thong Entertainment Company Limited 2012 Ann Thongprasom Băng Cốc Sản xuất phim truyền hình - Trực thuộc Đài Channel 3 (Thái Lan)
TV Scene TV Scene and Picture Company Limited 1997 Natthanan Chawiwong Băng Cốc Sản xuất phim truyền hình - Trực thuộc Đài Channel 3 (Thái Lan)
Việt Nam Hãng phim Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh TFS Trực thuộc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) 1991 NSND Phạm Khắc TP.HCM Sản xuất phim truyền hình và phim tài liệu, Tạp chí văn nghệ
Trung tâm Sản xuất Phim truyền hình Việt Nam - trước đây là Hãng phim Truyền hình Việt Nam VFC Trực thuộc Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) 1980
hoặc
1994
Hà Nội Sản xuất phim truyền hình và chương trình truyền hình khác (Gặp nhau cuối năm)
Hãng Phim truyền hình Bình Dương BTF Trực thuộc Đài Phát thanh - Truyền hình Bình Dương (BTV) 1999
hoặc
2001
Bình Dương
Hãng phim Tây Đô Trực thuộc Đài Phát thanh - Truyền hình Cần Thơ Cần Thơ
Xưởng phim truyền hình Hải Phòng HFS Trực thuộc Đài Phát thanh - Truyền hình Hải Phòng (THP) Hải Phòng
Lasta TP.HCM
M&T Pictures TP.HCM
Vifa
Cát Tiên Sa
Sena Phim (Sena film)
Hãng phim Sóng Vàng (Golden Screen Production)
VietCom Film
Blue Light Films
Hãng phim Việt TP.HCM
CreaTV Vietnam
Khang Việt
Sao Thế giới

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm gần đây, hầu hết các đài truyền hình đã dành nhiều ưu tiên để phát sóng phim truyện Việt Nam. Số lượng phim Việt tăng lên, các hãng phim tư nhân nảy nở phát triển, còn các hãng phim truyền hình trực thuộc các Đài truyền hình lại có xu hướng bị giải thể. Cho đến nay, chỉ còn VFC (thuộc Đài Truyền hình Việt Nam) và TFS (thuộc Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh) là hai hãng phim truyền hình kỳ cựu vẫn còn được duy trì ổn định.

Một vài ĐTH cũng có hãng phim, xưởng phim, nhưng do bộ máy cồng kềnh hoặc làm việc không hiệu quả, cuối cùng bị “xóa sổ” hoặc đang sống “thoi thóp”. Trong đó phải kể đến hãng phim của Đài PTTH Bình Dương, Đài PTTH Hậu Giang (đã giải thể), Hãng phim Tây Đô (Đài PTTH Cần Thơ), xưởng phim thuộc Đài PTTH Hải Phòng... Ra đời năm 1999, hãng phim thuộc Đài PTTH Bình Dương những năm đầu tham gia sản xuất phim, các chương trình ca nhạc, gameshow khá “xôm tụ”, nhưng do thường xuyên thua lỗ, hoạt động kém hiệu quả nên sau gần 15 năm hoạt động cầm chừng, đến năm 2012 hãng phim này đành giải thể.

Hiện Hãng phim Tây Đô cũng đang trên bờ vực chờ… giải thể, vì 10 năm nay không sản xuất được phim nào, chỉ “sống” cầm chừng bằng việc thực hiện một số chương trình… sân khấu cải lương!

Đài PTTH Vĩnh Long hiện nay đang là ĐTH có lượng khán giả theo dõi khá đông, rating cho khung giờ phim Việt phát trên ĐTH này cũng khá cao, nhưng lãnh đạo đài khẳng định không mở hãng phim và nêu rõ ý kiến: “Quản lý một hãng phim không phải chuyện dễ dàng.

Ít nhất nhân sự cũng phải từ 50 đến 60 người, tiền nuôi quân một năm cũng gần 10 tỷ đồng, trong khi đó nhân sự (chuyên viên âm thanh, ánh sáng, đạo cụ) chưa chắc gì có người giỏi bằng ngoài thị trường. Cơ chế nhà nước nhiều thủ tục, chứng từ mà có những khoản chi trong quy trình sản xuất phim không thể có hóa đơn, chứng từ, làm sao giải trình, làm sao được duyệt…?! Chúng tôi cũng đã tính thành lập hãng phim trên cơ sở từ các đoàn phim, nhưng khó lắm. Sở dĩ tư nhân làm được là vì họ biết linh động, uyển chuyển, còn với cơ chế của nhà nước, hãng phim truyền hình khó mà tồn tại được!”.

Thật khó có thống kê đầy đủ, chính xác số hãng phim tư nhân hiện nay có hợp tác, liên kết sản xuất phim cho các ĐTH. Tuy nhiên, một vài cái tên được nhắc nhiều hiện nay, có đơn vị còn có hẳn giờ phát sóng trên HTV, VTV, SCTV, Vĩnh Long, Hà Nội như: M&T Pictures, Công ty Sóng Vàng, Tincom Media, Vietcom Film, Sao Thế giới, Hòa Bình, Kiết Tường, Sena Film…

Mới đây có thêm: Truyền thông Leo, Đại dương xanh… và rất nhiều hãng phim quy mô nhỏ hơn, chưa trực tiếp hợp tác sản xuất phim với các đài nên họ chọn cách làm gia công cho những đơn vị đã có “thâm niên” để “học hỏi” kinh nghiệm.

Tuy nhiên, để thật sự gọi là một hãng phim đúng nghĩa, thì hầu hết các nhà sản xuất phim cho các ĐTH hiện nay, vẫn chưa thể đáp ứng được. Họ có danh nghĩa, có giấy phép, nhưng khi bắt tay sản xuất mới kêu gọi nhân sự, thành lập ê kíp của từng đoàn phim khác nhau. Chính vì vậy, chất lượng phim cũng “phập phù” tùy vào mức độ đầu tư, con người, máy móc thiết bị nhiều hay ít; giỏi hay bình thường, thậm chí dở! Nhưng điều quan trọng là họ có thể linh hoạt thu-chi, để hạn chế tối đa phần rủi ro về doanh thu.

Theo Giám đốc Vietcomfilm Nguyễn Thị Bảo Trâm, khi kết hợp làm phim với ĐTH trong bối cảnh mở hiện nay gặp khá nhiều thuận lợi: được định hướng, gợi ý đề tài mới; góp ý chỉnh sửa về kịch bản; hỗ trợ giải quyết những khó khăn trong quá trình sản xuất; tạo điều kiện về các thủ tục hành chính…

Anh Lê Ngọc Hà - đại diện Hãng phim Hòa Bình, cũng chia sẻ thêm rằng: “Với những bộ phim đặc thù (phim chính luận, phim đề tài chiến tranh cách mạng), kinh phí sản xuất được phía ĐTH hỗ trợ cũng cao hơn, so với mức bình thường là 180 triệu đồng/tập. Điều đó giúp nhà sản xuất phần nào yên tâm hơn khi đầu tư cho mỗi bộ phim”. Liên quan đến vấn đề thu hồi vốn, Giám đốc Công ty Sóng Vàng production Nguyễn Thị Bích Liên tiết lộ: “Làm phim truyền hình hiếm khi lỗ, trừ khi đó là nhà sản xuất mới, chưa am hiểu về thị trường; tuy nhiên, phần lãi cũng không nhiều.

Thông thường, đầu tư cho một bộ phim truyền hình dài 30 tập, khoảng 4 tỷ đồng và việc thu hồi vốn trong khoảng từ 10 tháng đến 1 năm. Khi đã ký kết giờ phát sóng với nhà đài, công tác quản lý hãng phim càng phải chặt chẽ hơn. Chúng tôi làm việc đồng thời với nhiều êkíp, đạo diễn khác nhau, do vậy, trong trường hợp bộ phim này gặp trục trặc chúng tôi có ngay phim khác để thay thế”.

Theo Giám đốc Tincom Media Mai Thu Huyền, việc thành lập hãng phim tư nhân dù còn gặp những khó khăn, nhưng khi đã có một số phim chất lượng, khẳng định được “thương hiệu” thì sẽ dễ dàng hơn trong quá trình kêu gọi các nhà đầu tư, nhà tài trợ cho những dự án phim tiếp theo”.[1]

Phim hợp tác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ năm 2000, bộ phim “Đối thủ” do TFS và Hãng phim Giải Phóng bắt tay thực hiện là bước mở đầu cho chủ trương hợp tác để nâng cao số lượng lẫn chất lượng phim của TFS. Kết quả sự hợp tác xuyên lãnh thổ của TFS là các phim: “Chuyện tình biển xa”, “Vị tướng tình báo và hai bà vợ”... (hợp tác cùng Hãng phim Truyền hình Việt Nam- VFC) và sắp tới là hai bộ phim “Ban mai xanh” (25 tập, hợp tác cùng VFC), “Chuyện tình đảo cát” (10 tập, hợp tác với Hãng phim Truyền hình Hải Phòng)... Năm 2004, Hãng Phim Việt đã bắt đầu kế hoạch ra mắt bằng bộ phim truyền hình “390 yêu”, được đặt hàng từ phía Hãng phim Truyền hình TP Hồ Chí Minh (TFS). Cuối tháng 3 năm 2005, “Dollar trắng” - bộ phim hợp tác đầu tiên giữa Hãng phim Vaphaco và TFS sẽ bấm máy. “Bẫy tình”, bộ phim truyện vidéo do NSƯT Lê Cung Bắc đạo diễn là đứa con chung của Hãng Việt Phim, Hãng phim Truyền hình Bình Dương và Công ty Phương Nam. Mười tập phim truyền hình “Duyên phận” sắp khởi quay của Việt Phim sẽ tiếp tục được thực hiện theo phương thức hợp tác...

Việc hợp tác giữa các hãng dù theo bất cứ hình thức nào cũng đều nhằm mục đích hai bên cùng có lợi. Khi đó, về phía các đài, việc bảo đảm 50% thời lượng phát sóng phim Việt Nam trên truyền hình sẽ không nằm ngoài khả năng. Bởi lẽ, khi hợp tác với các đối tác (chủ yếu theo phương thức khoán), các đài truyền hình sẽ có thêm thời gian để đầu tư vào những bộ phim khác. Phía các hãng phim tư nhân sẽ không còn vướng mắc về đầu ra cho phim của mình. Đôi khi, phần lợi dành cho các đối tác của đài sẽ nằm sau những sô quảng cáo trong thời gian phim phát sóng. Đài truyền hình chịu trách nhiệm về nội dung, còn chất lượng phim là trách nhiệm của phía thực hiện. Phim “Ban mai xanh”, sản phẩm hợp tác giữa TFS và VFC được thực hiện với 50% vốn đóng góp của mỗi bên. “Chuyện tình đảo cát” được làm với 100% kinh phí của TFS và toàn bộ nhân lực do Đài Truyền hình Hải Phòng cung cấp.

Việc hợp tác như thế không chỉ mang lại nhiều sự lựa chọn cho khán giả truyền hình mà còn tận dụng được nguồn nhân lực của các đơn vị. Việc mở rộng hợp tác với các hãng phim tư nhân có thể sẽ là một trong những con đường để phim Việt Nam từng bước thâm nhập thị trường quốc tế bởi lẽ các công ty tư nhân thường có mạng lưới phát hành rộng khắp thế giới và khá nhạy trong công tác tiếp thị, quảng bá sản phẩm trong khi việc này vẫn còn khá xa lạ đối với các hãng phim Nhà nước.

Hợp tác làm phim không phải chỉ bó hẹp trong nước mà còn vượt ra khỏi lãnh thổ quốc gia. Đến nay, sau phim “Lẵng hoa tình yêu” - sản phẩm hợp tác đầu tiên với Hàn Quốc, TFS còn mở rộng quan hệ hợp tác với Công ty Lasta (Thái-lan) thực hiện một số bộ phim truyền hình dài tập: “Vòng xoáy tình yêu”, “Khát vọng đô thành”... Bộ phim “Thạch Thảo” của Hãng phim Giải Phóng cũng đang trong giai đoạn thương thuyết với một đối tác Hàn Quốc...

Trong hoàn cảnh cầu nhiều hơn cung như hiện nay, việc hợp tác làm phim sẽ góp phần đa dạng hóa sản phẩm, đưa ra nhiều lựa chọn cho từng thành phần khán giả. Ngoài ra, hợp tác với nước ngoài còn tạo cơ hội để điện ảnh-truyền hình Việt Nam tiếp cận phong cách làm phim chuyên nghiệp của các nước. Đó sẽ là một trong những phương cách nâng cao nghiệp vụ nhanh chóng và hiệu quả nhất.[2]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Như Hoa; Văn Tuấn (ngày 9 tháng 8 năm 2014). “Hãng phim truyền hình nhà nước liệu có “xóa sổ”?”. Báo Sài Gòn Giải Phóng. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. 
  2. ^ “Phim hợp tác: Xu hướng mới của điện ảnh - truyền hình Việt Nam”. Báo Nhân Dân điện tử. Ngày 25 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020.