Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc
Tập tin:United Nations Human Rights Council Logo.svg
United Nations Human Rights Council
Tên viết tắtUN HRC
Thành lập2006
LoạiTổ chức liên chính phủ
của Liên Hiệp Quốc
Trụ sở chínhLHQ
Vị trí
Vùng phục vụ
Toàn cầu
Ngôn ngữ chính
Đa ngữ theo LHQ
Chủ tịch
Elisabeth Tichy-Fisslberger
 Áo
Chủ quản
Liên Hiệp Quốc
Trang webUN HRC Official website
Phòng Nhân quyền và Liên minh các nền văn hóa, được sử dụng bởi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, trong Palais des Nations, Geneva, Thụy Sĩ.
Huy hiệu Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc năm 2006

Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh: United Nations Human Rights Council) là một tổ chức trực thuộc Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, có sứ mệnh thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên thế giới. Hội đồng gồm 47 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, các thành viên được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bầu vào với tư cách đại diện nhóm quốc gia theo phân vùng địa lý tại Liên Hợp Quốc. Mỗi nhiệm kỳ của thành viên kéo dài ba năm.

Tổ chức này được ra đời ngày 15 tháng 3 năm 2006 theo Nghị quyết (A/RES/60/251) sau khi Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết thành lập một tổ chức nhân quyền mới, thay thế Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền đã chấm dứt hoạt động năm 2006.

Nghị quyết này được sự ủng hộ của hầu hết các thành viên Liên Hiệp Quốc, trừ Mỹ, Israel, Palauquần đảo Marshall bỏ phiếu chống và Belarus, IranVenezuela bỏ phiếu trắng.

Việc thành lập Hội đồng Nhân quyền là một trong những hành động nhằm cải tổ Liên Hiệp Quốc và các tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc; khi Ủy ban Nhân quyền (CHR) bị nhiều nhỉ trích rằng đã để những quốc gia có nhiều hành động phi nhân quyền làm thành viên và thao túng.[1][2]

Ngày 19 tháng 6, Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã họp phiên đầu tiên tại Genève (Thụy Sĩ) với sự tham gia của 47 thành viên đầu tiên và trên 100 quốc gia quan sát viên và các tổ chức quốc tế. Tại đây, ông Luis Alfonso de Alba (người México) đã được bầu là Chủ tịch Hội đồng Nhân quyền.

Cấu trúc của Hội đồng Nhân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Nhân quyền là một cơ quan liên chính phủ (thành viên là đại diện các quốc gia). Các quyết định của Hội đồng được đưa ra theo các cơ chế là nghị quyết của các kỳ họp thành viên.

Hội đồng Nhân quyền có ba kỳ họp thường xuyên vào tháng 3 (kéo dài bốn tuần), tháng 6 (ba tuần) và tháng 9 (ba tuần) hàng năm. Ngoài ra, Hội đồng có thể họp bất thường, gọi là kỳ họp đặc biệt, để giải quyết các vấn đề khẩn cấp và vi phạm nhân quyền, khi có một phần ba thành viên yêu cầu.Tính đến tháng 5/2020, đã có 28 kỳ họp đặc biệt được tổ chức.[3]

Hội đồng có các cơ quan và cơ chế trực thuộc, mang tính liên chính phủ (đại diện của các quốc gia) hoặc là cơ chế chuyên gia (do các chuyên gia độc lập thực hiện): Nhóm thứ nhất là các cơ quan trực thuộc Hội đồng, bao gồm: Nhóm công tác về Rà soát Định kỳ Phổ quát (cơ chế liên chính phủ); Ủy ban tư vấn (gồm 18 chuyên gia độc lập); Thủ tục khiếu nại; Nhóm thứ hai là các cơ chế chuyên gia để đối thoại và tư vấn về các chủ đề; Nhóm thứ ba là Các thủ tục đặc biệt; và Nhóm thứ tư là các cơ chế liên chính phủ mở chuyên về việc thảo luận và xây dựng các văn kiện và công ước nhân quyền.

Các Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Nhân quyền có 47 thành viên là các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, được bầu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Các thành viên được bầu sẽ giữ nhiệm kỳ 03 năm, và các nhiệm kỳ này gối nhau. Vì vậy việc bầu thành viên Hội đồng Nhân quyền tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc diễn ra hàng năm với khoảng một phần ba số ghế của Hội đồng được bầu (lần lượt 14, 15 hoặc 18 ghế được bầu cử hàng năm). Một thành viên Hội đồng được phép giữ hai nhiệm kỳ liên tiếp.

Thành viên của Hội đồng Nhân quyền được cơ cấu theo nhóm vùng quốc gia như sau:[4]

  • 13 ghế dành cho các nước châu Phi (4-6 vị trí được bầu hàng năm)
  • 13 ghế dành cho nhóm các nước châu Á - Thái Bình Dương (4-6 vị trí được bầu hàng năm)
  • 6 ghế dành cho các nước Đông Âu (1-2 vị trí được bầu hàng năm)
  • 8 ghế dành cho các nước Mỹ Latinh và vùng Carribea (2-3 vị trí được bầu hàng năm)
  • 7 ghế dành các các nước Tây Âu và các nước khác (2-3 vị trí được bầu hàng năm)

Khi là thành viên của Hội đồng Nhân quyền, các quốc gia có trách nhiệm bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền như được thống nhất trong Nghị quyết thành lập ra Hội đồng 60/251. Theo khoản 8 của nghị quyết này, các quốc gia được bầu chon căn cứ vào "đóng góp vào việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền cũng như những lời hứa tự giác và cam kết của ứng cử viên".[5] Vì vậy khi tuyên bố ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền, một quốc gia thường công bố một bản Cam kết tự nguyện với tư cách thành viên.

Khi một quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền có vi phạm nhân quyền rộng lớn và mang tính hệ thống, tư cách thành viên có thể bị bãi bỏ bằng một cuộc bỏ phiếu thống nhất bởi ít nhất 2/3 đa số quốc gia thành viên có mặt và bỏ phiếu.[5]

Danh sách các quốc gia đang là thành viên Hội đồng Nhân quyền được Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp quốc cập nhật tại đây.

47 thành viên đầu tiên của Hội đồng Nhân quyền được bầu chọn vào ngày 9 tháng 5 năm 2006. Để có bầu cử gối đầu, nhóm thành viên đầu tiên gồm 14 nước chỉ có nhiệm kỳ 01 năm, nhóm thứ hai là nhóm 15 nước có nhiệm kỳ 02 năm và nhóm thứ ba là nhóm 18 nước có nhiệm kỳ 03 năm.

Thành viên Hội đồng Nhân quyền
Nhiệm kỳ Châu Phi (13) Châu Á (14) Đông Âu (5) Mỹ Latin
và Caribe (8)
Tây Âu và các
nước còn lại (7)
2020–2022
[6]
 Libya
 Mauritanie
 Sudan
 Namibia
 Armenia
 Indonesia
Nhật Bản Nhật Bản
 Quần đảo Marshall
Hàn Quốc Hàn Quốc
 Ba Lan  Brasil
 Venezuela
 Đức
 Hà Lan
2019–2021
[7]
 Burkina Faso
 Cameroon
 Eritrea
 Somalia
 Togo
 Bahrain
 Bangladesh
 Fiji
Ấn Độ Ấn Độ
 Philippines
 Bulgaria
 Cộng hòa Séc
 Argentina
 Bahamas
 Uruguay
 Áo
 Đan Mạch
 Ý
2018–2020
[8]
 Angola
 CHDC Congo
 Nigeria
 Senegal
 Afghanistan
   Nepal
 Qatar
 Pakistan
 Slovakia
 Ukraina
 Chile
México México
 Peru
 Úc
 Tây Ban Nha
Trước đây:
2017-19[9] Ai Cập Ai Cập
 Rwanda
 Nam Phi
 Tunisia
 Trung Quốc
 Iraq
Nhật Bản Nhật Bản
 Ả Rập Xê Út
 Croatia
 Hungary
 Brasil
 Cuba
 Anh Quốc
 Hoa Kỳ
2016-18[10]  Burkina Faso
 Bờ Biển Ngà
 Ethiopia
 Kenya
 Togo
Hàn Quốc Hàn Quốc
 Kyrgyzstan
 Mông Cổ
 Philippines
 Các TVQA Thống nhất
Gruzia Gruzia
 Slovenia
 Ecuador
 Panama
 Venezuela
 Bỉ
 Đức
 Thụy Sĩ
2015-17[11]  Botswana
 Cộng hoà Congo
 Ghana
 Nigeria
Ấn Độ Ấn Độ
 Indonesia
 Qatar
 Albania
 Latvia
 Bolivia
 El Salvador
 Paraguay
 Hà Lan
Bồ Đào Nha Bồ Đào Nha
2014-16  Algérie
Maroc Maroc
 Namibia
 Nam Phi
 Trung Quốc
 Maldives
 Ả Rập Xê Út
Việt Nam
 Bắc Macedonia
 Nga
 Cuba
México México
 Pháp
 Anh Quốc
2013-15  Ethiopia
 Bờ Biển Ngà
 Gabon
 Kenya
 Sierra Leone
Nhật Bản Nhật Bản
 Kazakhstan
 Pakistan
Hàn Quốc Hàn Quốc
 Các TVQA Thống nhất
 Estonia
 Montenegro
 Argentina
 Brasil
 Venezuela
 Đức
 Ireland
 Hoa Kỳ
2012-14  Bénin
 Botswana
 Burkina Faso
 Cộng hoà Congo
Ấn Độ Ấn Độ
 Indonesia
Kuwait Kuwait
 Philippines
 România
 Cộng hòa Séc
 Chile
 Costa Rica
 Peru
 Ý
 Áo
2011-13  Angola
 Libya
 Mauritanie
 Uganda
 Qatar
 Malaysia
 Maldives
 Thái Lan
 Moldova
 Ba Lan
 Ecuador
 Guatemala
 Thụy Sĩ
 Tây Ban Nha
2010-12  Djibouti
 Cameroon
 Mauritius
 Nigeria
 Senegal
 Bangladesh
 Trung Quốc
 Jordan
 Kyrgyzstan
 Ả Rập Xê Út
 Nga
 Hungary
 Cuba
México México
 Uruguay
 Bỉ
 Na Uy
 Hoa Kỳ
2009-11  Burkina Faso
 Gabon
 Ghana
 Zambia
 Bahrain
Nhật Bản Nhật Bản
 Pakistan
Hàn Quốc Hàn Quốc
 Slovakia
 Ukraina
 Argentina
 Brasil
 Chile
 Pháp
 Anh Quốc
2008-10 Ai Cập Ai Cập
 Angola
 Madagascar
Cộng hòa Nam Phi Nam Phi
Ấn Độ Ấn Độ
 Indonesia
 Qatar
 Philippines
 Bosna và Hercegovina
 Slovenia
 Bolivia
 Nicaragua
 Hà Lan
 Ý
2007-09  Djibouti
 Cameroon
 Mauritius
 Nigeria
 Senegal
 Azerbaijan
 Bangladesh
 Trung Quốc
 Jordan
 Malaysia
 Ả Rập Xê Út
 Nga  Cuba
México México
 Uruguay
 Đức
 Canada
 Thụy Sĩ
2006-08  Gabon
 Ghana
 Mali
 Zambia
Nhật Bản Nhật Bản
 Pakistan
 Sri Lanka
Hàn Quốc Hàn Quốc
 România
 Ukraina
 Brasil
 Guatemala
 Peru
 Pháp
 Anh Quốc
2005-07  Algérie
Maroc Maroc
Cộng hòa Nam Phi Nam Phi
 Tunisia
 Bahrain
Ấn Độ Ấn Độ
 Indonesia
 Bangladesh
 Ba Lan
 Cộng hòa Séc
 Argentina
 Ecuador
Phần Lan Phần Lan
 Hà Lan

Chủ tịch và các phó Chủ tịch Hội đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Hội đồng Nhân quyền có một Chủ tịch và bốn Phó Chủ tịch, trong đó một Phó Chủ tịch kiêm báo cáo viên của Hội đồng. Chủ tịch và các phó Chủ tịch được bầu hàng năm tại Hội đồng.

Các chủ tịch
Tt Chủ tịch Từ nước Thời gian
15. Nazhat Shameem Khan Fiji 01/01/2021 - 31/12/2021[12]
14. Elisabeth Tichy-Fisslberger  Áo 1/1/2020 – ...[13]
13. Coly Seck  Senegal 1/1/2019 – 31/12/2019
12. Vojislav Šuc  Slovenia 1/1/2018 – 31/12/2018
11. Joaquín Alexander Maza Martelli  El Salvador 2017 [14]
10. Choi Kyonglim Hàn Quốc Hàn Quốc 2016
9. Mr. Joachim Rücker  Đức 2015 [15]
8. Mr. Baudelaire Ndong Ella  Gabon 16/06/2014 – 2015[16]
7. Mr. Remigiusz Henczel  Ba Lan 10/12/2012 – 15/06/2014
6. Mrs. Laura Dupuy Lasserre  Uruguay 19/06/2011 – 9/12/2012
5. Mr. Sihasak Phuangketkeow  Thái Lan 19/06/2010 – 18/06/2011
4. Mr. Alex Van Meeuwen  Bỉ 19/06/2009 – 18/06/2010
3. Mr. Martin Ihoeghian Uhomoibhi  Nigeria 19/06/2008 – 18/06/2009
2. Mr. Doru Romulus Costea  România 19/06/2007 – 18/06/2008
1. Mr. Luis Alfonso de Alba México México 19/06/2006 – 18/06/2007[17]

Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR)[sửa | sửa mã nguồn]

Các thủ tục đặc biệt của Hội đồng Nhân quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ tục khiếu nại[sửa | sửa mã nguồn]

Các nhóm làm việc mở[sửa | sửa mã nguồn]

Các diễn đàn[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “BBC NEWS”. Truy cập 9 tháng 2 năm 2015.
  2. ^ http://daccess-ods.un.org/access.nsf/Get?Open&DS=A/60/PV.72&Lang=E
  3. ^ https://www.ohchr.org/EN/HRBodies/HRC/Pages/Sessions.aspx
  4. ^ Quy định tại đoạn 7 Nghị quyết Đại hội đồng LHQ số 60/251 (A/RES/60/251 đoạn 7) ngày 03/4/2006. Truy cập tại http://undocs.org/en/A/RES/60/251 ngày 27/02/2021.
  5. ^ a ă Quy định tại đoạn 8 Nghị quyết Đại hội đồng LHQ số 60/251 (A/RES/60/251 đoạn 7) ngày 03/4/2006. Truy cập tại http://undocs.org/en/A/RES/60/251 ngày 27/02/2021.
  6. ^ “Election of the Human Rights Council (17 October 2019)”. United Nations General Assembly. United Nations. 17 tháng 10 năm 2019.
  7. ^ < (12 tháng 10 năm 2018). “Election of the Human Rights Council (12 October 2018)”. United Nations General Assembly. United Nations. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2019. Đã bỏ qua văn bản “--Not stated-->” (trợ giúp)Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  8. ^ < (16 tháng 10 năm 2017). “Election of the Human Rights Council (16 October 2017)”. United Nations General Assembly. United Nations. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2019. Đã bỏ qua văn bản “--Not stated-->” (trợ giúp)Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  9. ^ Current Membership of the Human Rights Council, 1 January - 31 December 2017 by regional groups. Truy cập 01/04/2017.
  10. ^ Bauzon, Bernice Camille (ngày 29 tháng 10 năm 2015). “PH reelected to UNHRC”. The Manila Times. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2015.
  11. ^ HRC > Current Membership of the Human Rights Council by regional groups. Retrieved 15/05/2015.
  12. ^ https://www.ohchr.org/EN/HRBodies/HRC/Pages/Presidency.aspx
  13. ^ “President of the 14th Cycle”. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2020.
  14. ^ ​​​​President of the 11th Cycle. Truy cập 22/04/2017.
  15. ^ Joachim Rücker, President of the Human Rights Council, Ninth Cycle (2015). Retrieved 22/05/2015.
  16. ^ HRC President of the 8th Cycle. Truy cập 22/05/2015.
  17. ^ HRC President of the First Cycle 2006 - 2007. Retrieved 22/05/2015.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]