LSD

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
LSD-2D-skeletal-formula-and-3D-models.png
Lysergic acid diethylamide (LSD)
Tên IUPAC hệ thống
(6aR,9R)-N,N-diethyl-7-methyl-4,6,6a,7,8,9-hexahydroindolo-[4,3-fg]quinoline-9-carboxamide
Nhận dạng
Số CAS 50-37-3
Mã ATC none
PubChem 5761
DrugBank DB04829
Dữ liệu hóa chất
Công thức C20H25N3O 
Phân tử gam  ?
SMILES tìm trong eMolecules, PubChem
Đồng nghĩa Acid, LSD, lysergide
Dữ liệu vật lý
Nóng chảy 80–85 °C (176–185 °F)
Dữ liệu dược động lực học
Sinh khả dụng  ?
Chuyển hóa Hepatic
Bán thải 3–5 hours[1][2]
Bài tiết Renal
Lưu ý trị liệu
Phạm trù thai sản

C(US)

Tình trạng pháp lý

Prohibited (S9)(AU) Schedule III(CA) Class A(UK) Schedule I(US)

Dependence Liability Low[3]
Dược đồ Oral, sublingual, intravenous, ocular, intramuscular

LSD (Lysergic acid diethylamide) là một thuốc ảo giác mạnh với các tác động tâm lý đến sự nhận biết với môi trường xung quanh, nhận thức, cảm nhận cũng như mang lại ảo giác (hallucination).[4] Nhiều quốc gia xem LSD là một chất gây nghiện và bị cấm lưu hành.

LSD không gây nghiện. Tuy nhiên, phản ứng tâm thần bất lợi như lo âu, hoang tưởng, và ảo tưởng là có thể.

LSD được tạo ra lần đầu tiên bởi Albert Hofmann ở Thụy Sĩ vào năm 1938 từ ergotamine (một alcaloid của nấm cựa gà. Ở liều điều trị, ergotamin gây co mạch ngoại vi (nếu trương lực mạch giảm) chủ yếu do kích thích thụ thể alpha - adrenergic, tuy nhiên, thuốc gây giãn mạch ở các mạch có trương lực rất cao.)

Tên hóa học của nó là từ các từ viết tắt của tiếng Đức: "lyserg- saure- diathylamid".

Tác dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Tâm lý[sửa | sửa mã nguồn]

Các hiệu ứng tâm lý tức thời của LSD là ảo giác thị giác và ảo tưởng (gọi tắt là "Trip"), có thể khác nhau tùy thuộc vào liều lượng sử dụng và phản ứng của não. Các "Trip" thường bắt đầu trong vòng 20-30 phút sau ngậm hoặc uống LSD bằng miệng, tối đa ba đến bốn giờ sau khi nuốt, và kéo dài đến 12 giờ. Khi sử dụng LSD sẽ xảy ra một trong hai tình trạng:

1: Những hiệu ứng tiêu cực, được gọi là "bad trip", tạo ra những cảm xúc mãnh liệt, chẳng hạn như những nỗi sợ phi lý và lo âu, hoảng loạn, hoang tưởng, chóng mặt, vô vọng, muốn làm hại người khác, và ý tưởng tự tử. Không thể dự đoán "bad trip" sẽ xảy ra hay không khi sử dụng LSD.

2: Những hiệu ứng thú vị kích thích và vui tươi được gọi là "good trip", cảm giác sẽ như thể đang trôi bồng bềnh, thoát khỏi thực tại, cảm giác vui mừng hay phấn chấn (đôi khi được gọi là "rush"), giảm sự ức chế, và niềm tin mãnh liệt về 1 thứ gì đó.

Cảm giác[sửa | sửa mã nguồn]

Một số hiệu ứng cảm giác có thể bao gồm: màu sắc trở nên rực rỡ, các vật thể và bề mặt xuất hiện để gợn sóng hoặc "như đang thở", xuất hiện những hình ảnh đầy màu sắc khi nhắm mắt, mất khái niệm về thời gian (thời gian dường như kéo dài, lặp đi lặp lại, Hoặc dừng lại) và làm biến đổi hình dáng các vật thể.  Một số người dùng, bao gồm cả Albert Hofmann ghi nhận rằng có vị kim loại rất rõ trong suốt thời gian sử dụng LSD.

LSD gây ra cảm giác sống động về cảm giác , cảm xúc , ký ức , thời gian và nhận thức trong 6-14 giờ, tùy thuộc vào liều lượng và cách hấp thụ. Nói chung, bắt đầu trong vòng 30 đến 90 phút sau khi ăn phải, người dùng có thể trải nghiệm sự thay đổi nhận thức . Những thay đổi về nhận thức thính giác và thị giác là điển hình.   Các hiệu ứng hình ảnh bao gồm ảo giác chuyển động của các bề mặt tĩnh ("bức tường như đang thở"), sự xuất hiện của các mô hình hình học chuyển động với màu sắc sặc sỡ (đặc biệt khi nhắm mắt) , tăng cường màu sắc và độ sáng của vật thể được nhìn, xuất hiện các vật thể lạ và tầm nhìn bị mờ. Người dùng thường báo cáo rằng thế giới dường như sinh động theo một cách không thể giải thích được; Ví dụ, các vật thể tĩnh trong không gian ba chiều dường như di chuyển và xuất hiện một hoặc nhiều không gian bổ sung. Các hiệu ứng về thính giác của LSD bao gồm sự bóp méo âm thanh, kích thích thính giác đồng thời tăng cường việc cảm thụ âm nhạc. Liều cao hơn thường gây ra sự méo mó cơ bản của nhận thức cảm giác như gây mê , thay đổi về kích thước không gian hoặc thời gian và sự hôn mê tạm thời.

Sự lưu hành của LSD[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài ra, vào những năm 70 đến 90 thế kỷ 20 thì LSD vẫn còn được lưu hành và được một số người như Steve Jobs sử dụng (trích trong cuốn Tiểu sử Steve Jobs) và ông nói rằng khi ông sử dụng nó thì ông cảm thấy như não mình suy nghĩ và hoạt động tốt hơn. Tuy nhiên LSD đã bị cấm sử dụng và tiêu thụ ở thế giới ngầm của Mỹ từ năm 90 của thế kỷ 20.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Aghajanian
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Papac
  3. ^ Halpern, John H.; Suzuki, Joji; Huertas,, Pedro E.; Passie, Torsten (ngày 7 tháng 6 năm 2014). Price, Lawrence H.; Stolerman, Ian P., biên tập. Encyclopedia of Psychopharmacology A Springer Live Reference. Heidelberg, Germany: Springer-Verlag Berlin Heidelberg. tr. 1–5. ISBN 978-3-642-27772-6. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2015. Hallucinogen abuse and dependence are known complications resulting from the illicit use of drugs in this category, such as LSD and psilocybin. Users do not experience withdrawal symptoms, but the general criteria for substance abuse and dependence otherwise apply. Dependence is estimated in approximately 2 % of recent-onset users in the United States. 
  4. ^ “What are hallucinogens?”. National Institute of Drug Abuse. Tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]