Super Nintendo Entertainment System

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ SNES)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Super Nintendo Entertainment System
Super Nintendo Entertainment System logo.svg
Nintendo Super Famicom logo.svg
The North American SNES (circa 1991)
A Japanese Super Famicom
Top: North American SNES (circa 1991)
Bottom: Japanese Super Famicom, which has the same casing later used in European and Australian consoles.
Other variations are pictured under Casing below
Also known asSNES
Super NES
  • JP Super Famicom
  • KOR Super Comboy
Super Nintendo
Nhà chế tạoNintendo
LoạiHome video game console
Thế hệFourth generation
Ngày ra mắt
Mức độ bán lẻ bao phủ1990–2003[3]
Giá giới thiệuJP¥25,000
US$199
Ngừng sản xuất
Số lượng bánWorldwide: 49.10 million[3]
Bắc Mỹ & Nam Mỹ: 23.35 million
Japan: 17.17 million
Other: 8.58 million
Truyền thôngROM cartridge
CPURicoh 5A22 @ 3.58 MHz
Âm thanhNintendo S-SMP
Dịch vụ trực tuyếnSatellaview (Japan only)
XBAND
Nintendo Power (Japan only)
Trò chơi bán chạy nhất
Người tiền nhiệmNintendo Entertainment System
Kế vịNintendo 64

Super Nintendo Entertainment System (thường được viết tắt thành Super NES[b] hoặc SNES[c], hoặc Super Nintendo[d]) là một video game console gia đình 16 bit được Nintendo phát triển và được đưa ra thị trường năm 1990 tại Nhật Bản và Hàn Quốc, năm 1991 tại Bắc Mỹ, năm 1992 tại Châu Âu và Australasia (Châu Đại Dương), và năm 1993 tại Nam Mỹ. Ở Nhật Bản, hệ máy này được gọi là Super Famicom[e], hoặc SFC. Ở Hàn Quốc, nó được gọi là Super Comboy[f] và được Hyundai Electronics phân phối. Mặc dù mỗi phiên bản về bản chất là giống nhau, Nintendo đã áp dụng khóa mã vùng cho từng khu vực.

SNES là máy chơi trò chơi tại nhà thứ hai, sau Nintendo Entertainment System (NES). Nó đã cho thấy khả năng âm thanh và đồ họa tiên tiến so với các hệ thống khác tại thời điểm đó. Sự phát triển của một loạt các chip tăng cường tích hợp trong các băng trò chơi đã giúp giữ cho sản phẩm này giữ được tính cạnh tranh trên thị trường.

SNES là một sản phẩm thành công toàn cầu, trở thành máy chơi trò chơi bán chạy nhất của kỷ nguyên 16 bit mặc dù bắt đầu tương đối muộn và chịu cạnh tranh khốc liệt ở Bắc Mỹ và châu Âu từ Genesis của Sega. Sản phẩm SNES vẫn phổ biến rộng rãi trong kỷ nguyên 32-bit sau đó. Nó tiếp tục được phổ biến trong cộng đồng các nhà sưu tập và các game thủ thích hoài cổ, một số người trong số họ vẫn tạo ra các phiên bản ROM tự tạo - và trong các phiên bản tái phát hành mô phỏng của Nintendo.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Để cạnh tranh với các máy tính gia đình phổ biến ở Nhật Bản, NEC Corporation ra mắt PC Engine vào năm 1987, và Sega theo sau với Mega Drive vào năm 1988. Hai nền tảng này sau đó được tung ra ở Bắc Mỹ vào năm 1989 với tên gọi TurboGrafx-16 và Sega Genesis., tương ứng. Cả hai hệ thống đều được xây dựng trên kiến trúc 16-bit và cung cấp đồ họa và âm thanh được cải tiến qua NES 8 bit. Tuy nhiên, phải mất vài năm để hệ thống của Sega thành công. Giám đốc điều hành Nintendo đã không vội vàng để thiết kế một hệ thống mới, nhưng họ xem xét lại khi bắt đầu thấy sức thống trị của họ trên thị trường sụt giảm

Phát hành ra thị trường[sửa | sửa mã nguồn]

Được thiết kế bởi Masayuki Uemura, nhà thiết kế của Famico, Super Famicom được phát hành tại Nhật Bản vào thứ Tư, ngày 21 tháng 11 năm 1990 với giá 25.000 yên (210 đô la). Nó đã thành công lập tức; Sản lượng ban đầu của Nintendo là 300.000 chiếc được bán ra trong vòng vài giờ, và sự xáo trộn xã hội dẫn đến chính phủ Nhật Bản phải yêu cầu các nhà sản xuất trò chơi điện tử lên kế hoạch phát hành thêm vào cuối tuần. Việc phát hành SNES cũng thu hút sự chú ý của Yakuza, dẫn đến quyết định chuyển các thiết bị vào ban đêm để tránh bị cướp.

Super Famicom nhanh chóng vượt qua các đối thủ chính của nó, Nintendo khẳng định mình là người lãnh đạo của thị trường trò chơi tại nhà ở Nhật Bản. Thành công của Nintendo một phần là do sự lưu giữ hầu hết các nhà phát triển chính của bên thứ ba từ hệ thống trước đó của nó, bao gồm Capcom, Konami, Tecmo, Square, Koei và Enix.

Nintendo phát hành, máy Super Nintendo, một phiên bản được thiết kế lại của Super Famicom, ở Bắc Mỹ với giá 199 đô la. Được tung ra với số lượng hạn chế vào ngày 23 tháng 8 năm 1991, với ngày phát hành chính thức vào ngày 9 tháng 9 năm 1991. SNES được phát hành tại Anh và Ireland vào tháng 4 năm 1992 với giá £ 150, với bản phát hành tiếng Đức vài tuần sau đó.

Cả NES và SNES được phát hành tại Brazil vào năm 1993 bởi Playtronic, một liên doanh giữa công ty đồ chơi Estrela và công ty điện tử tiêu dùng Gradiente.

SNES và Super Famicom ra mắt chỉ với vài trò chơi, nhưng những trò chơi này đã lập tức được đón nhận trên thị trường. Ở Nhật Bản, chỉ có hai trò chơi có sẵn: Super Mario World và F-Zero. (Một trò chơi thứ ba, Bombuzal, được phát hành trong tuần ra mắt.) Ở Bắc Mỹ, Super Mario World ra mắt chung với bộ; các trò chơi ra mắt khác bao gồm F-Zero, Pilotwings (cả hai đều thể hiện khả năng hiển thị giả lập 3D "Mode 7"), SimCityGradius III.

Giả lập[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như NES, SNES đã giữ lại được một lượng người hâm mộ trung thành.

Năm 1997, những người đam mê SNES đã bắt đầu lập trình một trình giả lập tên là ZSNES. Gỉa lập Super NES cũng có trên các nền tảng như Android, và iOS, dòng Nintendo DS, Gizmondo, Dingoo và GP2X của GamePark Holdings, cũng như PDA.

Một mini-console chuyên dụng, Super NES Classic Edition, được phát hành vào tháng 9 năm 2017 sau NES Classic Edition. Máy dựa trên phiên bản phát hành ở Bắc Mỹ và châu Âu, kèm theo hai tay cầm kiểu SNES và cài đặt sẵn 21 trò chơi, bao gồm Star Fox.

Doanh số và Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Khoảng 49,1 triệu máy SNES đã được bán trên toàn thế giới, với 23,35 triệu chiếc được bán ở châu Mỹ và 17,17 triệu chiếc được bán tại Nhật Bản.[3] Mặc dù nó không thể lặp lại thành công của NES, với 61.91 triệu máy trên toàn thế giới, SNES là thiết bị chơi trò chơi bán chạy nhất trong thời đại của nó.

Trong năm 2007, GameTrailers tôn vinh SNES là máy chơi trò chơi tốt thứ hai trong danh sách mười máy chơi trò chơi hàng đầu "để lại dấu ấn trong lịch sử chơi game", với đồ họa, âm thanh và thư viện trò chơi có chất lượng hàng đầu.[13] Vào năm 2015, họ còn tôn vinh nó là máy chơi trò chơi Nintendo tốt nhất mọi thời đại, nói rằng, "Danh sách các trò chơi chúng tôi yêu thích chạy trên SNES hoàn toàn vượt qua bất kỳ danh sách từ các máy chơi khác của Nintendo."[14] Chuyên gia công nghệ Don Reisinger tuyên bố "SNES là máy chơi trò chơi vĩ đại nhất mọi thời đại" vào tháng 1 năm 2008, với chất lượng trò chơi và cải tiến đáng kể của SNES so với máy NES tiền nhiệm;[15].[16] GamingExcellence cũng cho SNES vị trí số 1 trong năm 2008, tuyên bố nó " là hệ thống đi vượt thời gian nhất từng được chế tạo" với nhiều trò chơi và sự đổi mới trong thiết kế bộ điều khiển, khả năng đồ họa và cốt truyện.[17] Đồng thời điểm, GameDaily xếp hạng SNES thứ năm vì đồ họa, âm thanh, bộ điều khiển và trò chơi.[18].[19]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên NAReleaseDateNote
  2. ^ The abbreviation "Super NES" is printed in a label on the bottom of the console as the "Super NES Control Deck" and is commonly used in various Nintendo peripherals and literature related to the platform.
  3. ^ The acronym SNES can be pronounced by English speakers as a single word (compare "NATO") with various pronunciations, a string of letters (compare "IBM"), or as a hybrid (compare "JPEG"). In written English, the choice of indefinite article can be problematic due to these differences in pronunciation.[10][11]
  4. ^ While the use of "Super Nintendo" as a grammatically incorrect shorthand is common in colloquial speech, Nintendo of America's official guidelines discourage it, preferring instead the officially accepted abbreviations of "Super NES" or "SNES" in a formal context.[12]
  5. ^ Super Famicom (Nhật: スーパーファミコン Hepburn: Sūpā Famikon?, officially adopting the abbreviated name of its predecessor, the Famicom)
  6. ^ 슈퍼 컴보이 Syupeo Keomboi

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “History | Corporate”. Nintendo. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2013. 
  2. ^ “Nintendo chega hoje ao mercado”. O Estado de S. Paulo. 30 tháng 8 năm 1993. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2018. 
  3. ^ a ă â “Consolidated Sales Transition by Region” (PDF). Nintendo Co., Ltd. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 13 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2017.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “consolidatedsales” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  4. ^ Don Reisinger (21 tháng 1 năm 2009). “Does the Xbox 360's 'Lack of Longevity' Matter?”. CNET. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2015. 
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên End
  6. ^ “The Nintendo Years: 1990”. 25 tháng 6 năm 2007. tr. 2. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2007. 
  7. ^ Kent (2001), p. 497. "By the end of the 16-bit generation, Nintendo would go on to sell 9 million copies of Donkey Kong Country"
  8. ^ “IGN's Top 100 Games of All Time 2007”. IGN. 2007. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2009. 
  9. ^ “Platinum Titles”. Capcom. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2010. 
  10. ^ “Do you say NES or N-E-S?”. Nintendo NSider Forums. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2007.  Additional archived pages: 2 3 4 5 8 9
  11. ^ “Pronouncing NES & SNES”. GameSpot forums. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2007. 
  12. ^ “SNES Development Manual” (PDF). 
  13. ^ https://www.youtube.com/watch?v=JlNbK7S2shg.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  14. ^ http://www.gametrailers.com/videos/slu4pc/gt-countdown-top-ten-nintendo-systems.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)|tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  15. ^ Reisinger, Don (ngày 25 tháng 1 năm 2008). “The SNES is the greatest console of all time”. CNET Blog Network. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2010. 
  16. ^ Greenwald, Will (ngày 28 tháng 1 năm 2008). “The greatest game console of all time?”. CNET Blog Network. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2010. 
  17. ^ Sztein, Andrew (ngày 28 tháng 3 năm 2008). “The Top Ten Consoles of All Time”. GamingExcellence. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2010. 
  18. ^ Buffa, Chris (ngày 5 tháng 3 năm 2008). “Top 10 Greatest Consoles”. GameDaily. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2010. 
  19. ^ “Top 25 Videogame Consoles of All Time”. IGN. Ngày 4 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2010.