Tỉnh Việt Nam (thời Pháp thuộc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Phân cấp hành chính thời Pháp thuộc được tính từ khi Pháp chiếm được Nam Kỳ cho đến khi Việt Nam giành được độc lập (1863 - 1945)

Sau khi chiếm toàn nước Việt Nam, người Pháp chính thức chia cắt lãnh thổ thành ba xứ, coi như 3 nước riêng biệt. Ba xứ này cùng với Campuchia, Lào trở thành 5 xứ hợp thành Đông Pháp (Indochine française).

Trị sự các kỳ gồm có Thống đốc (Gouverneur) ở Nam Kỳ, Thống sứ (Résident supérieur) ở Bắc Kỳ, Khâm sứ (Résident général, sau 1888: Résident supérieur) ở Trung kỳ tương đương với "thủ tướng". Dưới các kỳ là các tỉnh với một viên Công sứ (Résident) tương đương với "tỉnh trưởng/chủ tịch tỉnh" người Pháp đứng đầu. Quy mô và vị trí các tỉnh tương tự các tỉnh ngày nay.

Phân cấp ở Nam kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Nam kỳ là vùng đất người Pháp chiếm được và lập nền cai trị đầu tiên ở Đông Dương; trước là 3 tỉnh miền Đông và kế tiếp là 3 tỉnh miền Tây. Các tỉnh cũ lập từ thời Minh Mạng được chia lại:

Từ sáu tỉnh nguyên thủy của Nam kỳ lục tỉnh, người Pháp chia thành 19 tỉnh có vị trí gần tương tự như ngày nay.

Các tỉnh mới ở Bắc Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1886, sau khi chiếm toàn xứ Bắc Kỳ, người Pháp cho tiến hành cải tổ việc cai trị, lập mới các tỉnh:

  • tỉnh Chợ Bờ (tỉnh Mường), năm 1886 (sau là tỉnh Hòa Bình), từ các khu vực người Mường của các tỉnh: Hưng Hóa, Sơn Tây, Ninh Bình và Hà Nội cũ
  • tỉnh Lào Cai (1886-1891, tái lập 1907) từ Đạo quan binh thứ IV (một phần của tỉnh Hưng Hóa cũ)
  • thành phố Hải Phòng, năm 1888 (năm 1887 là tỉnh Hải Phòng), từ vùng biển Ninh Hải của tỉnh Hải Dương
  • thành phố Hà Nội, năm 1888
  • tỉnh Hà Nam năm 1890, từ phủ Lý Nhân của tỉnh Hà Nội cũ
  • tỉnh Thái Bình, năm 1890 từ hai phủ Kiến Xương và Thái Bình (sau đổi thành Thái Ninh) của tỉnh Nam Định, kết hợp với phủ Tiên Hưng từ tỉnh Hưng Yên cắt sang.
  • tỉnh Lai Châu, năm 1893 tách từ tỉnh Vạn Bú
  • tỉnh Bắc Giang năm 1895, tách từ tỉnh Bắc Ninh
  • tỉnh Vĩnh Yên năm 1899, tách từ tỉnh Sơn Tây và huyện Bình Xuyên của tỉnh Thái Nguyên
  • tỉnh Yên Bái (năm 1900) từ Đạo quan binh thứ IV (một phần của tỉnh Hưng Hóa cũ)
  • tỉnh Cầu Đơ, năm 1902, (sau đổi thành tỉnh Hà Đông), từ hai phủ Ứng Hòa và Thường Tín, là phần còn lại của tỉnh Hà Nội cũ
  • tỉnh Phú Thọ (năm 1903), từ phần đất còn lại của tỉnh Hưng Hóa
  • tỉnh Phúc Yên năm 1904
  • tỉnh Sơn La, năm 1904 (lúc đầu tên là tỉnh Vạn Bú, năm 1895), tách từ tỉnh Hưng Hóa
  • tỉnh Kiến An, năm 1906 (trước đó là tỉnh Hải Phòng, năm 1887, rồi đổi tên là tỉnh Phủ Liễn, năm 1902)
  • tỉnh Hải Ninh, năm 1906
  • tỉnh Hà Giang
  • tỉnh Đông Giang

Các tỉnh mới ở Trung kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Các tỉnh duyên hải Trung kỳ gần như là giữ nguyên. Riêng các tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, vào thời trước chưa được phân chia hành chính, thì đến thời kỳ này mới được phân chia mới:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]