The International (Dota 2)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
The International
The international.png
Tần suấtHàng năm
Số năm hoạt động2011–nay
Lần đầu tiên17–21 tháng 8 năm 2011
Lần gần nhất20–25 tháng 8 năm 2019
Số lượng tham gia
  • 16 đội (2011–2016)
  • 18 đội (2017–nay)
Thể loạiGiải đấu thể thao điện tử Dota 2
Trang chủwww.dota2.com/international

The International (TI) là giải đấu thể thao điện tử hàng năm về Dota 2 do công ty phát hành và phát triển Valve Corporation tổ chức[1]. Kể từ năm 2017, giải đấu quy tụ 18 đội chơi xuất sắc nhất mùa giải theo hệ thống tính điểm Dota Pro Circuit của Valve[2][3]. Tiền thưởng của giải đấu chủ yếu được quyên góp theo hình thức crowdfunding trực tiếp từ người chơi thông qua sản phẩm "Compendium" phát hành thông qua trò chơi[4][5][6]. Các nhà vô địch của giải đấu sẽ được nhận ngoài tiền thưởng là danh hiệu vô địch thế giới Aegis of Champions với tên được khắc ở mặt sau[7][8].

Giải đấu được lần đầu tổ chức tại Gamescom, Cologne, Đức vào tháng 8 năm 2011, ngay sau khi Valve mua lại quyền sở hữu và phát triển mod game Defense of the Ancients (DotA)[1]. Kể từ đó, hàng năm The International luôn tự phá kỷ lục của chính mình để trở thành giải đấu có giá trị nhất thể thao điện tử[9].

Danh sách đội vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vô địch thế giới Aegis of Champions.
Năm Đội vô địch Tổng giá trị giải thưởng Ngày Sân vận động Thành phố đăng cai
2011 Ukraina Natus Vincere[10] 1.600.000 $ 17–21 tháng 8 Koelnmesse[11] Cologne
2012 Trung Quốc Invictus Gaming[12] 31 tháng 8 – 2 tháng 9 Benaroya Hall[13] Seattle
2013 Thụy Điển Alliance[14] 2.874.380 $ 7–11 tháng 8
2014 Trung Quốc Newbee[15] 10.923.977 $ 18–21 tháng 7 KeyArena[16]
2015 Hoa Kỳ Evil Geniuses[17] 18.429.613 $ 3–6 tháng 8
2016 Trung Quốc Wings Gaming[18] 20.770.460 $ 3–13 tháng 8
2017 Châu Âu Team Liquid[19] 24.787.916 $ 7–12 tháng 8
2018 Châu Âu OG[20] 25.532.177 $ 20–25 tháng 8 Rogers Arena[21] Vancouver
2019 Châu Âu OG[22] 34.307.920 $ 20–25 tháng 8 Mercedes-Benz Arena[23] Shanghai
2020 Chưa diễn ra Stockholm[24]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

2011[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 8 năm 2011, Valve Corporation công bố tổ chức giải đấu vô địch thế giới The International lần thứ nhất. 16 đội chơi nhận vé mời trực tiếp tham gia giải đấu với hệ thống chiếu trực tuyến 4 ngôn ngữ Anh, Trung, Đức và Nga. Đây cũng là giải đấu thể thao điện tử đầu tiên công chúng có thể mua vé tới xem trực tiếp. Kinh phí và tiền thưởng 1 triệu $ cho đội vô địch hoàn toàn do Valve cung cấp, bên cạnh Nvidia tài trợ thiết bị[25][26]. Giải đấu diễn ra tại khu tổ hợp Gamescom, thuộc sân vận động Koelnmesse tại thành phố Cologne, Đức từ ngày 17 tới ngày 21 tháng 8[11].

Giải đấu được tổ chức theo thể thức loại trực tiếp 2 nhánh[27]. Ở trận chung kết, đội Natus Vincere tới từ Ukraina đã đánh bại EHOME từ Trung Quốc với tỉ số 3-1[28]. Á quân EHOME nhận phần thưởng trị giá 250.000 $[29].

Sự kiện này sau này được biên tập thành bộ phim tài liệu Free to Play, kể về cuộc đời ba ngôi sao của giải đấu là Benedict "hyhy" Lim, Danil "Dendi" Ishutin, và Clinton "Fear" Loomis[30].

2012[sửa | sửa mã nguồn]

Trận chung kết The International 2012 tại Benaroya Hall, Seattle, Washington.

Giải vô địch The International 2012 được công bố vào tháng 5 tại sự kiện PAX Prime[31]. Giải đấu được tổ chức tại nhà thi đấu Benaroya Hall tại Seattle từ ngày 31 tháng 8 tới ngày 2 tháng 9[32]. Tổng giá trị giải thưởng vẫn được giữ nguyên ở mức 1,6 triệu $ với 1 triệu $ cho đội vô địch[33][34].

Ở trận chung kết, đội Invictus Gaming tới từ Trung Quốc đã đánh bại nhà đương kim vô địch Natus Vincere với tỉ số 3-1[35]. Video tài liệu về giải đấu được Valve phát hành vào tháng 11 cùng năm với đầy đủ phỏng vấn và các sự kiện bên lề[36].

2013[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 23 tháng 4 năm 2013, Valve thông báo chính thức về việc tổ chức lần thứ 3 giải vô địch The International. Giải đấu tiếp tục được tổ chức tại Benaroya Hall từ ngày 7-11 tháng 8. Đương kim vô địch Invictus Gaming là đội đầu tiên được nhận vé mời chính thức, tiếp theo là 12 đội chơi xuất sắc nhất trên toàn thế giới. 3 đội chơi còn lại là 3 đội giành chiến thắng trong các vòng loại khu vực và vòng loại trực tiếp trước thềm giải đấu[37].

Ngày 6 tháng 5, Valve lần đầu tiên giới thiệu giao diện "Compendium" trong trò chơi Dota 2. Người chơi trực tiếp mua các vật dụng và 1/4 số tiền sẽ được đóng góp vào tiền thưởng cho giải đấu, bên cạnh 1,6 triệu $ từ Valve[38]. Với sản phẩm mới này, The International tiếp tục trở thành giải đấu thể thao điện tử giá trị nhất thế giới với tổng giá trị lên tới 2,8 triệu $, phá kỷ lục giải Chung kết thế giới Liên Minh Huyền Thoại mùa 2 vừa diễn ra trước đó không lâu[39]. Người dẫn chương trình của đài KCPQ Kaci Aitchison được chọn làm trưởng ban tổ chức, kiêm nhiệm phụ trách bình luận và phỏng vấn trước và sau trận đấu[40]. Hơn 1 triệu người đã theo dõi The International 2013 trên các ứng dụng trực tuyến như Twitch.tv[41].

Natus Vincere lần thứ ba liên tiếp lọt vào trận chung kết, tuy nhiên họ đã để thua 3-2 trước đội Alliance tới từ Thụy Điển.

2014[sửa | sửa mã nguồn]

The International 2014 được tổ chức tại nhà thi đấu Key Arena tại Seattle từ ngày 18-21 tháng 7[42]. Ngoài 11 đội chơi nhận vé mời trực tiếp từ Valve, 5 đội chơi còn lại là các đội giành chiến thắng ở vòng loại khu vực và vòng loại trực tiếp trước thềm giải đấu[43]. Toàn bộ vé theo dõi giải đấu tại Seattle được bán hết chỉ trong vòng 1 giờ[44]. Giải đấu tiếp tục nhận tiền hỗ trợ từ cộng đồng, và phá vỡ giá trị giải thưởng với 10,9 triệu $[45]. Sau giải đấu, 6 vận động viên Dota 2 đã trở thành những vận động viên thu nhập cao nhất lịch sử thể thao điện tử[46]. Đây cũng là lần đầu tiên The International được truyền hình trực tiếp qua hệ thống của ESPN[47].

Ở trận chung kết toàn Trung Quốc đầu tiên, đội Newbee đã đánh bại Vici Gaming với tỉ số 3-1.

2015[sửa | sửa mã nguồn]

2016[sửa | sửa mã nguồn]

2017[sửa | sửa mã nguồn]

2018[sửa | sửa mã nguồn]

2019[sửa | sửa mã nguồn]

Đại sảnh Danh vọng Dota 2[sửa | sửa mã nguồn]

Dota 2 Hall of Fame do Valve chính thức ghi danh 5 thành viên của đội giành chức vô địch The International. Kể từ khi The International được bán dưới dạng "Compendium" vào năm 2013, tên của 5 thành viên được vinh danh tại "Tấm khiên bất tử" (Aegis of Champions) – tượng trưng cho Cúp vô địch – và trong nội dung trò chơi.

Năm Đội Thành viên 1 Thành viên 2 Thành viên 3 Thành viên 4 Thành viên 5
The International 2011 Ukraina Natus Vincere Ukraina Alexander "XBOCT" Dashkevich Ukraina Ivan "ArtStyle" Antonov (C) Ukraina Danil "Dendi" Ishutin Estonia Clement "Puppey" Ivanov Nga Dmitriy "LighTofHeaveN" Kupriyanov
The International 2012 Trung Quốc Invictus Gaming Trung Quốc Chen "Zhou" Yao (C) Trung Quốc Fei Chi "Ferrari 430" Luo Trung Quốc Jiang "YYF" Cen Malaysia Wong "ChuaN" Hock Chuan Trung Quốc Zeng "Faith" Hongda
The International 2013 Thụy Điển Alliance Thụy Điển Jonathan "LodA" Berg Thụy Điển Gustav "s4" Magnusson (C) Thụy Điển Henrik "AdmiralBulldog" Ahnberg Thụy Điển Joakim "Akke" Akterhall Thụy Điển Jerry "EGM" Lundkvist
The International 2014 Trung Quốc NewBee Trung Quốc Chen "Hao" Zhihao Trung Quốc Zhang "Mu" Pan Trung Quốc Zhang "xiao8" Ning (C) Trung Quốc Wang "Banana" Jiao Trung Quốc Wang "SanSheng" Zhaohui
The International 2015 Hoa Kỳ Evil Geniuses Hoa Kỳ Clinton "Fear" Loomis Pakistan Syed Sumail "Suma1L" Hassan Hoa Kỳ Saahil "UNiVeRsE" Arora Canada Kurtis "Aui_2000" Ling Hoa Kỳ Peter "ppd" Dager (C)
The International 2016 Trung Quốc Wings Gaming Trung Quốc Chu "Shadow-" Zeyu Trung Quốc Zhou "bLink" Yang Trung Quốc Zhang "Faith_Bian" Ruida Trung Quốc Zhang "y`Innocence" Yiping (C) Trung Quốc Li "iceice" Peng
The International 2017 Liên minh châu Âu Team Liquid Phần Lan Lasse "MATUMBAMAN" Urpalainen Jordan Amer "Miracle–" Al-Barkawi Bulgaria Ivan Borislavov "MinD_ContRoL" Ivanov Liban Maroun "Gh" Merhej Đức Kuro "KuroKy" Salehi Takhasomi (C)
The International 2018 Liên minh châu Âu OG Úc Anathan "ana" Pham Phần Lan Topias Miikka "Topson" Taavitsainen Pháp Sébastien "Ceb" Debs Phần Lan Jesse "JerAx" Vainikka Đan Mạch Johan "N0tail" Sundstein (C)
The International 2019 Liên minh châu Âu OG Úc Anathan "ana" Pham Phần Lan Topias Miikka "Topson" Taavitsainen Pháp Sébastien "Ceb" Debs Phần Lan Jesse "JerAx" Vainikka Đan Mạch Johan "N0tail" Sundstein (C)

* Chú thích: Thứ tự thành viên được ghi theo trò chơi trong thời gian diễn ra The International; tên trong ngoặc kép và in đậm là tên mà người chơi sử dụng; (C) là đội trưởng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Reilly, Jim (1 tháng 8 năm 2011). “Valve Goes Big with Dota 2 Tournament”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2012. 
  2. ^ Savov, Vlad. “Valve is rebooting its Dota 2 tournaments for a more democratic and 'organic' approach”. The Verge. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2017. 
  3. ^ Gach, Ethan. “Valve Announces Big Changes To Dota 2's Tournament Structure Going Forward”. Kotaku. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2017. 
  4. ^ Erzberger, Tyler. “The International prize pool, a history”. ESPN. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  5. ^ Rose, Victoria. “The International’s prize pool is, once again, the biggest in esports history”. The Flying Courier. Polygon. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2017. 
  6. ^ Parker, Jason. “How to watch Dota 2's The International, the biggest esports event of the year”. CNET. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2018. 
  7. ^ “Dota 2 - Aegis of Champions”. Dota 2. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2016. 
  8. ^ Kharpal, Arjun; Roy Choudhury, Saheli. “Pro video gamers are making millions by age 30 in the booming world of 'esports'. CNBC. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2018. 
  9. ^ Stubbs, Mike. “Dota 2's $100 million milestone, visualised”. redbull.com. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2017. 
  10. ^ S. Good, Owen. “The International goes to China for 2019 championships”. Polygon. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2019. 
  11. ^ a ă Miozzi, CJ (1 tháng 8 năm 2011). “Valve Announces DOTA 2 Gamescom Tournament”. Game Front. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  12. ^ Cybercube. “The end of Na Vi reign: Invictus Gaming champions team then and now”. Medium.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2019. 
  13. ^ Hafer, T.J. (11 tháng 5 năm 2012). “The International Dota 2 Championships 2012 to be held at PAX Prime this August”. PC Gamer. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  14. ^ Pitcher, Jenna. “The International attracts more than 1 million viewers”. Polygon. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2019. 
  15. ^ Gies, Arthur. “Dota 2 team Newbee just won The International 4 — along with the largest eSports prize pool in history”. Polygon. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2019. 
  16. ^ Williams, Katie (31 tháng 3 năm 2014). “Valve Announces Dates, Location, and Ticket Prices for The International 2014”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  17. ^ Dator, James. “Evil Geniuses win The International Dota 2 Championship 2015”. SB Nation. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2019. 
  18. ^ Walker, Dylan (13 tháng 8 năm 2016). “Wings Gaming wins the Dota 2 International 2016, nearly $10 million in prize money”. Yahoo! esports. Yahoo!. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  19. ^ Rose, Victoria (12 tháng 8 năm 2017). “How Team Liquid swept The International 2017 Grand Finals for the $10.8M prize”. PC Gamer. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  20. ^ Gach, Ethan. “Tournament Underdogs Won This Year's Dota 2 International”. Kotaku. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2018. 
  21. ^ Rose, Victoria. “The International 8 to take place August 20–25 in Vancouver”. The Flying Courier. Polygon. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  22. ^ Michael, Cale (25 tháng 8 năm 2019). “OG make history by beating Team Liquid and winning The International 2019”. Shack News. 
  23. ^ Mejia, Ozzie. “The Dota 2 International 9 will take place in Shanghai, China”. ShackNews. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2018. 
  24. ^ Michael, Cale. “The International 2020 will be held in Stockholm”. Dot Esports. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2019. 
  25. ^ Sullivan, Lucas (1 tháng 8 năm 2011). “Valve to hold $1,000,000 Dota 2 tournament at Gamescom”. PC Gamer. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  26. ^ Senior, Tom (10 tháng 8 năm 2011). “Dota 2 Gamescom tournament to be streamed live on Dota2.com”. PC Gamer. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  27. ^ Senior, Tom (17 tháng 8 năm 2011). “Dota 2: the tournament so far...”. PC Gamer. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  28. ^ Schiller, Jen (23 tháng 8 năm 2011). “First Ever Dota 2 Championship Winner Revealed”. Kotaku. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  29. ^ O'Connor, Alice (22 tháng 8 năm 2011). “Dota 2 tournament $1 million finals won by Na'vi”. Shack News. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  30. ^ Albert, Brian (21 tháng 3 năm 2014). Free to Play review”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  31. ^ Hafer, T.J. (11 tháng 5 năm 2012). “The International Dota 2 Championships 2012 to be held at PAX Prime this August”. PC Gamer. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  32. ^ Schreier, Jason (4 tháng 9 năm 2012). “Dota Dispatch: Watching People Play Video Games For $1.6 Million”. Kotaku. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  33. ^ Senior, Tom (11 tháng 6 năm 2012). “Dota 2 International 2012 tickets go on sale tomorrow”. PC Gamer. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  34. ^ Nunneley, Stephany (31 tháng 8 năm 2012). “The International Dota 2 Championships 2012 begins at PAX Prime”. VG247. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  35. ^ Sarkar, Samit (4 tháng 9 năm 2012). “Dota 2 International tournament 2012 winners round-up”. Polygon. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  36. ^ Lahti, Evan (16 tháng 11 năm 2012). “Dota 2 - The International 2 documentary video released by Valve”. PC Gamer. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  37. ^ Dota Team (26 tháng 4 năm 2013). “The International”. Valve Corporation. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  38. ^ Malloroy, Jordan (7 tháng 5 năm 2013). “Dota 2 introduces 'Interactive Compendium' tournament companion”. Joystiq. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  39. ^ Martin (16 tháng 5 năm 2013). “Dota 2's The International 3 reaches $2m prize pool”. GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  40. ^ O' Connor, Alice (9 tháng 8 năm 2013). “Watch Dota 2's The International tournament this weekend”. Shack News. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  41. ^ Makuch, Eddie (13 tháng 8 năm 2013). “The International hits 1 million concurrent viewers”. GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  42. ^ Williams, Katie (31 tháng 3 năm 2014). “Valve Announces Dates, Location, and Ticket Prices for The International 2014”. IGN. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  43. ^ Gaston, Martin (1 tháng 4 năm 2014). “The International 2014 sells out in an hour”. GameSpot. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  44. ^ Breslau, Rod (5 tháng 4 năm 2014). “Valve announces dates for Dota 2 tournament The International 2014”. onGamers. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  45. ^ Vas, Gergo (26 tháng 6 năm 2014). “Dota 2 Tournament Prize Pool Exceeds $10 Million”. Kotaku. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  46. ^ “Dota 2 takes the Top 8 Spots in Gaming Earnings”. Neutral Creeps - Dota 2 News From Around The World. 24 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 8 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  47. ^ Jul 18, 2014, Valve Press Release, International Dota 2 Championships on ESPN Networks Lưu trữ July 19, 2014, tại Wayback Machine., Steam

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]