Antonov An-2

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
An-2 / Y-5
An-2 RB1.jpg
An-2 thuộc Không quân Ba Lan
Kiểu Máy bay nông nghiệpđa dụng cất hạ cánh đường băng ngắn
Hãng sản xuất Antonov
WSK PZL-Mielec
Shijiazhuang
Chuyến bay đầu tiên 31 tháng 8-1947
Được giới thiệu 1949
Tình trạng Sản xuất hàng loạt tại Trung Quốc với tên gọi Y-5
Hãng sử dụng chính Flag of the Soviet Union.svg Không quân Xô viết
Flag of the Soviet Union.svg Aeroflot
Flag of North Korea.svg Không quân Bắc Triều Tiên
Và nhiều quốc gia khác
Được chế tạo 1947-1992
Số lượng được sản xuất 18.000
Chi phí máy bay 30.000 USD
Những phương án tương tự Antonov An-3

Antonov An-2 (nickname tiếng Nga: кукуру́зник kukuruznik - một nông trang viên trồng ngô (kế thừa từ Polikarpov Po-2) cũng được gọi là Annushka; tên hiệu NATO Colt) là một loại máy bay hai tầng cánh nhẹ, một động cơ, có độ tin cậy rất cao, cất cánh lần đầu năm 1947 và là máy bay đầu tiên được thiết kế bởi Antonov. Nó được sử dụng như một máy bay vận tải hạng nhẹ, có thể chở 12 hành khách, và để chở các đơn vị lính dù cũng như hoạt động trong nông nghiệp. Khả năng bay rất chậm và cất hạ cánh đường băng ngắn của nó khiến nó rất thích hợp để hoạt động tại các đường băng ngắn và dã chiến, và một số biến thể đặc biệt của nó đã được chế tạo để hoạt động tại các điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Sách Kỷ lục Guinness đã ghi kỷ lục An-2 là máy bay được chế tạo với thời gian lâu nhất - 45 năm.

Sử dụng và đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

An-2 tư nhân tại Triển lãm hàng không Miramar.

An-2 là loại máy bay hai tầng cánh một động cơ lớn nhất từng được chế tạo. Nó được sản xuất với số lượng lớn; tới năm 1960 hơn 5.000 chiếc đã được sản xuất tại Liên bang Xô viết. Từ năm 1960, đa số An-2 được sản xuất tại nhà máy WSK của Ba Lan tại Mielec, với hơn 13.000 nghìn chiếc đã được chế tạo trước khi hoạt động này chấm dứt năm 1991. Chế tạo hạn chế từ các chi tiết tồn và chi tiết dành cho bảo dưỡng vẫn tiếp tục. An-2 cũng được chế tạo theo giấy phép tại Trung Quốc với tên gọi Shijiazhuang Y-5. Đây là loại máy bay hai tầng cánh lớn nhất vẫn hoạt động.

An-2 được thiết kế như một máy bay đa dụng để sử dụng tại các lâm trường và nông trường nhà nước. Tuy nhiên, khung sườn căn bản rất dễ thích nghi và nhiều biến thể khác đã được phát triển. Chúng gồm cả các phiên bản phun thuốc trừ sâu, các phiên bản khoa học để lấy mẫu khí quyển, chữa cháy rừng, bay cứu thương, các phiên bản dạng thủy phi cơ, phiên bản quân sự trang bị nhẹ để đổ quân dù, và tất nhiên cả phiên bản An-2T thường thấy, là loại máy bay chở khách 12 chỗ ngồi. Tất cả các phiên bản (ngoài loại An-3) có công suất động cơ 1000 sức ngựa với động cơ xuyên tâm 9 xi lanh siêu nạp Shvetsov ASh-62 được phát triển từ loại Wright R-1820.

An-2 tư nhân tại Warsaw

An-2 có các đặc tính thiết kế khiến nó thích hợp hoạt động tại các vùng xa xôi với các đường băng đất:

  • Nó có một hệ thống phanh khí (tương tự như hệ thống được sử dụng trên các ô tô tải nặng) cho phép dừng trên đường băng ngắn.
  • Nó có một air line tích hợp vào máy nén, vì thế áp suất trong lốp và những giảm chấn có thể được xử lý mà không cần thiết bị đặc biệt khác.
  • Các ắc quy lớn và dễ tháo lắp, có nghĩa chiếc máy bay không cần máy phát điện phụ dưới mặt đất.
  • Không cần bơm ngoài để nạp nhiên liệu cho máy bay, bởi nó có sẵn một bơm trong khoang cho phép nạp nhiên liệu từ các bình chứa thông thường.
  • Nó có các hệ thống được đơn giản hóa tối đa. Tấm đầu mút cánh giúp máy bay hoạt động ở tốc độ tối thiểu hoàn toàn tự động, được dòng khí giữ chặt vào cánh. Khi tốc độ giảm dưới 64 km/h (40 mph) các tấm sẽ mở ra bởi chúng được lắp trên những thanh cao su đàn hồi.
  • Chạy đà cất cánh: 170 m, chạy đà hạ cánh: 215 m (có thể khác biệt tùy theo trọng lượng).
An-2 tư nhân Lithuania

Một dòng ghi chú đáng lưu ý trong sổ tay của phi công viết: "Nếu động cơ ngừng hoạt động khi bạn đang bay trong điều kiện chỉ điều khiển máy bay nhờ dụng cụ (bay mù khi bạn không nhìn thấy mặt đất) hay vào ban đêm, phi công cần kéo cần điều khiển hết cỡ về phía sau (máy bay sẽ không chòng chành) và giữ vững tư thế cánh. Những tấm đầu mút cánh sẽ nhả ra ở tốc độ khoảng 64 km/h (40 mph), và khi máy bay chỉ còn bay với tốc độ khoảng 40 km/h [25 mph], nó sẽ rơi xuống với tốc độ tương đương hạ cánh bằng dù cho tới khi chạm đất."

Trong sổ tay hướng dẫn của An-2 không ghi tốc độ chòng chành (stall speed) (tốc độ chòng chành là tốc độ ở đó máy bay bay quá chậm khiến dòng không khí không thể giữ nó trên cao). Các phi công An-2 nói rằng máy bay có thể hoạt động ở tình trạng hoàn toàn điều khiển được ở tốc độ 30 dặm trên giờ (trái lại, một chiếc Cessna hiện đại 4 chỗ có tốc độ chòng chành khoảng 55 dặm trên giờ). Tốc độ chòng chành thấp này cho phép máy bay có thể bay lùi (nếu máy bay hướng về một luồng không khí nóng, có tốc độ 35 dặm trên giờ, nó sẽ bay lùi với tốc độ 5 dặm trên giờ và vẫn ở tình trạng hoàn toàn điều khiển được). (Điều này tất nhiên cũng đúng với hầu như tất cả các loại máy bay cất hạ cánh đường băng ngắn (STOL).)

Một chiếc An-2 tư nhân khác tại Anh Quốc.

Từ khi Liên bang Xô viết và các nước Đông Âu tan rã, đa số các hãng hàng không tại các nước này đã cho những chiếc An-2 của họ ngừng hoạt động (một số chiếc đã hơn 40 năm tuổi). Những chiếc máy bay này vẫn được một số tư nhân sử dụng. Sự ổn định, khả năng và tốc độ bay thấp của nó khiến An-2 rất thích hợp làm máy bay thả dù.

Đầu thập niên 1980 Antonov đã thử nghiệm một phiên bản An-2 mới được trang bị động cơ tuốc bin cánh quạt hiện đại. Với động cơ Glushenkov 1450 sức ngựa này, chiếc máy bay có thể hoạt động xa hơn. Xem bài viết về Antonov An-3 để biết thêm chi tiết.

Tuy có độ ồn cao, chi phí bảo dưỡng và tiêu thụ nhiên liệu lớn, nhưng sự đơn giản (thời gian kiểm tra trước khi bay chỉ mất 30 đến 40 phút) khiến chúng không thích hợp hoạt động ở Châu Âu, số lượng máy bay chế tạo lớn đồng nghĩa với giá thấp (chỉ 30.000 USD cho một chiếc có thể hoạt động). Điều này biến nó trở thành loại máy bay lý tưởng cho thế giới đang phát triển, nơi khả năng chở nặng và hoạt động trên những đường băng ngắn được nhiều hãng hàng không giá rẻ khai thác. Nhiều chiếc An-2 cũ của Aeroflot hiện được dùng làm máy bay chở khách tầm ngắn tại Châu Phi, Trung và Nam Mỹ, Cuba và tiểu lục địa Ấn Độ.

Hryvna Ukraine thể hiện một chiếc An-2.

Bắc Triều Tiên có một số chiếc máy bay loại này.[1] Mọi người tin rằng cánh quạt gỗ cộng cánh vải trên những biến thể An-2 (phiên bản Y-5 sản xuất theo giấy phép tại Trung Quốc) khiến chúng có diện tích phản hồi radar nhỏ, và vì thế tăng khả năng tàng hình.[2] Trong cuộc chiến chúng có thể được dùng để thả lực lượng dù tinh nhuệ phục vụ các chiến dịch phá hoại sau giới tuyến.

Khả năng của An-2, cùng các đặc tính ngoại hình và bay, và vị thế là 'Máy bay hai tầng cánh lớn nhất thế gới' đồng nghĩa nhu cầu với loại máy bay này đang gia tăng tại Hoa Kỳ và Châu Âu. Điều này khiến An-2 thường xuyên xuất hiện tại các cuộc triển lãm hàng không. Tuy nhiên, hầu như tại tất cả các nước phương Tây (Hoa Kỳ, Canada, Anh Quốc, Pháp, Đức vân vân) An-2 không thể được sử dụng trong thương mại (dù tiềm năng rõ ràng của nó trong hoạt động như một bush plane và máy bay thả dù). Điều này bởi vì chiếc máy bay chưa hề được cấp chứng nhận bởi cơ quan hữu trách tại các quốc gia có hạn chế sử dụng nó. Các quy định này khác biệt theo từng nước, nhưng tất cả đều không chấp nhận cho sử dụng An-2 vào mục đích 'thu lợi nhuận'. Tại Hoa Kỳ, những chiếc An-2 đã được nhập khẩu từ năm 1993 không được bay quá 300 dặm từ sân bay xuất phát, và chúng chỉ có thể quay về hạ cánh trên sân bay cất cánh; tuy nhiên, những chiếc An-2 do PZL chế tạo là ngoại lệ bởi một thỏa thuận song phương với Ba Lan.

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Antonov An-2E WIG

Nguồn: [3] [4] [5] [6]

Phiên bản Xô viết/Nga[sửa | sửa mã nguồn]

  • SKh-1 — tên định danh đầu tiên của An-2
  • An-2F — máy bay thực nghiệm quan sát pháo binh với cánh đuôi kép, vị trí người quan sát dưới thân và súng máy bảo vệ đặt trên lưng [7]
  • An-2L — máy bay cứu hỏa bằng hóa chất
  • An-2LVLesnoj Vodnyj (thủy phi cơ), chữa cháy
  • An-2Ppassazhirskij, phiên bản chở khách
  • An-2Pprotivopozharnij, chữa cháy bằng nước
  • An-2S — cứu thương
  • An-2V — phiên bản hoạt động trên biển, cũng được gọi là An-4[8]
  • An-2VA — thả nước
  • An-2ZAZondirovanie Atmosfery (thu thập mẫu khí quyền), nghiên cứu thời tiết trên độ cao lớn (cũng được gọi là An-6 Meteo)[9]
  • An-2EEkranoplan cải tiến (tiếng Nga: Ан-2Э) [10] [11]

Phiên bản Nga/Ukraine[sửa | sửa mã nguồn]

  • An-3 — Loại mới sản xuất với động cơ tuốc binh cánh quạt phát triển từ An-2.

Phiên bản Ba Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Antonov An-2 với dấu hiệu Ba Lan
  • An-2 Geofiz — mô hình địa vật lý Geofiz
  • An-2D5 — phiên bản chở VlP 5 chỗ
  • An-2D6 — phiên bản chở VlP 6 chỗ
  • An-2T — Phiên bản Ba Lan của kiểu An-2 đầu tiên
  • An-2M hay An-2W — Phiên bản Ba Lan của kiểu An-2V thủy phi cơ [12]
  • An-2P — phiên bản chở khách với hệ thống cách âm tốt hơn
  • An-2PK — Chở VlP 5 chỗ
  • An-2P-Photo — sửa đổi để làm nhiệm vụ chụp ảnh
  • An-2PR hay An-2PRTV — tiếp sóng TV
  • An-2PF — Phiên bản chụp ảnh
  • An-2R — phiên bản nông nghiệp
  • An-2S — cứu thương với 6 chỗ
  • An-2TD — phiên bản nhảy dù 12 chỗ
  • An-2TP — chở khách/hàng hoá, được sửa đổi từ An-2TD
  • An-2TPS — phiê bản cứu thương xuất phát từ An-2TP vào năm 1974
  • An-3M — nguyên mẫu với động cơ phản lực cánh quạt TWD-20 (1054 kW/1432 KM) chế tạo với một số bộ phận của PZL-106 Kruk
  • Lala-1 — phiên bản thực nghiệm với các chi tiết được sửa đổi, được dùng làm kiểu phát triển cho máy bay nông nghiệp M-15 Belphegor.[13] [14] Pictures [15] [16] [17]

Phiên bản Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Y-5 — Phiên bản Trung Quốc của An-2, ban đầu được chế tạo theo kế hoạch và dưới sự giám sát của cố vấn Xô viết.[18]
  • Y-5A — Phiên bản được sản xuất với số lượng lớn đầu tiên tại Trung Quốc, chở khách hạng nhẹ [19]
  • Y-5B — Phiên bản cải tiến với hệ thống điện tử đã được nâng cấp và một động cơ mới, được chế tạo để chở quân dù [20]
  • Y-5C — Phiên bản hoạt động cả trên mặt đất và mặt nước của Y-5A [21]
  • Y-5D — Huấn luyện phi công ném bom

Antonov An-4[sửa | sửa mã nguồn]

Antonov An-4 là tên gọi của phòng thiết kế cho An-2ZA, một phiên bản của An-2 dự định cho vai trò đặc biệt là nghiên cứu khí tượng học trên cao với một vị trí bọc kính ngay sau đuôi đứng cho một người theo dõi. Hậu tố ZA có nghĩa là Zondirovanie Atmosfery - air sampling. Động cơ ASh-62IR có một bộ phận tăng áp TK được đặt trên mạn phải của nắp đặy động cơ. Cách bố trí này cho phép An-4 giữ được công suất trên độ cao hơn 10.000 m. Mũ cánh quạt theo tiêu chuẩn mẫu của An-2 đã bị loại bỏ để giúp làm mát động cơ.

Antonov An-6[sửa | sửa mã nguồn]

Antonov An-6 "Meteo" (Tên hiệu NATO Colt) là một máy bay trinh sát thời tiết trên độ cao lớn của Xô viết dựa trên An-2. Nó có một buồng lái kính rất lớn ngay gần bộ phận ổn định đuôi.

Hoạt động chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thập niên 1960 một chiếc An-2 đã được sử dụng tham chiến với các đơn vị hải quân Nam Việt Nam và nó đã bị một chiếc F-4 Phantom II bắn hạ. An-2 cũng đã được dùng trong chiến tranh Việt Nam với vai trò đánh chặn hải quân. Biến thể này có hai ngư lôi "Skvall" bên dưới cánh [cần dẫn nguồn] và rất khó bị phát hiện bởi độ cao bay thấp. Thậm chí khi bị phát hiện cũng khó ngăn chặn nó bởi tốc độ bay chòng chành của nó chỉ là 135–160 km trên giờ (thấp hơn tốc độ hạ cánh của một chiếc máy bay phản lực rất nhiều).

Trong Chiến tranh giành độc lập Croatia năm 1991, một số chiếc Antonov An-2 cũ dùng rải hóa chất đã được chuyển đổi để mang bom và sử dụng trong các nhiệm vụ hỗ trợ bao vây thành phố Vukovar.

Bên sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các quốc gia sử dụng An-2 (không còn sử dụng màu sẫm)

Ngoài Aeroflot, Không quân Xô viết, và các lực lượng quân sự thuộc Khối Đông Âu, hàng chục quốc gia và hãng hàng không đã sử dụng An-2 trong vai trò dân sự và quân sự.

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

 Afghanistan
  • Không quân Afghan: Afghanistan có trên 12 chiếc An-2, bắt đầu hoạt động năm 1957. Một số hiện nay vẫn có thể sử dụng được.
 Albania
  • Không quân Albania: Albania có 13 chiếc bao gồm một số chiếc là phiên bản của Trung Quốc (Y-5). Hiện nay hầu hết đang bảo quan trong nhà kho.
 Angola
 Azerbaijan
 Belarus
 Bungary
 Campuchia
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
 Croatia
  • Không quân Croatia:
    • 27 Eskadrila Transportnih Zrakoplova: Sử dụng 7 An-2DT đến năm 2004 sau đó chuyển cho các câu lạc bộ hàng không.
 Cuba
  • Không quân Cách mạng Cuba: Mọi An-2 đều ngừng hoạt động.
    • 15. Regimiento de Transporte
    • 25. Regimiento de Transporte
    • 35. Regimiento de Transporte
Flag of the Czech Republic (bordered).svg Tiệp Khắc
Flag of East Germany.svg Đông Đức
Flag of Egypt.svg Ai Cập
 Estonia
Cờ của Gruzia Gruzia
Flag of Germany.svg Đức
  • Luftwaffe: Đức thừa hưởng các phi đội An-2 từ Đông Đức.
 Hungary
 Iraq
 Kyrgyzstan
 Lào
 Latvia
Flag of Lithuania.svg Litva
 Cộng hòa Macedonia
 Mali
Flag of Mongolia.svg Mông Cổ
 Nicaragua
Flag of North Yemen.svg Bắc Yemen
 CHDCND Triều Tiên

BBC thông báo rằng Bắc Triều Tiên có trên 300 chiếc hiện đang tạm ngừng sử dụng do thiếu nhiên liệu.[1]

 Ba Lan
 România
 Nga
 Serbia
 Somalia
 Liên Xô
  • Không quân Xô viết: Phi đội An-2 quân sự được chia cho các quốc gia độc lập sau khi Liên Xô tan rã.
 Sudan
 Syria
 Tajikistan
Flag of Tanzania.svg Tanzania
 Tunisia
 Turkmenistan
 Ukraina
 Uzbekistan
 Việt Nam
 Yemen

Phi đội An-2 thừa kế từ Bắc Yemen sau khi thống nhất.

Flag of SFR Yugoslavia.svg Nam Tư

Dân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Flag of East Germany.svg Đông Đức
 Ba Lan
 Nga
 Serbia
 Liên Xô
 Thổ Nhĩ Kỳ

Xấp xỉ 10 chiếc An-2 được hãng Turk Hava Kurumu mua vào đầu thập niên 1980. Hiện nay vẫn đang hoạt động trong vận tải và nhảy dù

Flag of SFR Yugoslavia.svg Nam Tư
JAT

Thông số kỹ thuật (An-2)[sửa | sửa mã nguồn]

Antonov An-2 3view.svg
Hình chiếu Antonov An-2..
Hình chiếu Antonov An-2T..

Đặc điểm riêng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi đoàn: 1-2
  • Sức chứa: 12 hành khách
  • Chiều dài: 12.4 m (40 ft 8 in)
  • Sải cánh:
    • Cánh trên: 18.2 m (59 ft 8 in)
    • Cánh dưới: 14.2 m (46 ft 9 in)
  • Chiều cao: 4.1 m (13 ft)
  • Diện tích cánh: 71.52 m² (ft²)
  • Trọng lượng rỗng: 3.300 kg (7.300 lb)
  • Trọng lượng cất cánh: 5.500 kg (12.000 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: n/a
  • Động cơ: 1× động cơ bố trí tròn tăng nạp Shvetsov ASh-62R, 1.000 hp (750 kW)

Hiệu suất bay[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ đề liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có cùng sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có tính năng tương đương[sửa | sửa mã nguồn]

Trình tự thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

A-40 - An-2 - An-3 - An-4 - An-6 - An-8

Danh sách[sửa | sửa mã nguồn]