Đơn vị hành chính cấp huyện

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Cấp huyện, theo phân cấp hành chính Việt Nam, là cấp hành chính thứ hai tại Việt Nam, dưới cấp tỉnh và trên cấp xã.

Bản đồ các đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam (trước năm 2008), trong đó: Đường màu trắng - ranh giới các đơn vị hành chính cấp huyện, màu xám đậm - ranh giới các đơn vị hành chính cấp tỉnh

Các đơn vị hành chính thuộc cấp huyện[sửa | sửa mã nguồn]

Theo phân cấp hành chính Việt Nam hiện nay, cấp huyện bao gồm quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương.

Quận[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Quận (Việt Nam)
Một con đường tại quận Hải An, thành phố Hải Phòng

Quận là đơn vị hành chính cấp huyện chỉ có ở các thành phố trực thuộc trung ương. Các quận tạo nên nội thành của các thành phố. Mỗi một quận lại được chia thành các phường.

Đến năm 2019, Việt Nam có 49 quận thuộc 5 thành phố trực thuộc trung ương.

Thị xã[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Thị xã (Việt Nam)
Bãi biển Dốc Lết tại thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa

Thị xã là một đơn vị hành chính cấp huyện có cả ở tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Thị xã được chia thành các phường ở nội thị và các xã ở ngoại thị.

Đến ngày 10 tháng 4 năm 2019, Việt Nam có 47 thị xã. Trong đó có 46 thị xã trực thuộc tỉnh và 1 thị xã thuộc thành phố trực thuộc trung ương (thị xã Sơn Tây thuộc thành phố Hà Nội). Có 1 thị xã là tỉnh lỵ của một tỉnh (thị xã Gia Nghĩa thuộc tỉnh Đắk Nông) và 46 thị xã không phải là tỉnh lỵ.

Huyện[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Huyện (Việt Nam)
Một con đường nông thôn ở huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, phía xa là núi Ba Thê

Huyện là đơn vị hành chính nông thôn có cả ở tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Dưới huyện là thị trấn (có thể có một hoặc nhiều, hoặc không có thị trấn nào) và các xã. Một số huyện đảo không phân chia thành các đơn vị hành chính cấp xã do có diện tích quá nhỏ hoặc dân cư quá ít, thay vào đó chính quyền cấp huyện trực tiếp quản lý tất cả các mặt của huyện đó.

Đến ngày 10 tháng 4 năm 2019, Việt Nam có 544 huyện, trong đó có 12 huyện đảo.

Thành phố trực thuộc tỉnh[sửa | sửa mã nguồn]

Đường Lê Lợi tại thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Thành phố trực thuộc tỉnh là đơn vị hành chính cấp huyện chỉ có ở các tỉnh. Một thành phố trực thuộc tỉnh có thể là tỉnh lỵ của một tỉnh hoặc không phải là tỉnh lỵ. Thành phố trực thuộc tỉnh được chia thành các phường ở nội thành và các xã ở ngoại thành.

Đến ngày 10 tháng 4 năm 2019, Việt Nam có 73 thành phố trực thuộc tỉnh, trong đó có 57 thành phố là tỉnh lỵ và 16 thành phố không phải là tỉnh lỵ.

Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương là một đơn vị hành chính cấp huyện chỉ có ở các thành phố trực thuộc trung ương, được đặt ra để thí điểm mô hình chính quyền đô thị mới tại thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương được chia thành các phường.

Hiện nay chưa có thành phố nào như thế được thành lập.

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Tại thời điểm 31 tháng 12 năm 2009, Việt Nam có 697 đơn vị hành chính cấp huyện.[1]

Tại thời điểm 10 tháng 4 năm 2019, Việt Nam có 713 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm: 73 thành phố trực thuộc tỉnh, 47 thị xã, 49 quận và 544 huyện.

Diện tích và dân số các đơn vị hành chính cấp huyện không đồng đều:

Về diện tích:

  • Trong số các thành phố trực thuộc tỉnh, Thành phố Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh có diện tích lớn nhất với 516,6 km², Thành phố Sầm Sơn thuộc tỉnh Thanh Hóa có diện tích nhỏ nhất với 44,94 km².
  • Trong số các thị xã, thị xã Ninh Hòa thuộc tỉnh Khánh Hòa có diện tích lớn nhất với 1.197,8 km², thị xã Cửa Lò thuộc tỉnh Nghệ An có diện tích nhỏ nhất với 27,8 km².
  • Trong số các quận, quận Ô Môn thuộc thành phố Cần Thơ có diện tích lớn nhất với 125,4 km², quận 4 thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích nhỏ nhất với 4,18 km².
  • Trong số các huyện, huyện Tương Dương thuộc tỉnh Nghệ An có diện tích lớn nhất với 2.811,92 km², huyện Thanh Trì thuộc thành phố Hà Nội có diện tích nhỏ nhất với 63,17 km² (nếu không tính 12 huyện đảo).
  • Trong số các huyện đảo, huyện Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang có diện tích lớn nhất với 589,4 km² (gấp gần 10 lần diện tích huyện Thanh Trì); huyện Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị có diện tích nhỏ nhất với chỉ 2,2 km², đồng thời là huyện có diện tích nhỏ nhất cả nước.

Về dân số:

Theo số dân:

Như thế, các thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận và huyện đông dân nhất đều thuộc Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh kế cận.

Theo mật độ dân cư:

  • Trong số các thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố Nam Định thuộc tỉnh Nam Định có mật độ dân cư cao nhất với 8.887 người/km2, thành phố Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh có mật độ dân cư thấp nhất với 172 người/km2.
  • Trong số các thị xã, thị xã Dĩ An thuộc tỉnh Bình Dương có mật độ dân cư cao nhất với 6.922 người/km2, thị xã Mường Lay thuộc tỉnh Điện Biên có mật độ dân cư thấp nhất 180 người/km2.
  • Trong số các quận, quận 4 thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có mật độ dân cư cao nhất với 50.765 người/km2, quận Ô Môn thuộc thành phố Cần Thơ có mật độ dân cư thấp nhất với 1310 người/km2.
  • Trong số các huyện, huyện Hóc Môn thuộc thành phố Hồ Chí Minh có mật độ dân cư cao nhất với 3860 người/km2, huyện Ia H'Drai thuộc tỉnh Kon Tum có mật độ dân cư thấp nhất với 13 người/km2 (nếu không tính 12 huyện đảo).
  • Trong số các huyện đảo, huyện Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi có mật độ dân cư cao nhất với 1.822 người/km2, huyện Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng có mật độ dân cư thấp nhất với 0 người/km2.

So với mật độ dân cư trung bình của Việt Nam (theo số liệu Điều tra dân số 1/4/2009) là 259 người/km2, một số thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã (đô thị loại IV trở lên) có mật độ dân cư thấp hơn khá nhiều.

Dự kiến điều chỉnh địa giới một số đơn vị hành chính cấp huyện[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Lào Cai[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Điện Biên[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Hà Giang[sửa | sửa mã nguồn]

  • Điều chỉnh địa giới hành chính xã Phong Quang, huyện Vị Xuyên để mở rộng thành phố Hà Giang.
  • Điều chỉnh địa giới hành chính một phần huyện Bắc Quang để thành lập thị xã Việt Quang và 2 phường Quang Vinh và Quang Thành thuộc thị xã Việt Quang.

Tỉnh Tuyên Quang[sửa | sửa mã nguồn]

  • Điều chỉnh địa giới hành chính 1 thị trấn và 2 xã thuộc huyện Yên Sơn (các xã Kim Phú, Phú Lâm và thị trấn Tân Bình) để mở rộng thành phố Tuyên Quang, hoàn thiện các tiêu chuẩn để trở thành đô thị loại II. Sáp nhập xã Đội Cấn vào thị trấn Tân Bình để thành lập phường Đội Cấn, thành lập phường Mỹ Lâm trên cơ sở xã Phú Lâm và phường An Tường trên cơ sở xã An Tường.
  • Điều chỉnh địa giới hành chính 1 thị trấn và 2 xã (thị trấn Na Hang, các xã Thanh TươngNăng Khả) thuộc huyện Na Hang để thành lập thị xã Na Hang và các phường thuộc thị xã Na Hang.

Tỉnh Phú Thọ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Điều chỉnh địa giới hành chính 3 xã thuộc huyện Thanh Ba (Đỗ Sơn, Đỗ Xuyên và Lương Lỗ), 2 xã thuộc huyện Tam Nông (Hiền Quan, Vực Trường) để mở rộng thị xã Phú Thọ, tiến tới thành lập thành phố Phú Thọ.

Tỉnh Yên Bái[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Lạng Sơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Quảng Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tái lập thị xã Tiên Yên và thành lập 6 phường thuộc thị xã Tiên Yên (Tiên Yên, Yên Than, Tiên Lãng, Hải Lạng, Đông Ngũ và Đông Hải) từ thị trấn Tiên Yên và các xã có tên tương ứng trên cơ sở giải thể huyện Tiên Yên hiện tại.

Tỉnh Bắc Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Hưng Yên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập thị xã Văn Giang và 6 phường (Cửu Cao, Long Hưng, Nghĩa Trụ, Phụng Công, Văn Giang và Xuân Quan) thuộc thị xã Văn Giang từ thị trấn Văn Giang và các xã có tên tương ứng thuộc huyện Văn Giang.

Tỉnh Hải Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Thái Bình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập các thị trấn Tiên Hưng và Đông Quan thuộc huyện Đông Hưng.
  • Thành lập thị trấn Vũ Quý thuộc huyện Kiến Xương.
  • Thành lập thị trấn Thái Ninh thuộc huyện Thái Thụy.
  • Thành lập thị trấn Nam Trung thuộc huyện Tiền Hải.

Tỉnh Thanh Hóa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hà Trung để mở rộng thị xã Bỉm Sơn, tiến tới thành lập thành phố Bỉm Sơn.
  • Điều chỉnh địa giới hành chính các xã, thị trấn thuộc huyện Tĩnh Gia để thành lập thị xã Tĩnh Gia (hoặc thị xã Nghi Sơn) và các phường thuộc thị xã Tĩnh Gia (hoặc thị xã Nghi Sơn). Nội thị của thị xã là khu vực thị trấn Tĩnh Gia mở rộng (nằm trong quy hoạch trung tâm hành chính và khu kinh tế Nghi Sơn) đã được công nhận đô thị loại III, tiến tới thành lập thành phố Tĩnh Gia (hoặc thành phố Nghi Sơn)
  • Thành lập thị xã Ngọc Lặc, đô thị trung tâm miền tây tỉnh Thanh Hóa từ huyện Ngọc Lặc hiện tại.

Tỉnh Nghệ An[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Quảng Nam[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập thị xã Núi Thành và 9 phường (Núi Thành, Tam Giang, Tam Quang, Tam Nghĩa, Tam Mỹ Đông, Tam Hiệp, Tam Anh Nam, Tam Anh Bắc và Tam Hòa) thuộc thị xã Núi Thành từ thị trấn Núi Thành và các xã có tên tương ứng, hướng đến trở thành đô thị loại III.

Tỉnh Quảng Ngãi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập thị xã Đức Phổ và 8 phường (từ thị trấn Đức Phổ và 7 xã Phổ Minh, Phổ Ninh, Phổ Hòa, Phổ Vinh, Phổ Quang, Phổ Văn và Phổ Thạnh) thuộc thị xã Đức Phổ trên cơ sở huyện Đức Phổ.

Tỉnh Bình Định[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập thị xã Hoài Nhơn và 11 phường (Bồng Sơn, Hoài Đức, Hoài Tân, Hoài Thanh Tây, Hoài Hảo, Hoài Thanh, Hoài Hương, Tam Quan, Tam Quan Bắc, Tam Quan Nam, Hoài Châu Bắc) từ 2 thị trấn Bồng Sơn, Tam Quan và các xã có tên tương ứng thuộc huyện Hoài Nhơn hiện tại.
  • Thành lập thị xã Tây Sơn và các phường thuộc thị xã Tây Sơn từ huyện Tây Sơn hiện tại.

Tỉnh Phú Yên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập thị xã Đông Hòa và 5 phường (Hòa Vinh, Hòa Hiệp Trung, Hòa Hiệp Bắc, Hòa Hiệp Nam, Hòa Xuân Tây) thuộc thị xã Đông Hòa từ huyện Đông Hòa hiện tại.

Tỉnh Khánh Hòa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Điều chỉnh địa giới hành chính 16 xã phía tây thị xã Ninh Hòa để thành lập huyện mới Tân Định và thành lập thị trấn Ninh Sim thuộc huyện Tân Định từ xã Ninh Sim.
  • Thành lập thị xã Diên Khánh và 10 phường thuộc thị xã Diên Khánh từ huyện Diên Khánh hiện tại.

Tỉnh Kon Tum[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập thị xã Ngọc Hồi và 4 phường (Chiên Chiết, Plei Kần, Đăk Mốt và Đăk Tráp) thuộc thị xã Ngọc Hồi từ huyện Ngọc Hồi hiện tại.

Tỉnh Gia Lai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Điều chỉnh địa giới hành chính huyện Chư Sê để thành lập thị xã Chư Sê và 5 phường thuộc thị xã Chư Sê.

Tỉnh Đắk Nông[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập phường Quảng Thành thuộc thị xã Gia Nghĩa và thành lập thành phố Gia Nghĩa thuộc tỉnh Đắk Nông.
  • Thành lập thị xã Kiến Đức và 6 phường thuộc thị xã Kiến Đức từ huyện Đắk R'lấp.
  • Thành lập thị xã Đức Lập và 6 phường thuộc thị xã Đức Lập từ huyện Đắk Mil.

Tỉnh Bình Thuận[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sáp nhập thị trấn Phú Long và 3 xã Hàm Hiệp, Hàm Liêm, Hàm Thắng của huyện Hàm Thuận Bắc; 2 xã Hàm Mỹ, Mương Mán của huyện Hàm Thuận Nam về thành phố Phan Thiết và chuyển thị trấn Phú Long, các xã Tiến Lợi, Phong Nẫm thành các phường có tên tương ứng.
  • Thành lập phường Tân Phước thuộc thị xã La Gi và thành lập thành phố La Gi thuộc tỉnh Bình Thuận.

Tỉnh Lâm Đồng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập thị xã Đức Trọng và 7 phường (1, 2, 3, 4, Liên Hiệp, Hiệp An và Hiệp Thạnh) thuộc thị xã Đức Trọng từ huyện Đức Trọng hiện tại.

Tỉnh Bình Phước[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập thị trấn Phú Hưng thuộc huyện Bù Gia Mập.
  • Thành lập thị trấn Bù Nho thuộc huyện Phú Riềng.

Tỉnh Bình Dương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập phường An Sơn thuộc thị xã Thuận An và thành lập thành phố Thuận An thuộc tỉnh Bình Dương.
  • Thành lập thành phố Dĩ An thuộc tỉnh Bình Dương trên cơ sở toàn bộ diện tích và dân số của thị xã Dĩ An.

Tỉnh Đồng Nai[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập thị trấn Long Giao thuộc huyện Cẩm Mỹ.
  • Thành lập thị xã Trảng Bom và các phường thuộc thị xã Trảng Bom từ huyện Trảng Bom hiện tại.
  • Thành lập thị xã Long Thành và các phường thuộc thị xã Long Thành từ huyện Long Thành hiện tại.

Tỉnh Tây Ninh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập thị xã Hoà Thành và các phường thuộc thị xã Hoà Thành từ huyện Hòa Thành hiện tại.
  • Thành lập thị xã Trảng Bàng và các phường thuộc thị xã Trảng Bàng từ huyện Trảng Bàng hiện tại.

Tỉnh Long An[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập các phường Lợi Bình Nhơn và Bình Tâm thuộc thành phố Tân An.
  • Thành lập thị xã Hậu Nghĩa và các phường thuộc thị xã Hậu Nghĩa từ huyện Đức Hòa hiện tại.
  • Thành lập thị xã Bến Lức và các phường thuộc thị xã Bến Lức từ huyện Bến Lức hiện tại.
  • Thành lập thị xã Cần Giuộc và các phường thuộc thị xã Cần Giuộc từ huyện Cần Giuộc hiện tại.
  • Thành lập thị xã Cần Đước và các phường thuộc thuộc thị xã Cần Đước từ huyện Cần Đước hiện tại.

Tỉnh Tiền Giang[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập các phường Đạo Thạnh, Mỹ Phong, Tân Mỹ Chánh và Trung An thuộc thành phố Mỹ Tho.
  • Thành lập các phường Long Chánh, Long Hòa, Long Hưng, Long Thuận thuộc thị xã Gò Công và thành lập thành phố Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang.

Tỉnh Đồng Tháp[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh An Giang[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập thị xã Tịnh Biên và 7 phường (Tịnh Biên, Nhà Bàng, Chi Lăng, An Phú, Thới Sơn, Văn Giáo và Vĩnh Trung) thuộc thị xã Tịnh Biên từ huyện Tịnh Biên hiện tại.

Tỉnh Hậu Giang[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập phường Hiệp Lợi thuộc thị xã Ngã Bảy và thành lập thành phố Ngã Bảy thuộc tỉnh Hậu Giang.
  • Điều chỉnh địa giới hành chính huyện Vị Thủy để mở rộng thành phố Vị Thanh, đáp ứng các tiêu chuẩn để thành phố trở thành đô thị loại II.

Tỉnh Sóc Trăng[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Cà Mau[sửa | sửa mã nguồn]

  • Điều chỉnh địa giới hành chính huyện Trần Văn Thời để thành lập thị xã Sông Đốc và các phường thuộc thị xã Sông Đốc.
  • Thành lập thị xã Năm Căn và các phường thuộc thị xã Năm Căn từ huyện Năm Căn hiện tại.

Tỉnh Kiên Giang[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thành lập thành phố Phú Quốc và 8 phường thuộc thành phố Phú Quốc.
  • Thành lập huyện đảo Thổ Châu trên cơ sở xã Thổ Châu thuộc huyện Phú Quốc.

Tổ chức mô hình chính quyền đô thị thành phố Hồ Chí Minh[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là một mô hình mới đang được xem xét thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh. Còn được biết với cái tên mô hình thành phố trong thành phố:[2]

(Các thành phố được thành lập là các thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương, một đơn vị hành chính cấp huyện)

  • Giữ nguyên các quận còn lại và một phần các quận, huyện được chia tách với tên gọi, tổ chức như cũ.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]