38628 Huya

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
38628 Huya
38628 Huya.png
Hình ảnh 38628 Huya, theo ấn tượng của hoạ sĩ.
Khám phá
Khám phá bởiIgnacio Ferrin
Nơi khám phá Llano del Hato
Ngày khám phángày 10 tháng 3 năm 2000
Tên chỉ định
Tên chỉ định38628 Huya
Phiên âm/hˈjɑː/ hoo-YAH-'
Đặt tên theo
Huya
2000 EB173
TNO
plutino
vật thể xa
Đặc trưng quỹ đạo
Kỷ nguyên JD 2458000.5
Viễn điểm quỹ đạo52.052 AU
Cận điểm quỹ đạo28.536 AU
Bán trục lớn39.794 AU
Độ lệch tâm0.2829
Độ bất thường trung bình3.6933 độ
Độ nghiêng quỹ đạo15.466 độ
Kinh độ của điểm nút lên169.25 độ
Acgumen của cận điểm67.890 độ
Vệ tinh tự nhiên1
Đặc trưng vật lý
Bán kính trung bình203 ±8 km
Chu kỳ tự quay5.28 h
Suất phản chiếu0.05
Kiểu phổB−V=0.95 ± 0.05
V−R=0.57 ± 0.09
Cấp sao biểu kiến19.3 (đối lập)
Cấp sao tuyệt đối (H)5.04 ± 0.03
5.37 ± 0.04
4.9

38628 Huya (định danh tạm thời: 2000 EB173) là một thiên thể ngoài Hải Vương tinhvành đai Kuiper trong vùng gần rìa của Hệ Mặt Trời.

Được khám phá bởi Ignacio Ferrín vào tháng 3 năm 2000, nó được đặt tên của Thần mưa Huya trong huyền thoại Nam Mỹ[1][2]. Huya là một plutino, ở một quỹ đạo cộng hưởng trung bình với Hải Vương tinh.[3] Đường kính của nó là khoảng 400 kilomet[4]. Người ta cho rằng nó là một hình tựa cầu với những vết anbêđô nhỏ[5]. Năm 2010, Gonzalo Tacredi cho rằng Huya có khả năng cao là một hành tinh lùn[6]. Tuy nhiên, vật thể tối với mật độ thấp khiến Huya ít có khả năng bị dồn nén thành vật thể rắn hoàn chỉnh[7].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khám phá[sửa | sửa mã nguồn]

Huya được khám phá vào ngày 10 tháng 3 năm 2000, bởi nhà thiên văn học người Venezuela Ignacio Ferrín. Sự khám phá được thông báo vào ngày 24 tháng 10 năm 2000. Vào thời gian này, nó được coi là vật thể ngoài Hải Vương tinh sáng nhất trên bầu trời được tìm thấy kể từ Diêm Vương tinh[8].

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Biều đồ cho thấy khoảng cách tới Mặt Trời của Huya, so sánh với Hải Vương tinhDiêm Vương tinh.

Hành tinh vi hình này được đặt theo tên của Huya (Yuyá), thần mưa của người Wayuu sống ở VenezuelaColombia. Việc đặt tên này được thông báo vào ngày 1 tháng 3 năm 2003.

Đặc điểm vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Kính viễn vọng Không gian Spitzer đã ước lượng Huya có đường kính khoảng 530 kilomet với anbêđô chỉ khoảng 0.05[9]. Huya có một độ dốc vừa phải quang phổ phản chiếu trong tầm nhìn và gần hồng ngoại, gợi ra một bề mặt giàu trong vật chất cơ bản như cao lanh. Có một đặc điểm hấp thụ rộng gần 2 micromet có thể thuộc về nước băng hoặc một số vật chất biến đổi của nước. Đặc điểm hấp thụ bổ sung có thể gần 0.6-0.8 micromet.

Quỹ đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Huya có 28.5 AU từ Mặt Trời và nó trở nên cùng điểm quỹ đạo vào tháng 12 năm 2014. Điều này có nghĩa là nó nằm trong quỹ đạo của Hải Vương tinh. Như Diêm Vương tinh, plutino này xài phần phần quỹ đạo của nó gần Mặt Trời hơn Hải Vương tinh, nhưng thậm chí quỹ đạo của chúng được điều khiển bời Hải Vương tinh. Huya sẽ gần Mặt Trời hơn Hải Vương tinh cho đến khoảng tháng 7 năm 2029. Thời kỳ quỹ đạo của Huya chưa được biết. Đến khoảng 10 triệu năm nữa, Huya có thể đạt được một điểm cận nhật chỉ khoảng 27.28 AU. Các plutino (15875) 1996 TP66(120214) 2004 EW95 thậm chí còn đến gần Mặt Trời hơn.

Vệ tinh tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Huya có một vệ tinh tự nhiên được biết đến hiện tại, được quan sát bởi Kính viễn vọng không gian Hubble vào ngày 6 tháng 5 năm 2012. Nó được khám phá bởi Keith S. Noll, William M. Grundy, Hilke E. Schlichting, Ruth Murray-Clayand và Susan D. Benecchi. Tên gọi ban đầu của nó là S/2012 38628 Huya 1. Nó có khoảng cách khoảng 1,800 kilomet từ cấp 1. Đường kính vào khoảng 230 ±30 km.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Schmadel, Lutz D. (2006). "(38628) Huya". Dictionary of Minor Planet Names – (38628) Huya, Addendum to Fifth Edition: 2003–2005. Springer Berlin Heidelberg. p. 205.
  2. ^ ''38628 Huya (2000 EB173'').
  3. ^ Buie, M. W. (22 April 2007). "Orbit Fit and Astrometric record for 38628. SwRI (Space Science Department). Retrieved 2008-07-17.
  4. ^ Fornasier, S.; Lellouch, E.; Müller, P., T.; et al. (2013). "TNOs are Cool: A survey of the trans-Neptunian region. VIII. Combined Herschel PACS and SPIRE observations of 9 bright targets at 70–500 µm". Astronomy & Astrophysics.
  5. ^ Tancredi, G.; Favre, S. (2008). "Which are the dwarfs in the Solar System?". Icarus. 195 (2): 851.
  6. ^ Tancredi, G. (2009). "Physical and dynamical characteristics of icy "dwarf planets" (plutoids)".
  7. ^ W.M. Grundy, K.S. Noll, M.W. Buie, S.D. Benecchi, D. Ragozzine & H.G. Roe, 'The Mutual Orbit, Mass, and Density of Transneptunian Binary Gǃkúnǁʼhòmdímà ((229762) 2007 UK126)', Icarus
  8. ^ Ferrin, Ignacio; Rabinowitz, D.; Schaefer, B.; Snyder, J.; Ellman, N.; Vicente, B.; Rengstorf, A.; Depoy, D.; Salim, S.; Andrews, P. (16 February 2001). "Discovery of the Bright Trans-Neptunian Object 2000 EB173".
  9. ^ Stansberry, J.; et al. (2007). "Physical Properties of Kuiper Belt and Centaur Objects: Constraints from Spitzer Space Telescope". In Barucci, M. A.; et al. (eds.). The Solar System Beyond Neptune.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]