Alexander Alekhine

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Alexander Alekhine
Alexandre Alekhine Color.jpg
Tên khai sinh Alexander Alexandrovich Alekhine
Quốc gia Nga
Pháp
Ngày sinh 31 tháng 10, 1892(1892-10-31)
Nơi sinh Moskva, Đế quốc Nga
Ngày mất 24 tháng 3, 1946 (53 tuổi)
Nơi mất Estoril, Bồ Đào Nha
Thành tích
Vô địch nam 1927–35
1937–46


Alexander Alexandrovich Alekhine, PhD (tiếng Nga: Алекса́ндр Алекса́ндрович Але́хин, phát âm [ɐlʲɪkˈsandr ɐlʲɪkˈsandrəvʲɪtɕ ɐˈlʲexʲɪn];[1] 31 tháng 10 [ 19 tháng 10] năm 1892 – 24 tháng 3 năm 1946) là vua cờ thứ tư. Ông thường được xem là một trong những kỳ thủ vĩ đại nhất trong lịch sử.

Khi vào tuổi 22, ông đã thuộc nhóm những kỳ thủ mạnh nhất thế giới. Trong suốt thập kỉ 1920, ông vô địch phần lớn các giải đấu mình tham dự. Năm 1927, ông trở thành vua cờ thứ tư sau khi đánh bại José Raúl Capablanca. Đó là trận tranh ngôi vô địch thế giới kéo dài nhất cho đến năm 1985.

Vào đầu thập niên 1930, Alekhine thống trị các giải đấu cờ và vô địch ở hai giải hàng đầu với số điểm cách biệt. Ông cũng ngồi bàn đầu tiên của đội tuyển Pháp dự 5 Olympiad cờ vua, mỗi giải đều có giải thưởng cá nhân (4 huy chương cá nhân và một giải thưởng đặc biệt). Alekhine từng đề nghị Capablanca một trận tái đấu với những điều kiện như Capablanca đã đặt ra cho ông, nhưng thương lượng không đi đến kết quả và trận tái đấu đó đã không xảy ra. Trong khi đó, Alekhine bảo vệ thành công danh hiệu vô địch một cách khá dễ dàng trước Bogoljubov năm 1929 và 1934. Ông thất bại trước Euwe năm 1935, nhưng sau đó đã lấy lại ngôi vua cờ vào năm 1937. Tuy nhiên, ở thời điểm đó, kết quả đấu giải của ông thất thường và các ngôi sao trẻ mới nổi như Keres, FineBotvinnik đã có ý định trở thành nhà thách đấu. Các cuộc đàm phán về một trận tranh ngôi vua cờ với Keres hoặc Botvinnik đã bị hoãn lại do Chiến tranh thế giới thứ hai diễn ra tại châu Âu năm 1939. Khi cuộc thương thuyết về trận tranh ngôi vua cờ với Botvinnik đang diễn ra năm 1946 thì Alekhine qua đời tại Bồ Đào Nha với nguyên nhân không rõ ràng.

Alekhine được biết tới với phong cách tấn công sáng tạo và sắc bén, kết hợp với kĩ năng cờ vị trí và tàn cuộc bậc thầy. Alekhine còn là một tác giả sách cờ và nhà lý thuyết được đánh giá cao, có nhiều sáng tạo đóng góp cho khai cuộc, được đặt tên cho Phòng thủ Alekhine và một số biến khai cuộc khác. Ông cũng là tác giả của một số bài tập tàn cuộc.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời thơ ấu[sửa | sửa mã nguồn]

Alekhine sinh ra trong một gia đình khá giả ở Moskva, Nga[2][3][4][5]. Cha ông Alexander Ivanovich Alekhine là một điền chủ và cũng là Privy Councilor to the conservative legislative Fourth Duma[6]. Mẹ ông, Anisya Ivanovna Alekhina (nhũ danh Prokhorova), là con gái của một kỹ nghệ gia giàu có. Alekhine được mẹ, và sau đó là các anh chị (Alexei và Varvara), hướng dẫn chơi cờ [7][8].

Khởi nghiệp (1902–14)[sửa | sửa mã nguồn]

Alekhine năm 1909

Ván đấu đầu tiên được biết đến của Alekhine là tại một giải cờ thư tín bắt đầu từ 3 tháng 12 năm 1902, khi ông mới là một cậu bé 10 tuổi. Ông còn tham gia vài giải cờ thư tín khác trong khoảng thời gian 1902–11. Năm 1907, Alexander thi đấu tại một giải cờ truyền thống đầu tiên. Đó là Giải Mùa xuân của câu lạc bộ cờ Moskva. Vào cùng năm đó, Alexander đồng hạng 11–13 tại giải cờ Mùa thu của câu lạc bộ. Anh trai của ông Alexei đứng đồng hạng 4–6 ở giải này. Năm 1908, Alexander vô địch giải cờ Mùa xuân khi mới chỉ 15 tuổi [9]. Năm 1909, ông vô địch Giải nghiệp dư toàn Nga tại Sankt-Peterburg. Trong vài năm sau đó, ông tham dự các giải đấu chất lượng hơn, một số giải ở nước ngoài. Ban đầu thì kết quả có thắng có thua, nhưng đến tuổi 16 thì ông đã khẳng định được mình là một trong những kỳ thủ Nga hàng đầu [10]. Ông ngồi bàn đầu tiên ở hai trận đấu đồng đội giao hữu giữa hai câu lạc bộ cờ vua Moskva và Sankt Peterburg năm 1911 và 1912 (cả hai ván đều hòa với Eugene Znosko-Borovsky) [11]. Đến cuối năm 1911, Alekhine chuyển tới Sankt Peterburg và vào Trường Luật Hoàng gia dành cho quý tộc. Vào thời điểm 1912, ông là kỳ thủ mạnh nhất trong cộng đồng cờ vua ở Sankt Peterburg. Tháng 3 năm 1912, ông vô địch Giải cờ mùa đông của câu lạc bộ Sankt Peterburg. Tháng 4 năm 1912, ông vô địch Giải cờ phân hạng đầu tiên của câu lạc bộ Sankt Peterburg [12]. Tháng 1 năm 1914, Alekhine vô địch giải cờ vua lớn đầu tiên tại Nga khi đồng hạng nhất với Aron Nimzowitsch tại Giải Kiện tướng toàn Nga ở Sankt-Peterburg. Sau đó, họ hòa nhau trong một trận đấu nhỏ để tranh giải nhất (mỗi kỳ thủ thắng một ván) [13]. Alekhine còn chơi một số trận đấu trong giai đoạn này và kết quả thường là có thắng có thua ban đầu nhưng sau thì chiếm ưu thế trước đối thủ.

Đại kiện tướng hàng đầu (1914–27)[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thời gian tháng 4-5 năm 1914, một giải cờ vua Sankt Peterburg quan trọng được tổ chức tại thủ đô của Đế quốc Nga. Alekhine về thứ ba giải này sau LaskerCapablanca. Theo một số tài liệu thì Nga hoàng Nikolai II đã phong tặng danh hiệu "Đại kiện tướng cờ vua" cho năm kỳ thủ dẫn đầu (Lasker, Capablanca, Alekhine, TarraschMarshall). Tuy nhiên, sử gia cờ vua Edward Winter đã nghi vấn về sự kiện này vì những nguồn sớm nhất đề cập đến là một bài báo của Robert Lewis Taylor tận 15 tháng 6 năm 1940 trên tạp chí The New Yorker và tự truyện của Marshall My 50 Years of Chess (Năm mươi năm chơi cờ của tôi) (1942)[14][15][16]. Thành công bất ngờ của Alekhine đã đưa ông vào danh sách ứng viên tranh ngôi vua cờ.[10] Dù có hay không việc chính thức được phong danh hiệu, "Nhờ vào màn trình diễn đó, Alekhine trở thành một đại kiện tướng từ góc nhìn của bản thân và trong con mắt của khán giả"[17]. Tháng 7 năm 1914, Alekhine đồng hạng nhất với Marshall tại một giải ở Paris[18].

Chiến tranh thế giới thứ nhất và hậu cách mạng ở Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Alekhine dẫn đầu giải quốc tế Mannheim diễn ra từ tháng 7 đến tháng 8 năm 1914 với 9 thắng, 1 hòa và 1 thua, khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra. Phần thưởng của ông ở giải này là 1100 mác (giá trị tương đương khoảng 11000 euro hiện tại)[19]. Sau khi tuyên bố chiến tranh với Nga, 11 kì thủ người Nga (Alekhine, Bogoljubov, Bogatyrchuk, Flamberg, Koppelman, Maliutin, Rabinovich, Romanovsky, Saburov, Selezniev, Weinstein) bị giữ lại ở Rastatt, Đức. Vào các ngày 14, 17 và 29 tháng 9 năm 1914, bốn trong số họ (Alekhine, Bogatyrchuk, Saburov và Koppelman) được thả và được phép trở về quê hương[20]. Alekhine đến cuối tháng 10 năm 1914 mới trở về Nga sau khi qua đường Thụy Sĩ, Ý, London, Stockholm và Phần Lan. Peter Romanovsky là kì thủ thứ năm được thả vào năm 1915[21]. Flamberg là kì thủ thứ sáu được trở về Warszawa năm 1916[22].

Khi Alekhine trở về Nga, ông đã tìm cách kiếm tiền giúp đỡ các kỳ thủ Nga còn đang bị giam cầm ở Đức bằng cách tham gia các trận đấu biểu diễn đồng loạt. Tháng 12 năm 1915, ông vô địch giải câu lạc bộ Moskva. Tháng 4 năm Alekhine thắng một trận đấu nhỏ trước Alexander Evensohn với 2 thắng 1 thua tại Kyiv. Vào mùa hè năm đó ông phục vụ cho Hội Liên hiệp các Thành phố (Union of Cities) (tiền thân của Hội Chữ thập đỏ) tại biên giới Áo. Vào tháng 9, ông thi đấu với năm đối thủ tại một trận đấu cờ tưởng tại bệnh viện quân đội Nga ở Tarnopol. Năm 1918, Alekhine vô địch giải "Triangular tournament" tại Moskva. Vào tháng 6 cùng năm, Alekhine bị Ủy ban Đặc biệt toàn Nga của Odessa giam một thời gian ngắn trong nhà lao tử tù ở Odessa do bị nghi ngờ là gián điệp. Ông bị cáo buộc có liên hệ với phe Bảo hoàng, sau khi người Nga buộc quân Đức phải rút khỏi Ukraina. Phương Tây xuất hiện tin đồn rằng Alekhine đã bị những người Bolshevik giết chết[9].

1920–27[sửa | sửa mã nguồn]

Khi tình hình ở Nga dần ổn định, Alekhine thể hiện ông là một trong những kì thủ Nga mạnh nhất. Ví dụ tháng 1 năm 1920, ông toàn thắng cả 11 ván tại Giải vô địch thành phố Moskva, tuy nhiên không được nhận danh hiệu vô địch do không phải công dân của thành phố. Đến tháng 10 năm 1920, tại Moskva, ông vô địch Nga với thành tích bất bại (+9 −0 =6). Giải đấu này được xem là Giải vô địch cờ vua Liên Xô đầu tiên. Anh trai ông Alexei giành hạng ba ở hạng nghiệp dư trong giải đấu này [9].

Alex (con trai Alekhine) với vợ ông năm 2003 tại Dortmund

Tháng 3 năm 1920, Alekhine cưới Alexandra Batayeva. Tuy nhiên đến năm sau họ đã li dị [23]. Trong khoảng thời gian ngắn 1920–21, ông làm phiên dịch viên cho Đệ tam Quốc tế và được bổ nhiệm làm thư ký ở Bộ Giáo dục. Thời gian này, ông gặp được nữ phóng viên và đại biểu của Đệ tam Quốc tế người Thụy Sĩ Anneliese Rüegg (Annalisa Ruegg). Bà hơn ông 13 tuổi. Hai người cưới nhau vào 15 tháng 3 năm 1921. Một thời gian ngắn sau đó, Alekhine được phép rời Nga để đi thăm phương Tây với vợ mình. Ông không bao giờ còn trở lại Nga nữa. Tháng 6 năm 1921, Alekhine bỏ người vợ thứ hai ở Paris và tới Berlin [9].

Trong khoảng thời gian 1921–23 Alekhine có 7 trận đấu nhỏ. Năm 1921, ông thắng Grigoriev (+2 −0 =5) ở Moskva, hòa Teichmann (+2 −2 =2) và thắng Sämisch (+2 −0 =0) đều tại Berlin. Năm 1922, ông thắng Bernstein (+1 −0 =1) và Arnold Aurbach (+1 −0 =1), đều tại Paris, và Manuel Golmayo (+1 −0 =1) tại Madrid [24]. Năm 1923, ông vượt qua André Muffang (+2 −0 =0) tại Paris [25].

Trong khoảng thời gian từ 1921 đến 1927, Alekhine vô địch hoặc đồng vô địch khoảng hai phần ba số giải mà ông tham dự. Những giải kém thành công nhất của ông trong thời gian này có thể kể tới: đồng hạng ba tại Vienna 1922, sau RubinsteinRéti; hạng ba tại New York 1924, dưới cựu vua cờ Emanuel Lasker và đương kim vua cờ José Raúl Capablanca (nhưng trên nhiều danh thủ khác như Frank James Marshall, Réti, Géza Maróczy, Efim Bogoljubov, Savielly Tartakower, Frederick Yates, Edward LaskerDavid Janowski) [13]. Về mặt kĩ thuật thì lối chơi của Alekhine hay hơn hầu hết các đối thủ, kể cả Capablanca. Tuy nhiên ông kém tự tin khi đối đầu với những đối thủ chính của mình[10].

Mục tiêu chính của Alekhine trong suốt thời gian này là thu xếp được một trận đấu với Capablanca [10]. Ông cho rằng trở ngại lớn nhất không phải là lối chơi của Capablanca mà là điều khoản theo "Luật London" năm 1922 (xuất phát từ yêu cầu của Capablanca). Luật này quy định rằng nhà thách đấu phải có một khoản tiền là 10 000 đô la Mỹ để làm giải thưởng, trong đó đương kim vô địch sẽ nhận được hơn một nửa dù có bị đánh bại (10 000 ngàn đô la theo thời giá năm 1927 tương đương với khoảng 391 000 đô la theo thời giá năm 2006[26]) [27]. Alekhine vào tháng 11 năm 1921 và Rubinstein cùng Nimzowitsch năm 1923 đã thách đấu Capablanca, nhưng không kiếm đủ khoản tiền 10 000 đô la[28][29]. Kiếm đủ tiền là mục tiêu hàng đầu của Alekhine trong thời điểm này. Ông tận dụng tham dự các giải đấu, các trận đấu biểu diễn đồng loạt với mức phí nhỏ nhoi để có tiền[30]. Tại New York ngày 27 tháng 4 năm 1924, Alekhine phá kỉ lục thế giới đánh cờ tưởng khi ông đánh đồng loạt với 26 đối thủ (kỉ lục cũ của Gyula Breyer là 25), thắng 16, hòa 5 và thua 5 trong vòng mười hai giờ đồng hồ thi đấu. Ông phá kỉ lục của chính mình vào 1 tháng 2 năm 1925 với 28 ván cờ tưởng đồng loại tại Paris, thắng 22, hòa 3 và thua 3[8][9].

Năm 1925, ông trở thành công dân Pháp và theo học tại Khoa Luật của Sorbonne. Mặc dù các nguồn thông tin không thống nhất về việc ông đã hoàn thành khóa học hay chưa, nhưng danh xưng Tiến sĩ Alekhine được biết đến từ thập niên 1930 [9][10][31]. Luận án của ông về đề tài hệ thống nhà tù ở Trung Hoa. "Ông ấy đã từng nhận bằng luật ở Sankt Peterburg năm 1914 nhưng chẳng bao giờ sử dụng."[32]

Tháng 10 năm 1926, ông vô địch một giải đấu ở Buenos Aires. Từ tháng 12 năm 1926 đến tháng 1 năm 1927, Alekhine thắng Max Euwe 5½–4½ trong một trận đấu. Trong năm 1927 ông cưới người vợ thứ ba Nadiezda Vasiliev (nhũ danh Fabritzky), cũng là một phụ nữ hơn tuổi. Bà là góa phụ của viên tướng Nga V. Vasiliev [33].

Vô địch thế giới lần đầu tiên (1927–35)[sửa | sửa mã nguồn]

Trận tranh ngôi vua cờ năm 1927[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1927, trận thách đấu của Alekhine trước Capablanca được một nhóm các thương gia Argentina và cả tổng thống Argentina hỗ trợ. Họ đảm bảo nguồn kinh phí cho trận đấu[34]. Trận đấu được tổ chức ở Club Argentino de Ajedrez (Câu lạc bộ cờ vua Argentina) ở Buenos Aires[27]. Trận đấu kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1927. Alekhine giành ngôi vô địch với tỉ số +6 −3 =25[35]. Với 34 ván đấu, đây là trận tranh ngôi vua cờ kéo dài nhất cho đến trận đấu giữa KarpovKasparov diễn ra năm 1984[36]. Chiến thắng của Alekhine làm toàn bộ làng cờ ngạc nhiên, bởi vì trước đó thậm chí ông chưa từng thắng Capablanca một ván nào[35]. Sau khi Capablanca mất, bản thân Alekhine cũng bày tỏ sự ngạc nhiên với chiến thắng này. Vào thời điểm năm 1927 ông không nghĩ rằng có thể vượt qua Capablanca. Ông cho rằng Capablanca đã quá tự tin[37]. Capablanca bước vào trận đấu mà không có sự chuẩn bị về kĩ thuật cũng như thể lực kĩ càng[38][39], trong khi đó Alekhine có được trạng thái thể lực tốt[10] và đã nghiên cứu kĩ lối chơi của đối thủ[40]. Theo Kasparov, Alekhine đã phát hiện ra nhiều sai lầm nhỏ nhặt của đối phương, do Capablanca thường không có được sự tập trung cao độ[41]. Kramnik bình luận rằng đây là trận đấu đầu tiên mà Capablanca không có được một chiến thắng dễ dàng nào[42].

Trận tái đấu không diễn ra[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi thắng trận tranh ngôi vô địch, Alekhine thông báo rằng ông muốn tạo điều kiện cho Capablanca một trận tái đấu với những điều kiện như Capablanca yêu cầu khi là vua cờ: nhà thách đấu phải cung cấp một khoản phí 10 ngàn đô la Mỹ, hơn nửa khoản tiền đó thuộc về đương kim vô địch ngay cả khi bị đánh bại [27]. Sau khi Capablanca qua đời, Alekhine viết rằng yêu cầu 10 ngàn đô la của Capablanca nhằm hạn chế các nhà thách đấu [37]. Cuộc thương lượng kéo dài trong vài năm và thường đổ vỡ vào khi tưởng như đã thỏa thuận thành công. Mối quan hệ của họ trở nên xấu đi. Alekhine yêu cầu những khoản phí tham dự cao hơn ở những giải đấu có Capablanca[10].

Đại kiện tướng Robert Byrne cho rằng Alekhine đã cố tình chọn những đối thủ yếu hơn cho các trận tranh ngôi vua cờ tiếp theo, hơn là tạo điều kiện cho Capablanca đấu trận phục thù [43].

Hai lần đánh bại Bogoljubov để bảo vệ ngôi vua cờ[sửa | sửa mã nguồn]

Alekhine (trái) gặp Bogoljubov (phải), với Emanuel Lasker (ngồi ở giữa) và một số nhân vật khác đang theo dõi

Mặc dù không đồng ý với các điều kiện tổ chức trận tái đấu với Capablanca, Alekhine lại từng hai lần bảo vệ ngôi vô địch trước Bogoljubov, "nhà thách đấu chính thức của FIDE", vào các năm 1929 and 1934. Alekhine giành chiến thắng cách biệt ở cả hai trận đấu [44][45]. Trận đầu tiên được tổ chức tại Wiesbaden, Heidelberg, Berlin, The HagueAmsterdam từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1929. Alekhine bảo vệ được danh hiệu với tỉ số +11 −5 =9 [25]. Từ tháng 4 đến tháng 6 năm 1934, Alekhine gặp lại Bogoljubov trong trận đấu được tổ chức tại 12 thành phố ở Đức. Lần này ông thắng với cách biệt 5 ván (+8 −3 =15) [25]. Năm 1929, Bogoljubov đã 40 tuổi và dường như đã qua thời kì đỉnh cao [46].

Chống lại Bolshevik[sửa | sửa mã nguồn]

Sau trận tranh ngôi vua cờ, Alekhine trở về Paris và tuyên bố chống lại Bolshevik. Sau đó, Nikolai Krylenko, chủ tịch liên đoàn cờ vua Liên Xô, ra một thông báo chính thức rằng Alekhine bị coi là kẻ thù của Liên Xô. Liên đoàn cờ vua Liên Xô cắt đứt mọi quan hệ với Alexander Alekhine cho đến tận cuối thập niên 1930. Anh trai Alexei, người có quan hệ rất gần gũi với Alekhine, ngay sau đó cũng công khai từ ông và phản đối những lời phát biểu chống lại Liên Xô của ông. Hành động này của Alexei có thể hiểu được khi ông không có nhiều lựa chọn [47]. Tháng 8 năm 1939, Alexei Alekhine bị ám sát ở Nga [48].

Thống trị làng cờ[sửa | sửa mã nguồn]

Alexander Alekhine thống trị làng cờ vào thời gian đầu thập niên 1930 [10]. Những chiến thắng nổi tiếng nhất của ông thời gian này là ở giải San Remo 1930 (+13 =2, 3½ hơn á quân Nimzowitsch) và giải Bled 1931 (+15 =11, 5½ hơn á quân Bogoljubov). Ông cũng vô địch hầu hết các giải đấu khác, đồng hạng nhất trong hai giải. Giải đầu tiên trong thời gian này Alekhine không vô địch là giải ở Hastings 1933–34 (đồng hạng nhì, ½ điểm kém hơn Salo Flohr). Năm 1933, Alekhine áp đảo Rafael Cintron trong một trận đấu biểu diễn ở San Juan (+4 −0 =0), nhưng chỉ hòa trong trận đấu khác với Ossip Bernstein ở Paris (+1 −1 =2) [49].

Từ năm 1930 đến 1935, Alekhine ngồi bàn 1 cho Pháp tại bốn kì Olympiad cờ vua, giành giải đặc biệt ở Hamburg năm 1930 [50]; các huy chương vàng bàn 1 tại Praha năm 1931 và Folkestone năm 1933 [51][52]huy chương bạc bàn 1 tại Warszawa năm 1935 [53]. Ván thua của ông trước kỳ thủ Latvia Hermanis Matisons tại Praha năm 1931 là ván thua đầu tiên của ông tại các giải đấu chính thức kể từ khi lên ngôi vua cờ [9].

Vào đầu thập niên 1930, Alekhine đi đến nhiều nơi trên thế giới để biểu diễn các trận cờ đồng loạt, gồm Hawaii, Tokyo, Manila, Singapore [54], Thượng Hải, Hong KongĐông Ấn Hà Lan. Tháng 7 năm 1933, Alekhine chơi cờ tưởng đồng loạt với 32 đối thủ (kỷ lục thế giới thời đó) tại Chicago, thắng 19, hòa 9 và thua 4 ván [55].

Năm 1934 Alekhine cưới người vợ thứ tư trẻ hơn ông 16 tuổi là Grace Freeman (nhũ danh Wishard). Bà là góa phụ người Mỹ của một nhà trồng trà người Anh ở Ceylon. Bà giữ quốc tịch Anh cho đến cuối đời và là vợ của Alekhine đến khi ông mất [9][56].

Vào khoảng năm 1933 Reuben Fine cho rằng Alekhine đã sử dụng một lượng lớn đồ uống có cồn [10]. Hans Kmoch cũng viết rằng Alekhine lần đầu tiên uống nhiều trong giải đấu ở Bled năm 1931 và cũng uống rất nhiều trong trận đấu tranh ngôi vua cờ với Bogoljubov năm 1934 [56].

Để mất ngôi vua cờ (1935–37)[sửa | sửa mã nguồn]

Max Euwe đã đoạt ngôi vua cờ từ tay Alekhine năm 1935 nhưng lại để thua trong trận tái đấu năm 1937.

Năm 1933, Alekhine nhận lời thách đấu ngôi vô địch thế giới của Max Euwe. Vào đầu thập niên 1930, Euwe được coi là một trong ba kỳ thủ xứng đáng trở thành nhà thách đấu (hai kỳ thủ kia là CapablancaFlohr)[10]. Trận đấu diễn ra tại Zandvoort, Hà Lan từ ngày 3 tháng 10 năm 1935. Mặc dù Alekhine dẫn trước đến 3 ván chỉ sau 9 ván đầu tiên, nhưng từ ván 13 trở đi thì Euwe có số ván thắng gấp đôi Alekhine. Nhà thách đấu trở thành vua cờ mới vào 15 tháng 12 năm 1935 với 9 thắng, 13 hòa và 8 thua[57]. Đây là trận tranh ngôi vô địch thế giới đầu tiên cả hai bên đều chính thức có trợ tá: Alekhine có Landau còn Euwe có Maróczy[58]. Chiến thắng của Euwe là một bất ngờ lớn[10]. Kmoch viết rằng trong nửa đầu trận đấu này thì Alekhine không uống rượu, nhưng sau đó thì thường làm một ly trước hầu hết các ván đấu[56]. Tuy nhiên, Flohr, cũng là trợ tá của Euwe, cho rằng sự quá tự tin mới là nguyên nhân chính làm Alekhine thua cuộc. Bản thân Alekhine cũng phát biểu trước đó rằng ông sẽ thắng dễ dàng[59][60]. Các vua cờ sau này như Smyslov, Spassky, Karpov và Kasparov khi phân tích trận đấu này để học hỏi đều kết luận rằng Euwe chiến thắng xứng đáng và chất lượng trận đấu xứng tầm một trận tranh ngôi vua cờ[59].

Theo Kmoch, Alekhine đã bỏ rượu hoàn toàn trong vòng năm năm kể từ trận đấu năm 1935[56]. Trong vòng 18 tháng sau khi mất ngôi, Alekhine đã tham dự mười giải đấu với thành tích có cao có thấp: đồng vô địch với Keres tại Bad Nauheim vào tháng 5 năm 1936; vô địch Dresden tháng 6 năm 1936; hạng nhì sau Flohr tại Poděbrady tháng 7 năm 1936; hạng sáu, sau Capablanca, Botvinnik, Fine, Reshevsky và Euwe tại Nottingham tháng 8 năm 1936; hạng ba, sau Euwe và Fine tại Amsterdam tháng 10 năm 1936; đồng vô địch với Landau tại Amsterdam (Giải tứ hùng) cũng vào tháng 10 năm 1936. Ông vô địch giải Hastings đầu năm mới vào thời gian 1936/37, xếp trên Fine và Eliskases; vô địch Nice (Giải tứ hùng) vào tháng 3 năm 1937; xếp hạng ba sau Keres và Fine tại Margate tháng 4 năm 1937; đồng hạng bốn với Keres, sau Flohr, Reshevsky và Petrovs tại Kemeri vào tháng 6-7 năm 1937; đồng hạng nhì với Bogoljubov, sau Euwe tại Bad Nauheim (Giải tứ hùng) vào tháng 7 năm 1937[9].

Vô địch thế giới lần thứ hai (1937–46)[sửa | sửa mã nguồn]

1937–39[sửa | sửa mã nguồn]

Max Euwe đã nhanh chóng sắp xếp trận tái đấu với Alekhine, điều mà José Raúl Capablanca đã không có được sau khi Alekhine giành ngôi vua cờ năm 1927. Alekhine lấy lại danh hiệu từ tay Euwe vào tháng 12 năm 1937 với cách biệt lớn (+10 −4 =11). Trong trận đấu được tổ chức tại Hà Lan này, trợ tá của Euwe là Fine, còn Alekhine có Erich Eliskases. Trận đấu ban đầu khá cân bằng, nhưng đến gần kết thúc thì Euwe mất phong độ với bốn ván thua trong năm ván cuối cùng [42][61]. Fine chỉ ra rằng sự sụp đổ của Euwe do căng thẳng thần kinh, có thể trầm trọng hơn do những nỗ lực của Euwe nhằm duy trì một hình ảnh bình tĩnh trước mắt mọi người. Alekhine không còn chơi trận bảo vệ danh hiệu nào sau đó và giữ ngôi vua cờ cho đến khi qua đời [10].

Alekhine khởi đầu năm 1938 tốt đẹp với việc thắng giải Montevideo tại Carrasco (tháng 3) và tại Margate (tháng 4), đồng vô địch với George Alan Thomas tại Plymouth (tháng 9). Tuy nhiên đến tháng 11, ông chỉ đồng hạng 4–6 với Euwe và Reshevsky, xếp sau Keres, FineBotvinnik, xếp trên Capablanca và Flohr tại Giải cờ vua AVRO tổ chức ở Hà Lan. Giải đấu này được tổ chức tại một số thành phố của Hà Lan, mỗi vòng đánh tại một địa điểm khác nhau. Điều này có thể giải thích tại sao những kỳ thủ trẻ sung sức chiếm các thứ hạng cao, trong khi đó những kỳ thủ lớn tuổi mệt mỏi với việc di chuyển nên không có được kết quả tốt[10].

Ngay sau giải AVRO, Botvinnik, kỳ thủ về thứ ba, đã thách đấu Alekhine trong trận tranh ngôi vua cờ. Hai bên đã đồng ý về giải thưởng 10 000 đô la Mỹ với hai phần ba thuộc về người thắng. Nếu trận đấu được tổ chức ở Moskva thì Alekhine sẽ được mời sang ít nhất ba tháng trước đó để có thể tham dự những giải đấu khởi động. Những chi tiết khác chưa đồng thuận thì Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra đã cắt đứt cuộc thương thuyết. Phải đến khi kết thúc chiến tranh thì cuộc thương thuyết này mới được nối lại[62].

Keres, nhà vô địch AVRO, cũng thách đấu Alekhine để tranh ngôi vua cờ. Cuộc thương thảo đang tiến hành năm 1939 thì cũng bị ngắt bởi chiến tranh. Trong cuộc chiến thì quê hương của Keres, Estonia, ban đầu bị Liên Xô chiếm giữ, sau đó Đức rồi Liên Xô chiếm lại. Khi kết thúc cuộc chiến, chính quyền Xô viết cấm Keres tiếp tục thương thảo vì cho rằng ông đã cộng tác với người Đức trong thời gian họ chiếm đóng Estonia[63].

Alekhine ngồi bàn đầu của đội tuyển Pháp tại Olympiad cờ vua lần thứ 8Buenos Aires năm 1939 khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra ở châu Âu. Đội trưởng của các đội tuyển, với vai trò chủ đạo của Alekhine (Pháp), Tartakower (Ba Lan) và Becker (Đức), cùng với chủ tịch Liên đoàn cờ vua Argentina, de Muro, đã quyết định tiếp tục tiến hành Olympiad[64].

Alekhine giành huy chương bạc cá nhân (toàn giải hai giai đoạn ông bất bại với 9 thắng 7 hoà), xếp sau Capablanca (kết quả cá nhân chỉ tính thành tích ở giai đoạn hai)[65]. Không lâu sau Olympiad, Alekhine thống trị các giải cờ ở Montevideo (7/7) và Caracas (10/10).

Vào cuối tháng 8 năm 1939, cả Alekhine và Capablanca đều viết cho Augusto de Muro về trận tái đấu tranh ngôi vua cờ có thể xảy ra.

Chiến tranh thế giới thứ hai (1939–45)[sửa | sửa mã nguồn]

Không như nhiều kỳ thủ tham dự Olympiad cờ vua 1939[65], Alekhine trở lại châu Âu vào tháng 1 năm 1940. Sau một thời gian ngắn ở Bồ Đào Nha[66], ông gia nhập quân đội Pháp, làm một nhân viên vệ sinh[56].

Sau khi Pháp thất thủ (tháng 6 năm 1940), ông chạy trốn tới Marseille. Alekhine tìm cách đến Mỹ bằng việc tới Lisbon và nộp đơn xin thị thực Mỹ. Vào tháng 10 năm 1940, ông xin nhập cảnh vào Cuba, hứa sẽ đấu một trận với Capablanca. Tuy nhiên đề nghị này bị từ chối[48]. Để bảo vệ vợ mình, Grace Alekhine, một phụ nữ Mỹ gốc Do Thái và tài sản của bà ở Pháp (một lâu đài ở Saint Aubin-le-Cauf, gần Dieppe, nơi quân Đức Quốc xã chiếm đóng), ông phải đồng ý hợp tác với người Đức[67]. Alekhine tham dự các giải cờ ở Munich, Salzburg, Kraków/WarszawaPraha, do Ehrhardt Post, the Chief Executive of the Nazi-controlled Grossdeutscher Schachbund ("Greater Germany Chess Federation"), tổ chức. Keres, Bogoljubov, Stoltz và một số kì thủ mạnh khác ở trong vùng bị Đức Quốc xã chiếm đóng cũng dự những giải này[68]. Năm 1941, ông đồng hạng nhì-ba với Erik Lundin tại Giải cờ vua Munich 1941 (Europaturnier vào tháng 9, Stoltz vô địch), đồng vô địch với Paul Felix Schmidt tại Kraków/Warszawa (tháng 10)[69] và vô địch tại Madrid (tháng 12). Vào năm tiếp theo ông vô địch tại Giải cờ vua Salzburg 1942 (tháng 6) và Munich (tháng 9. Chính quyền Quốc xã gọi giải đó là Europameisterschaft, có nghĩa là "Giải vô địch châu Âu").[70][71] Later in 1942 he won at Warsaw/Lublin/Kraków (the 3rd GG-ch; October 1942) and tied for first with Klaus Junge in Prague (Duras Jubileé; December 1942). Năm 1943 ông hòa một trấn đấu nhỏ (+1 −1) với Bogoljubov ở Warszawa (tháng 3), vô địch ở Praha (tháng 4) và đồng vô địch với Keres ở Salzburg (tháng 6).

Từ cuối năm 1943, phần lớn thời gian Alekhine ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, đại diện cho Đức trong các giải đấu. Điều này giúp ông tránh được quân Liên Xô đang chiếm lại các khu vực ở Đông Âu[48][72]. Năm 1944, ông thắng sít sao trận đấu với Ramón Rey ArdidZaragoza (+1 −0 =3; tháng 4) và vô địch giải ở Gijon (tháng 7). Năm 1945, ông vô địch ở Madrid (tháng 3), đồng hạng nhì với Antonio Medina ở Gijón (tháng 7; Antonio Rico vô địch), vô địch tại Sabadell (tháng 8), đồng vô địch với F. López Núñez ở Almeria (tháng 8), vô địch ở Melilla (tháng 9) và về nhì ở Caceres, xếp sau Francisco Lupi (mùa thu 1945). Trận đấu cuối cùng của Alekhine là gặp Lupi tại Estoril gần Lisbon, Bồ Đào Nha, vào tháng 1 năm 1946. Alekhine thắng 2, hòa 1 và thua 1[13].

Alekhine quan tâm tới sự phát triển của thần đồng cờ vua Arturo Pomar và dành tặng một chương trong quyển sách cuối cùng của mình (¡Legado! 1946) tới cậu bé. Họ từng gặp nhau ở Gijon 1944, khi Pomar mới 12 tuổi đã có ván hòa đáng nhớ trước vua cờ[73].

Những năm tháng cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ của Alexander Alekhine ở Paris, Pháp

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Alekhine không còn được mời tham dự giải đấu nào ngoài bán đảo Iberia, bởi vì những cáo buộc cộng tác với Đức Quốc xã trong chiến tranh. Lời mời tham dự Giải London năm 1946 cũng bị hủy vì sự phản đối của các đấu thủ khác[6].

Trong khi đang chuẩn bị cho trận tranh ngôi vô địch thế giới với Botvinnik[62], Alekhine qua đời tại phòng khách sạn ở Estoril, Bồ Đào Nha vào ngày 24 tháng 3 năm 1946. Nguyên nhân cái chết của ông vẫn còn không rõ ràng. Nó thường được cho là do đau tim, nhưng một lá thư trên tạp chí Chess Life của một nhân chứng trong cuộc khám nghiệm tử thi cho biết nguyên nhân là nghẹn thịt. Khi khám nghiệm, người ta tìm thấy một miếng thịt dài khoảng 7–8 cm chưa nhai đã tắc ở khí quản Alekhine[74]. Một giả thiết khác thì cho rằng một "nhóm sát nhân" của Pháp đã ám sát ông. Thời gian sau này, con trai của Alekhine, Alexander Alekhine Junior, cho rằng "bàn tay của Moskva đã nhúng vào vụ việc"[75]. Đại kiện tướng người Canada Kevin Spraggett từng sống ở Bồ Đào Nha vào cuối thập niên 1980, cũng từng nghiên cứu về cái chết của Alekhine, ủng hộ giả thuyết này. Spraggett makes a case for the manipulation of the crime scene and the autopsy by the Portuguese secret police PIDE. Ông tin rằng Alekhine bị ám sát bên ngoài phòng khách sạn, có thể do người Liên Xô thực hiện[76].

Đám tang của Alekhine được FIDE tài trợ. Mộ phần của ông đặt tại Nghĩa trang Montparnasse, Paris, Pháp từ năm 1956 [77][78].

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Phong cách và điểm mạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Các hệ thống tính thứ hạng theo thống kê có những quan điểm khác nhau về Alekhine. "Warriors of the Mind" (Các chiến binh của trí tuệ) xếp ông chỉ là kỳ thủ thứ 18 mọi thời đại và chú thích rằng những chiến thắng trước những kỳ thủ như Bogoljubov và Euwe không đủ mạnh để đưa vào xếp hạng "mọi thời đại" [79]. Tuy nhiên trang web "Chessmetrics" lại xếp ông ở mức giữa thứ tư và thứ tám mọi thời đại, dựa vào độ dài thời gian đỉnh cao và kết luận rằng khi ở đỉnh cao thì ông mạnh hơn một chút so với Emanuel Lasker và Capablanca, chỉ yếu hơn một chút so với Botvinnik [80]. Jeff Sonas, tác giả của trang web "Chessmetrics", đánh giá Alekhine xếp thứ sáu ở thời kì đỉnh cao nhất, so sánh tương quan với các kì thủ khác cùng thời kì và qua mọi thời đại dựa trên một mức điểm đánh giá có thể so sánh được với nhau.[81] Ông cũng đánh giá rằng chiến thắng của Alekhine ở giải San Remo năm 1930 đứng thứ sáu về hiệu suất thi đấu as the sixth best performance ever in tournaments.[81] Trong cuốn sách The Rating of Chessplayers, Past and Present (Hệ số của các kì thủ trong quá khứ và hiện tại) xuất bản năm 1978 của mình, Arpad Elo đã đưa ra hệ số của các kì thủ dựa trên khoảng thời gian 5 năm đỉnh cao trong sự nghiệp của họ. Ông kết luận rằng Alekhine was the joint fifth strongest player of those surveyed (tied with Paul MorphyVasily Smyslov), behind Capablanca, Botvinnik, Emanuel Lasker and Mikhail Tal.[82]

Sau khi Alekhine giành lại ngôi vô địch thế giới vào năm 1937, there were several new contenders, all of whom would have been serious challengers.[10]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Những cáo buộc về sửa ván cờ đã đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Hình cờ bên phải là hình cờ không được chơi trong thực tế. Alekhine cho rằng Trắng thắng sau nước 24.Rh6, vì sau một số nước đi phức tạp Đen sẽ bị chiếu hết hoặc chuyển về tàn cuộc kém một hậu. Tuy nhiên một vài phân tích gần đây cho rằng không phải vậy. Nếu Trắng chơi 24.Rh6, Đen sẽ đáp lại 24...Bg4+! và Trắng chẳng thể nào chiếu hết Đen được.[83] A later computer-assisted analysis concludes that White can force a win, but only by diverging from Alekhine's move sequence at move 20, while there are only three queens.[84]

Nhà nghiên cứu lịch sử cờ Winter điều tra một ván đấu bị nghi ngờ của Alekhine khi thắng sau 15 nước bằng việc thí hậu ở Sabadell năm 1945[85]. Một vài tấm ảnh chụp lại từ ván đấu đó cho thấy hình cờ trong ảnh khác với biên bản được công bố sau này. Điều đó dấy lên sự nghi ngờ biên bản công bố là ngụy tạo. Dù biên bản bị nghi ngờ là giả nhưng sự thực là Alekhine đã thắng đối thủ trong thực tế và ông cũng là nguồn của ván thắng 15 nước nổi tiếng mà độ xác thực bị nghi ngờ[86].

Những ván cờ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

“Alekhine vs Yates, London 1922”. 
a b c d e f g h
8
Chessboard480.svg
a8 black rook
f8 black rook
h8 black king
c7 white rook
f7 white rook
g7 black pawn
a6 black bishop
e6 black pawn
f6 white knight
h6 black pawn
d5 black pawn
f5 black pawn
h5 white pawn
a4 black pawn
d4 white pawn
f4 white king
a3 white pawn
b3 black pawn
e3 white pawn
f3 white pawn
g3 white pawn
b2 white pawn
8
7 7
6 6
5 5
4 4
3 3
2 2
1 1
a b c d e f g h

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Alekine viết hơn 20 cuốn sách về cờ vua [87]. Một vài cuốn nổi tiếng trong số đó:

  • Alekhine, Alexander (1985). My Best Games of Chess 1908–1937 (Những ván đấu hay nhất của tôi 1908–1937). Dover. ISBN 0-486-24941-7.  Lần đầu tiên tác phẩm xuất bản gồm hai tập My Best Games of Chess 1908–1923 (Những ván đấu hay nhất của tôi 1908–1923) và My Best Games of Chess 1924–1937 (Những ván đấu hay nhất của tôi 1924–1937).
  • Alekhine, Alexander (1968). The Book of the Hastings International Masters' Chess Tournament 1922. Dover. ISBN 0-486-21960-7. 
  • Alekhine, Alexander (1961). The Book of the New York International Chess Tournament 1924. Dover. ISBN 0-486-20752-8. 
  • Alekhine, Alexander (1962). The Book of the Nottingham International Chess Tournament. Dover. ISBN 0-486-20189-9. 
  • Alekhine, Alexander (1973). The World's Chess Championship, 1937. Dover. ISBN 0-486-20455-3. 

Games analysis published after 1938 were edited by Edward Winter and published in 1980 in the book:

  • Alekhine, Alexander & Edward Winter (1992). 107 Great Chess Battles 1939–1945. Dover. ISBN 0-486-27104-8. 

Tổng kết về kết quả thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Các giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là thứ hạng và điểm số của Alekhine tại các giải đấu:[9][13][25][88][89][90][91][92]

  • Ký hiệu: + số ván thắng, − số ván thua, = số ván hòa
Thời gian Địa điểm Thứ hạng Điểm số Chú thích
1907 Moscow 11–13 5½/15 +5−9=1 Anh trai Alexei Alekhine đồng hạng 4-6
1908 Moscow vô địch  ?  ? Moscow Chess Club Spring Tournament.[93]
1908 Düsseldorf 3–4 9/13 +8−3=2 16th DSB Congress, A Tournament
1908/09 Moscow 1st 6½/9 +5−1=3 Moscow Chess Club Autumn Tournament
1909 Saint Petersburg 1st 13/16 +12−2=2 All-Russian Amateur Tournament
1910 Hamburg 7–8 8½/16 +5−4=7 17th DSB Congress, Schlechter won
1911 Cologne 1st 3/3 +3−0=0 Quadrangular
1911 Carlsbad 8–9 13½/25 +11−9=5 Teichmann won
1912 Saint Petersburg 1–2 8/9 +8-1=0 First Winter Tournament, lost a game to Vasily Osipovich Smyslov
1912 Saint Petersburg 1st 7/9 +6−1=2 ? Second Winter Tournament, lost a game to Boris Koyalovich
1912 Stockholm 1st 8½/10 +8−1=1 8th Nordic Championship, ahead of Spielmann
1912 Vilnius 6–7 8½/18 +7−8=3 7th Russian Championship (All-Russian Masters' Tournament), Rubinstein won
1913 Saint Petersburg 1–2 2/3 +2−1=0 Quadrangular, tied with Levenfish
1913 Scheveningen 1st 11½/13 +11−1=1 ahead of Janowski
1913/14 Saint Petersburg 1–2 13½/17 +13−3=1 8th Russian Championship (All-Russian Masters' Tournament), tied with Nimzowitsch
1914 Saint Petersburg 3rd 10/18 +6−4=8 Lasker 13½, Capablanca 13, Alekhine 10, Tarrasch 8½, Marshall 8
1914 Paris 1–2 2½/3 +2−0=1 Cafe Continental Quadrangular, tied with Marshall, third Muffang, fourth Hallegua
1914 Mannheim leading 9½/11 +9−1=1 19th DSB Congress, interrupted by the start of World War I
1915 Moscow 1st 10½/11 +10−0=1 Moscow Chess Club Championship
1919/20 Moscow 1st 11/11 +11−0=0 Moscow City Championship, not declared Moscow Champion because he was not a resident of Moscow
1920 Moscow 1st 12/15 +9−0=6 later recognised as the 1st USSR Championship
1921 Triberg 1st 7/8 +6−0=2 ahead of Bogoljubov
1921 Budapest 1st 8½/11 +6−0=5 ahead of Grünfeld
1921 The Hague 1st 8/9 +7−0=2 ahead of Tartakower
1922 Pistyan 2–3 14½/18 +12−1=5 tied with Spielmann, behind Bogoljubov
1922 London 2nd 11½/15 +8−0=7 Capablanca 13, Alekhine 11½, Vidmar 11, Rubinstein 10½
1922 Hastings 1st 7½/10 +6−1=3 Rubinstein 7, BogoljubovThomas 4½, Tarrasch 4, Yates
1922 Vienna 3–6 9/14 +7−3=4 Rubinstein won
1923 Margate 2–5 4½/7 +3−1=3 Grünfeld won
1923 Carlsbad 1–3 11½/17 +9−3=5 tied with BogoljubovMaróczy
1923 Portsmouth 1st 11½/12 +11−0=1 ahead of Vajda
1924 New York 3rd 12/20 +6−2=12 Lasker 16, Capablanca 14½, Alekhine 12, Marshall 11, Réti 10½. Maróczy 10, Bogoljubov
1925 Paris 1st 6½/8 +5−0=3 ahead of Tartakower
1925 Bern 1st 4/6 +3−1=2 Quadrangular
1925 Baden-Baden 1st 16/20 +12−0=8 ahead of Rubinstein
1925/26 Hastings 1–2 8½/9 +8−0=1 tied with Vidmar
1926 Semmering 2nd 12½/17 +11−3=3 Spielmann won
1926 Dresden 2nd 7/9 +5−0=4 Nimzowitsch won
1926 Scarborough 1st 5½/6 +5−0=1 Alekhine won a play-off match against Colle 2-0
1926 Birmingham 1st 5/5 +5−0=0 ahead of Znosko-Borovsky
1926 Buenos Aires 1st 10/10 +10−0=0 ahead of VillegasIlla
1927 New York 2nd 11½/20 +5−2=13 Capablanca 14, Alekhine 11½, Nimzowitsch 10½, Vidmar 10, Spielmann 8, Marshall 6
1927 Kecskemét 1st 12/16 +8−0=8 ahead of NimzowitschSteiner
1929 Bradley Beach 1st 8½/9 +8−0=1 ahead of Lajos Steiner
1930 San Remo 1st 14/15 +13−0=2 Nimzowitsch 10½; Rubinstein 10; Bogoljubov 9½; Yates 9
1931 Nice 1st 6/8 +4−0=4 consultation tournament
1931 Bled 1st 20½/26 +15−0=11 Bogoljubov 15; Nimzowitsch 14; Flohr, Kashdan, StoltzVidmar 13½
1932 Bern 1–3 2/3 +2−1=0 Quadrangular, tied with VoellmyNaegeli
1932 Bern 1st 12½/15 +11−1=3 Swiss Championship (title awarded to Hans JohnerPaul Johner)
1932 London 1st 9/11 +7−0=4 ahead of Flohr
1932 Pasadena 1st 8½/11 +7−1=3 ahead of Kashdan
1932 Mexico City 1–2 8½/9 +8−0=1 tied with Kashdan
1933 Paris 1st 8/9 +7−0=2 ahead of Tartakower
1933/34 Hastings 2nd 6½/9 +4−0=5 Flohr 7, Alekhine and Andor Lilienthal 6½, C.H.O'D. AlexanderEliskases 5
1934 Rotterdam 1st 3/3 +3−0=0 Quadrangular
1934 Zürich 1st 13/15 +12−1=2 Swiss Championship (title awarded to Hans Johner)
1935 Örebro 1st 8½/9 +8−0=1 ahead of Lundin
1936 Bad Nauheim 1–2 6½/9 +4−0=5 tied with Keres
1936 Dresden 1st 6½/9 +5−1=3 ahead of Engels
1936 Poděbrady 2nd 12½/17 +8−0=9 Flohr won
1936 Nottingham 6th 9/14 +6−2=6 BotvinnikCapablanca 10; Euwe, FineReshevsky
1936 Amsterdam 3rd 4½/7 +3−1=3 EuweFine won
1936 Amsterdam 1–2 2½/3 +2−0=1 Quadrangular, tied with Landau
1936/37 Hastings 1st 8/9 +7−0=2 Fine 7½, Eliskases 5½, VidmarFeigins
1937 Margate 3rd 6/9 +6−3=0 tied for 1–2 were KeresFine
1937 Kemeri 4–5 11½/17 +7−1=9 tied for 1–3 were Flohr, PetrovsReshevsky
1937 Bad Nauheim 2–3 3½/6 +3−2=1 Quadrangular, Euwe won, the other players were BogoljubovSämisch
1937 Nice 1st 2½/3 +2−0=1 Quadrangular
1938 Montevideo 1st 13/15 +11−0=4 ahead of Guimard
1938 Margate 1st 7/9 +6−1=2 ahead of Spielmann
1938 Netherlands
(ten cities)
4–6 7/14 +3−3=8 AVRO tournament, KeresFine 8½; Botvinnik 7½; Alekhine, EuweReshevsky 7; Capablanca 6
1939 Montevideo 1st 7/7 +7−0=0 ahead of Golombek
1939 Caracas 1st 10/10 +10−0=0
1941 Munich 2–3 10½/15 +8−2=5 tied with Lundin, behind Stoltz
1941 Kraków, Warsaw 1–2 8½/11 +6−0=5 tied with Schmidt
1941 Madrid 1st 5/5 +5−0=0
1942 Salzburg 1st 7½/10 +7−2=1 ahead of Keres
1942 Munich 1st 8½/11 +7−1=3 1st European Championship, ahead of Keres
1942 Warsaw, Lublin, Kraków 1st 7½/11 +6−1=3 ahead of Junge
1942 Prague 1–2 8½/11 +6−0=5 tied with Junge
1943 Prague 1st 17/19 +15−0=4 ahead of Keres
1943 Salzburg 1–2 7½/10 +5−0=5 tied with Keres
1944 Gijón 1st 7½/8 +7−0=1
1945 Madrid 1st 8½/9 +8−0=1
1945 Gijón 2–3 6½/9 +6−2=1 tied with Medina, behind Rico
1945 Sabadell 1st 7½/9 +6−0=3
1945 Almeria 1–2 5½/8 +4−1=3 tied with Lopez Nunez
1945 Melilla 1st 6½/7 +6−0=1
1945 Caceres 2nd 3½/5 +3−1=1 Lupi won

Các trận đấu tay đôi[sửa | sửa mã nguồn]

Here are Alekhine's results in matches:[9][25][89][94]

  • Under score, + games won, − games lost, = games drawn
Date Opponent Kết quả Location Score Notes
1908 Curt von Bardeleben Won Düsseldorf 4½/5 +4−0=1
1908 Hans Fahrni Drew Munich 1½/3 +1−1=1
1908 Benjamin Blumenfeld Won Moscow 4½/5 +4−0=1
1908 Vladimir Nenarokov Lost Moscow 0/3 +0−3=0
1913 Stepan Levitsky Won Saint Petersburg 7/10 +7−3=0
1913 Edward Lasker Won Paris, London 3/3 +3−0=0
1913 José Raúl Capablanca Lost Saint Petersburg 0/2 +0−2=0 exhibition match
1914 Aron Nimzowitsch Drew Saint Petersburg 1/2 +1−1=0 play-off match
1916 Alexander Evensohn Won Kiev 2/3 +2−1=0
1918 Abram Rabinovich Won Moscow 3½/4 +3−0=1
1918 Boris Verlinsky Won Odessa 6/6 +6−0=0
1920 Nikolay Pavlov-Pianov Drew Moscow 1/2 +1−1=0 training match
1921 Nikolay Grigoriev Won Moscow 4½/7 +2−0=5 training match
1921 Efim Bogoljubow Drew Triberg 2/4 +1−1=2 "secret" training match
1921 Richard Teichmann Drew Berlin 3/6 +2−2=2
1921 Friedrich Sämisch Won Berlin 2/2 +2−0=0
1922 Ossip Bernstein Won Paris 1½/2 +1−0=1
1922 Arnold Aurbach Won Paris 1½/2 +1−0=1
1922 Manuel Golmayo Won Madrid 1½/2 +1−0=1
1923 André Muffang Won Paris 2/2 +2−0=0
1926 Edgar Colle Won Scarborough 2/2 +2−0=0 play-off match
1926/7 Max Euwe Won Amsterdam 5½/10 +3−2=5
1927 José Raúl Capablanca Won Buenos Aires 18½/34 +6−3=25 Alekhine became world champion
1927 Charles Jaffe Won New York 2/2 +2−0=0 exhibition match
1929 Efim Bogoljubow Won Wiesbaden, Berlin, Amsterdam 15½/25 +11−5=9 retained world championship
1933 Rafael Cintron Won San Juan 4/4 +4−0=0 exhibition match
1933 Ossip Bernstein Drew Paris 2/4 +1−1=2
1934 Efim Bogoljubow Won Baden-Baden, Villingen, Pforzheim,
Bayreuth, Kissingen, Berlin
15½/25 +8−3=15 retained world championship
1935 Max Euwe Lost Amsterdam, The Hague, Utrecht 14½/30 +8−9=13 lost world championship
1937 Max Euwe Won Rotterdam, Haarlem, Leiden, Zwolle,
Amsterdam, Delft, The Hague
15½/25 +10−4=11 regained world championship
1937 Max Euwe Lost The Hague 2/5 +1−2=2 exhibition match
1941 Lopez Esnaola Won Vitoria 2/2 +2−0=0
1943 Efim Bogoljubow Drew Warsaw 1/2 +1−1=0
1944 Ramón Rey Ardid Won Zaragoza 2½/4 +1−0=3
1946 Francisco Lupi Won Estoril 2½/4 +2−1=1

Kết quả tại các Olympiad cờ vua[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là kết quả của Alekhine tại các Olympiad cờ vua. Ông đều ngồi bàn đầu của Pháp tại tất cả các giải đấu.

  • Ký hiệu ở điểm số: + ván thắng, − ván thua, = ván hòa
Thời gian Địa điểm Lần Điểm số Chú thích
1930 Hamburg 3 9/9 +9−0=0 Alekhine giành giải đặc biệt cho ván đấu với Gideon Ståhlberg (Thụy Điển). Ông không được nhận huy chương do thi đấu ít ván (trên tổng số 17 ván) [50].
1931 Prague 4 13½/18 +10−1=7 Alekhine giành huy chương vàng bàn 1. Ván thua trước Hermanis Matisons (Latvia) là ván thua đầu tiên của ông trong các giải đấu kể từ khi trở thành vua cờ[51].
1933 Folkestone 5 9½/12 +8−1=3 Alekhine giành huy chương vàng bàn 1. Ván thua trước Savielly Tartakower (Ba Lan) là ván thua thứ hai, cũng là cuối cùng của ông ở các Olympiad.[52]
1935 Warsaw 6 12/17 +7−0=10 Alekhine giành huy chương bạc bàn 1 (Salo Flohr của Tiệp Khắc giành huy chương vàng với điểm số 13/17).[53]
1939 Buenos Aires 8 7½/10 (12½/16) +9−0=7 Alekhine giành huy chương bạc bàn 1 (José Raúl Capablanca của Cuba giành huy chương vàng với điểm số 8½/11). Only games in the final stage were counted for awarding the medals. The first score is for the final stage, the one in parentheses is Alekhine's total score.[65]

Thông tin khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tại thị trấn Cascais, Bồ Đào Nha, có một con phố mang tên Alekhine: Rua Alexander Alekhine. Cascais ở gần Estoril, nơi Alekhine qua đời.

Một giải cờ vua mang tên ông: Giải cờ vua Tưởng niệm Alekhine được tổ chức một vài lần và từ năm 2013 nó trở thành giải đấu thường niên, quy tụ các kỳ thủ hàng đầu thế giới tham gia.

Cuốn sách My Best Games of Chess 1924–1937 (Những ván đấu hay nhất của tôi giai đoạn 1924–1937) được dựng thành bộ phim năm 1946 A Matter of Life and Death.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ When he became a French citizen, "Alekhine" became the correct way to spell his name in the Latin alphabet. He became angry when Russians sometimes pronounced the ⟨е⟩ ye of Alekhin as ⟨ё⟩ yo, [ɐˈlʲoxʲɪn], which he regarded as a Yiddish distortion of his name, and insisted that the correct Russian pronunciation was "Al-YEH-khin". See Kmoch, H.. “Grandmasters I Have Known: Alexander Alexandrovich Alekhine” (PDF). tr. 2, 5. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2010. 
  2. ^ Bill Wall (2 tháng 10 năm 2008). “Alexander Alekhine (1892-1946)”. geocities.com. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013.  (tiếng Anh)
  3. ^ Litmanowicz, Władysław & Giżycki, Jerzy (1986). Szachy od A do Z. Wydawnictwo Sport i Turystyka, Warszawa. tr. 16.  (tiếng Ba Lan)
  4. ^ “Chess Notes Archive 28 - "When was Alekhine born?" (Lưu trữ ghi chép cờ vua số 28 - Alekhine sinh vào thời điểm nào?)”. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2013.  (tiếng Anh)
  5. ^ Kotov Alexander Alexandrovich (1973). Alexander Alekhine. Физкультура и спорт (Thể dục và thể thao). tr. 8.  (tiếng Nga)
  6. ^ a ă Denker 1995
  7. ^ “Biography of Alexander Alekhinen on supreme-chess.com”. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  8. ^ a ă “Biography of Alexander Alekhine on chessgames.com”. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  9. ^ a ă â b c d đ e ê g h Wall, Bill. “Alexander Alekhine (1892–1946)”. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2013.  (tiếng Anh)
  10. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l Fine 1952
  11. ^ http://www.olimpbase.org
  12. ^ “Title Unknown”. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2009. 
  13. ^ a ă â b Khalifman 2002
  14. ^ Winter 1999, tr.315-316
  15. ^ Winter 2003, p.177-178
  16. ^ “Chess Note 5144”. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2008. 
  17. ^ Kalendovský 1992, p.122
  18. ^ Soltis 1994
  19. ^ “Das unvollendete Turnier: Mannheim 1914 (Giải đấu dang dở: Manheim 1914)”. 20 tháng 12 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2013.  (tiếng Đức)
  20. ^ “Manheim 1914 The Legend (Huyền thoại Manheim 1914)”. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2013.  (tiếng Anh)
  21. ^ Romanov, Isaak Zalmanovich (1984). Petr Romanovsky. Физкультура и спорт. tr. 20.  (tiếng Nga)
  22. ^ “3540. The internees”. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2008. 
  23. ^ Shaburov, Yuri (1992). Александр Алехин. Непобежденный чемпион [Alexander Alekhine. Nhà vô địch bất bại.]. Golos. tr. 104. ISBN 5-7055-0852-2.  (tiếng Nga)
  24. ^ “Short Matches of the 20th Century (Các trận đấu ngắn trong thế kỉ 20)”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013.  (tiếng Anh)
  25. ^ a ă â b c Alekhine 1985
  26. ^ Chuyển đổi theo mức thu nhập. Nếu chuyển đổi theo mức giá tiêu dùng thì kết quả vào khoảng 257 000 đô la Mỹ. “Six Ways to Compute the Relative Value of a U.S. Dollar Amount, 1774 to Present”. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  27. ^ a ă â Winter, E. “Capablanca v Alekhine, 1927”. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2013.  Các nguồn thứ cấp bao gồm:
    • “Al margen del gran match”. El Ajedrez Americano: 66. Tháng 12 năm 1927.  ;
    • Sergeant, P.W. (tháng 10 năm 1926). “(unknown title)”. British Chess Magazine: 454.  ;
    • “(unknown title)”. La Prensa. Ngày 14 tháng 9 năm 1927. ;
    Ngay sau chiến thắng, Alekhine đã công bố các điều kiện cho trận tái đấu, được đăng tại: “(unknown title)”. La Prensa. Ngày 30 tháng 11 năm 1927. 
  28. ^ “Jose Raul Capablanca: Online Chess Tribute”. chessmaniac.com. Ngày 28 tháng 6 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008.  (tiếng Anh)
  29. ^ “New York 1924”. chessgames. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008. 
  30. ^ Linklater, J. (tháng 3 năm 1989). “Alekhine and Love: Greenock, 1923”. Scottish Chess Magazine (189). Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008. 
  31. ^ “Chess Champion”. Time Magazine. Ngày 30 tháng 12 năm 1935. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2013. 
  32. ^ Reshevsky 1976, p.77
  33. ^ David Llada. “Biography of Alekhine (Tiểu sử của Alekhine)”. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2013.  (tiếng Tây Ban Nha)
  34. ^ “Jose Raul Capablanca”. chesscorner.com. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.  (tiếng Anh)
  35. ^ a ă Cree, G. “1927 World Chess Championship (Trận tranh ngôi vua cờ năm 1927)”. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013.  (tiếng Anh)
  36. ^ Byrne, R. (ngày 21 tháng 12 năm 1984). “Chess title match to become longest one in modern era (Trận tranh ngôi vua cờ dài nhất thời kì hiện đại)”. The New York Times. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013.  (tiếng Anh)
  37. ^ a ă Alekhine, A., tribute to Capablanca, tr. 157–58, in: Alekhine, A., 107 Great Chess Battles, tr. E.G. Winter, Oxford University Press, 1980.
  38. ^ Du Mont, J. (1959). “Memoir of Capablanca”. Trong Golombek, H. Capablanca's Hundred Best Games of Chess. G. Bell & Sons. tr. 1–18. 
  39. ^ Reinfeld, F. (1942; reprinted 1990). “Biography”. The Immortal Games of Capablanca. Courier Dover Publications. tr. 1–13. ISBN 0-486-26333-9. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2009.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  40. ^ Pachman, L.; Russell, A.S. (1971). “Individual Style: Psychological Play”. Modern chess strategy. Courier Dover. tr. 306. ISBN 0-486-20290-9. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2009. 
  41. ^ Kasparov, Garry; Russell, H.W. (ngày 28 tháng 7 năm 2003). “Interview with Garry Kasparov: Part 2” (PDF). Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2013. 
  42. ^ a ă Kramnik, V.. “Kramnik Interview: From Steinitz to Kasparov”. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2013.  (tiếng Anh)
  43. ^ Lời giới thiệu của The Immortal Games of Capablanca, Fred Reinfeld, Dover Publishers
  44. ^ Winter, E. “Chess Notes Archive (17)”. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  45. ^ “Alekhine vs Bogoljubov 1934 (Alekhine gặp Bogoljubov năm 1934)”. chessgames.com. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013.  (tiếng Anh)
  46. ^ Soloviov 2004, p.280
  47. ^ Lissowski, T. “Alexey, Brother of Alekhine (Alexey, anh trai của Alekhine)”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2013.  (tiếng Anh) Nguồn chính từ Kotov 1975, tr. 140
  48. ^ a ă â Wall, W. “Alekhine and the Nazis (Alekhine và những người Đức quốc xã)”. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2008.  (tiếng Anh)
  49. ^ “Alekhine's Results (Kết quả thi đấu của Alekhine)”. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2013.  (tiếng Anh)
  50. ^ a ă “3rd Chess Olympiad: Hamburg 1930”. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2013.  (tiếng Anh)
  51. ^ a ă “4th Chess Olympiad: Prague 1931”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  52. ^ a ă “5th Chess Olympiad: Folkestone 1933”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  53. ^ a ă “6th Chess Olympiad: Warsaw 1935”. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  54. ^ “Alekhine's Chess Exhibitions in Singapore in 1933 (Các trận đấu biểu diễn của Alekhine ở Singapore năm 1933)” (PDF). chesscorner.com. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2013.  (tiếng Anh)
  55. ^ Donaldson 1992, tr.35
  56. ^ a ă â b c Kmoch, H.. “Grandmasters I Have Known: Alexander Alexandrovich Alekhine (Những đại kiện tướng mà tôi biết: Alexander Alexandrovich Alekhine)” (PDF). Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2013.  (tiếng Anh)
  57. ^ “Alekhine vs Euwe 1935 (Alekhine gặp Euwe năm 1935)”. chessgames.com. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013.  (tiếng Anh)
  58. ^ Winter, E. “Chess Notes (5202) (Ghi chép về cờ vua (5202))”. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013.  (tiếng Anh)
  59. ^ a ă Gennadi Sosonko (2001). “Remembering Max Euwe Part 1” (PDF). The Chess Cafe. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008.  (tiếng Anh)
  60. ^ Münninghoff 2001
  61. ^ “Euwe vs Alekhine 1937 (Euwe gặp Alekhine năm 1937)”. chessgames.com. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2013.  (tiếng Anh)
  62. ^ a ă Khariton, L. (23 tháng 12 năm 2004). “Lev Khariton:The Battle That Never Was (Lev Khariton: Cuộc đấu không bao giờ xảy ra)”. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.  (tiếng Anh) (Dựa theo hồi ức của Botvinnik).
  63. ^ Kingston, T. “The Keres-Botvinnik Case: A Survey of the Evidence”. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2013. 
  64. ^ Gawlikowski, Stanisław (1978). Olimpiady szachowe 1924–1974. Wyd. Sport i Turystyka. Warszawa. tr. 102 (Polish edition). 
  65. ^ a ă â “8th Chess Olympiad: Buenos Aires 1939”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  66. ^ Gawlikowski S. (1976). Walka o tron szachowy. Wyd. Sport i Turystyka. Warszawa. 
  67. ^ Kasparov 2003
  68. ^ “The Salzburg Tournament of 1942”. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2008. 
  69. ^ “CHESS IN FORMER GERMAN, NOW POLISH TERRITORIES”. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2008. 
  70. ^ Gillam 2001
  71. ^ Barcza, G. (1942). A müncheni sakkmesterverseny Európa bajnokságáért 1942. Kecskemét. 
  72. ^ “Birth of the FIDE World Championship”. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2008. [liên kết hỏng]
  73. ^ “Linares 2002 - round 6”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008. 
  74. ^ Donaldson, Norman and Betty (1980). How Did They Die?. Greenwich House. ISBN 0-517-40302-1. 
  75. ^ Kasparov Garri (2003). “Alexander the Fourth, Invincible”. My Great Predecessors. Part 1. Everyman Chess. tr. 454 (Polish edition). ISBN 1-85744-330-6. 
  76. ^ Kevin Spraggett. “Part 1: Alekhine's death”. BlogSpot.com. 
    Kevin Spraggett. “Part 2: Alekhine's death”. BlogSpot.com. 
  77. ^ “Alekhine's death – an unresolved mystery? (Cái chết của Alekhine – một bí ẩn chưa lời giải?)”. chessbase.com. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013.  (tiếng Anh)
  78. ^ Moran 1989
  79. ^ Keene 1989
  80. ^ Sonas, J. “Chessmetrics Player Profile: Alexander Alekhine”. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008.  (tiếng Anh)
  81. ^ a ă “The Greatest Chess Player of All Time – Part II”. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  82. ^ Elo 1978
    “Arpad Emre Elo – 100th anniversary”. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2008. 
  83. ^ Konsala, Kimmo (1991). Kaksi shakkineroa. Karisto. tr. 378. ISBN 951-23-2938-7. 
  84. ^ Krabbé, T. (1985). “Alekhine's 5 Queen game”. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  85. ^ “Alekhine - Munoz, Sabadell 1945”. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2014. 
  86. ^ Winter, E. (2006). “Mysteries at Sabadell, 1945”. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2014. 
  87. ^ Wall, Bill. “Alekhine's Writings (Các tác phẩm của Alekhine)”. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2013.  (tiếng Anh)
  88. ^ da Nobrega, A.W. and Goeller, M. (2002). “Frank James Marshall: Tournament and Match Record”. The Frank James Marshall Electronic Archive and Museum. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008. 
  89. ^ a ă “Alekhine's Results at www.chessclub.demon.co.uk”. chessclub.demon.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “ccDemonAlekhine” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  90. ^ “Alekhine's results at chessmetrics.com”. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  91. ^ “La grande storia degli scacchi”. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2008. 
  92. ^ http://www.geocities.com/al2055Km/index.html RUSBASE. Archived 2009-10-24.
  93. ^ Alexander Alekhine chess games gives four games won by Alekhine and published in 1938, the authors write:

    Alekhine won this event, but neither the detailed results or the complete list of participants is known.

  94. ^ “Short matches of 20th century”. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2008. [liên kết hỏng]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng
Tiền vị
José Raúl Capablanca
World Chess Champion
1927–1935
Kế vị
Max Euwe
Tiền vị
Max Euwe
World Chess Champion
1937–1946
Trống
Danh hiệu tiếp theo được tổ chức bởi
Mikhail Botvinnik

Bản mẫu:World Chess Championships