Everytime

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Everytime"
Image of a blond woman. She is sitting in a giant purple flower wearing a dress in the same style. In the middle of the image, the words "Britney Spears" are written in green capital and small letters. Below them, the word "Everytime" is written in purple italics.
Đĩa đơn của Britney Spears
từ album In the Zone
Phát hành 17 tháng 5, 2004 (2004-05-17)
Định dạng CD, 12"
Thu âm 2002
Thể loại Pop
Thời lượng 3:50
Hãng đĩa Jive
Sáng tác Britney Spears, Annette Stamatelatos
Sản xuất Guy Sigsworth, Britney Spears
Thứ tự đĩa đơn của Britney Spears
"Toxic"
(2004)
"Everytime"
(2004)
"Outrageous"
(2004)
Video âm nhạc
"Everytime" trên YouTube

"Everytime" là bài hát của ca sĩ nhạc pop người Mỹ Britney Spears nằm trong album In the Zone (2003). Đĩa đơn được phát hành vào ngày 17 tháng 5, 2004 (2004-05-17), như là đĩa đơn thứ ba trích từ album. Sau khi Britney Spears kết thúc mối tình của cô với ca sĩ nhạc pop Justin Timberlake, cô bắt đầu chơi thân với ca sĩ hát đệm của mình Annet Artani. Cả hai bắt đầu viết nhạc cùng nhau tại nhà riêng của Britney tại Los Angeles, cũng như ở Lombardy, Italy, nơi mà "Everytime" được viết. Britney sáng tác nhạc trên cây đàn piano của cô, và cô đã cùng viết lời với Artani. Nhiều người cho rằng bài hát được là câu trả lời của cô với đĩa đơn "Cry Me a River" của Timberlake. Britney không xác nhận cũng không phủ nhận cáo buộc trên.

"Everytime" là một bản pop ballad với giọng hát thở. Lời bài hát là một lời cầu xin sự tha thứ bởi vô tình làm tổn thương người yêu cũ. "Everytime" đã nhận được đánh giá tích cực từ các nhà phê bình phương Tây, khen ngợi lời bài hát đơn giản nhưng mộc mạc của nó và nó hoàn toàn đặc biệt so với phần còn lại của In the Zone. "Everytime" đã đạt được thành công lớn, khi nằm trong top 5 ở nhiều nước, trong khi đạt đến vị trí quán quân của bảng xếp hạng tại Úc, Hungary, IrelandVương quốc Anh. Britney Spears đã trình diễn bài hát trên các show truyền hình như Saturday Night LiveTop of the Pops. Britney cũng đã biểu diễn "Everytime" trên cây đàn piano với khung cảnh đầy hoa tại tour diễn The Onyx Hotel Tour (2004) và trong khi bị treo trên một chiếc ô khổng lồ tại tour diễn The Circus Starring: Britney Spears (2009). Bài hát cũng được nhiều nghệ sĩ khác cover lại như Glen Hansard and Jackie Evancho.

Lấy cảm hứng từ điện ảnh của phim Leaving Las Vegas, video âm nhạc của "Everytime" miêu tả Britney Spears là một ngôi sao luôn bị săn đuổi bởi những tay săn ảnh, và cuối cùng chết đuối trong bồn tắm của cô khi cô bắt đầu chảy máu từ một vết thương trong đầu cô.[1] Trong bệnh viện, các bác sĩ đã không cứu sống được cô trong khi một đứa trẻ được sinh ra ở phòng bên cạnh, ngụ ý cô đầu thai. Lúc đầu cốt chuyện dự kiến có cảnh Spears tự vẫn bằng một liều ma túy quá liều, nhưng cốt truyện đã được gỡ bỏ sau khi nhận được những lời chỉ trích của một số tổ chức tại Vương quốc Anh và Hoa Kỳ.[2][3]

Danh sách ca khúc và định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng và chứng nhận doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Vineyard, Jennifer (9 tháng 3 năm 2004). “Britney Spears' Puzzling New Video Has Singer Drowning In Fame”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010. 
  2. ^ Vineyard, Jennifer (12 tháng 3 năm 2004). “Britney Spears Removes Suicide Plot From 'Everytime' Video”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  3. ^ “Britney's Video Suicide”. The Sun (News International). 14 tháng 4 năm 2004. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2010. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Britney Spears – Everytime (bài hát)”. Ultratop 50. Hung Medien. 2004. Truy cập 4 tháng 5 năm 2010. 
  5. ^ “allmusic (((Britney Spears > Charts & Awards > Billboard Singles)))”. AllMusic. Truy cập 4 tháng 5 năm 2010. 
  6. ^ a ă â “Britney Spears Everytime”. acharts.us. 2004. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010. 
  7. ^ “Ελληνικό Chart”. IFPI Greece. 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2004. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  8. ^ “Archívum” (bằng tiếng Hungary). Mahasz. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2010. 
  9. ^ “Britney, Keane Control U.K. Charts”. Billboard (Nielsen Company). Truy cập 4 tháng 5 năm 2010. 
  10. ^ "Britney Spears Album & Song Chart History" Billboard Hot 100 của Britney Spears.
  11. ^ "Britney Spears Album & Song Chart History" Billboard Pop Songs của Britney Spears.
  12. ^ "Britney Spears Album & Song Chart History" Billboard Hot Dance Club Play của Britney Spears.
  13. ^ "Britney Spears Album & Song Chart History" Billboard Adult Pop Songs của Britney Spears.
  14. ^ “Archive Chart”. The Official Charts Company. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010. 
  15. ^ “Gold & Platinum Certifications – 2004 Singles”. Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2010. 
  16. ^ “RIAA — Gold & Platinum – ngày 3 tháng 5 năm 2010”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010. 
  17. ^ “IFPI Norsk platebransje”. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. ifpi.no. 2004. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2010. 
  18. ^ “Certifications Silver Singles – 2005”. Syndicat national de l'édition phonographique. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2010. 
  19. ^ “IFPI Sweden: Gold and Platinum Disks – 2004”. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế Thụy Điển. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2010. 
  20. ^ “ARIA Charts — Accreditations – 2004 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010. 
  21. ^ “BPI – Certified Awards Search”. To access, enter the search parameter "Britney Spears" and select "Search by Keyword". Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2011. 
  22. ^ “ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 100 Singles 2004”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2010. 
  23. ^ “Austrian Annual Charts”. Ultratop. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2010. 
  24. ^ “Jaaroverzichten 2004 (Flanders)” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2010. 
  25. ^ “Rapports Annuels 2004 (Wallonia)” (bằng tiếng Pháp). Ultratop. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2010. 
  26. ^ “Swiss Singles Charts”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2010. 
  27. ^ “UK Year-end Singles 2004” (PDF). The Official Charts Company. Chartplus.co.uk. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2011. 
  28. ^ “Billboard Top 100 - 2004”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2010. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  • Everson, Eva Marie (2006), Sex, Lies, and High School, David C. Cook, ISBN 0781443598 
  • Fox, Dominic (2009), Cold World: The Aesthetics of Dejection and the Politics of Militant Dysphoria, O Books, ISBN 1846942179