Gia Luật Bội

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Liêu Nghĩa Tông
Hoàng vương Đông Đan
Tại vị4 tháng 4, 926 - 7 tháng 1, 937
Tiền nhiệmkhông
vua Đại Nhân Soạn của Bột Hải
Kế nhiệmĐoan Thuận Hoàng hậu
(nhiếp chính)
Hoàng thái tử Đại Khiết Đan Quốc
Tại vị6 tháng 4, 916 - 11 tháng 12, 927
Tiền nhiệmkhông
Kế nhiệmGia Luật Lý Hồ
(hoàng thái đệ)
Thông tin chung
Thê thiếpXem văn bản
Hậu duệXem văn bản
Tên đầy đủ
Gia Luật Bội
Niên hiệu
Lam Lộ (926-936)
Thụy hiệu
Văn Vũ Nguyên Hoàng vương
Nhượng Quốc Hoàng đế
Văn Hiến Khâm Nghĩa Hoàng đế
Miếu hiệu
Nghĩa Tông
Hoàng tộcGia Luật
Thân phụLiêu Thái Tổ
Thân mẫuThuật Luật Bình
Sinh899
Mất7 tháng 1, 937
An tángHiển Lăng (顯陵)

Gia Luật Bội (tiếng Trung: 耶律倍; bính âm: Yelü Bèi, sinh 899[1]-7 tháng 1 năm 937[2]), cũng được biết đến với tên Gia Luật Đột Dục (耶律突欲) hay Gia Luật Đồ Dục (耶律圖欲), hiệu Nhân Hoàng vương (人皇王), và sau đổi tên là Đông Đan Mộ Hoa rồi Lý Tán Hoa với thân phận một thần dân Hậu Đường, sau truy phong làm Liêu Nghĩa Tông. Ông là trưởng tử của Liêu Thái Tổ, người sáng lập ra Nhà Liêu. Ông được tuyên bố là người kế vị Thái Tổ vào năm 916, song đã không bao giờ bước lên ngai vàng Khiết Đan. Thay vào đó, người kế vị là hoàng đệ Gia Luật Đức Quang, tức Liêu Thái Tông, Gia Luật Bội đã phải chạy trốn đến lãnh thổ triều Hậu Đường của người Sa Đà tại Trung Nguyên rồi bị giết năm 937.

Thân phận[sửa | sửa mã nguồn]

Gia Luật Bội sinh năm 899, trước khi Đại Khiết Đan Quốc được thành lập (chính quyền sau này trở thành nhà Liêu). Cha ông là tù trưởng Gia Luật A Bảo Cơ, và mẹ của ông là Thuật Luật Bình; ông là trưởng tử. Trong Liêu sử, ông được mô tả là thông minh và chăm chỉ khi còn trẻ tuổi, với một phong thái thanh thản và một tấm lòng yêu thương.[1]

Năm 916, khi Gia Luật A Bảo Cơ xưng làm hoàng đế của Đại Khiết Đan Quốc, tức Liêu Thái Tổ,[3] ông đã lập Gia Luật Bội làm hoàng thái tử. Khi Thái Tổ hỏi các tùy tùng của mình rằng nên cúng tế cho vị thần thánh nào trước tiên khi trở thành hoàng đế, tùy tùng của ông phần lớn đều tán thành cúng tế Phật. Khi Thái Tổ hoàng đế chỉ ra rằng Phật không phải là một thần thánh Trung Hoa, Gia Luật Bội đã tán thành cúng tế Khổng Tử trước tiên. Thái Tổ hài lòng với ý kiến này và đã cho xây một đền thờ Khổng Tử, sai Gia Luật Bội đến cúng tế Khổng Tử hai lần mỗi năm.[1]

Gia Luật Bội sau đó phụng sự như một chỉ huy tiền tuyến của Thái Tổ trong các chiến dịch chống lại người Ô Cổ (烏古) và người Đảng Hạng. Sau đó, trong các cuộc xâm nhập mà Thái Tổ hoàng đế thực hiện vào nước Tấn của người Sa Đà, đặc biệt là Lô Long (盧龍, sở chỉ huy đặt tại Bắc Kinh ngày nay) — ông ta đã để Gia Luật Bội trông nom kinh thành Lâm Hoàng[4] của Khiết Đan. Trong thời gian này, Gia Luật Bội được cho là đã phác thảo một kế hoạch chinh phục vương quốc Bột Hải, nước láng giềng phía đông của Khiết Đan.[1]

Hoàng vương Đông Đan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 926, Thái Tổ quyết định tiến hành kế hoạch chinh phục Bột Hải. Trong chiến dịch, Bội đã chiếm được trọng thành Phù Dư[5] của Bột Hải.[6] (Điều này được xem là dấu chấm hết cho nước Bột Hải, ngay cả khi vào lúc đó Thái Tổ vẫn chưa chiếm được kinh thành Long Tuyền của Bột Hải.)[7] Thái Tổ đã lập ra vương quốc Đông Đan trên lãnh thổ cũ của Bột Hải, với kinh thành đặt ở Phù Dư, và lập Gia Luật Bội làm vương, tước hiệu Nhân Hoàng vương (人皇王), ứng với tước hiệu của bản thân Thái Tổ hoàng đế là Thiên Hoàng đế và tước hiệu của hoàng hậu của ông là Địa Hoàng hậu. Thái Tổ trao cho con thứ Gia Luật Đức Quang hiệu Nguyên soái thái tử và cho Gia Luật Đức Quang thay thế Gia Luật Bội trông nom Lâm Hoàng.[6]

Tuy nhiên, một thời gian sau khi chinh phục thành Phù Dư, Thái Tổ lâm bệnh và qua đời ở Phù Dư. Thuật Luật hoàng hậu nắm quyền lãnh đạo trên thực tế của Đại Khiết Đan Quốc, và bà cùng Gia Luật Bội bắt đầu chuyến đi đưa lĩnh cữu về Lâm Hoàng. Hoàng hậu không muốn Gia Luật Bội kế vị do bà yêu mến Gia Luật Đức Quang hơn. Tuy nhiên, về mặt chính thức, bà đã triệu tập một cuộc họp gồm các tù trưởng, cùng với Gia Luật Bội và Gia Luật Đức Quang, và nói với họ rằng: Ta yêu mến cả hai hoàng nhi của ta, và ta không biết chọn ai để làm hoàng đế. Các ngươi có thể quyết định người mà các người muốn ủng hộ lên nắm giữ ngôi vị. Các tù trưởng biết rằng bà yêu mến Gia Luật Đức Quang nên đã ủng hộ và trao ngai vàng cho Gia Luật Đức Quang. Do đó, Thuật Luật Bình tuyên bố Gia Luật Đức Quang là hoàng đế, tức Thái Tông. Gia Luật Bội giận dữ trước sự thay đổi này nên đã đem theo vài trăm lính và muốn chạy trốn đến Hậu Đường (nhà nước hậu thân của Tấn), song bị lính canh biên giới Khiết Đan chặn lại. Thuật Luật Bình đã không trừng phạt Gia Luật Bội, song cử ông đến Đông Đan.[6][8]

Sau khi đăng cơ, Thái Tông trở nên nghi ngờ rằng huynh trưởng có ý định đoạt ngôi, và do đó đã cho di dời kinh đô Đông Đan đến Đông Bình[9] và cưỡng bách những người Bột Hải cũ đến Đông Bình. Ông cũng cho cận binh cung đình giám sát các hành động của Gia Luật Bội. Khi Hậu Đường Minh Tông biết được điều này, ông ta đã cử các mật sứ đến khuyên Gia Luật Bội chạy trốn đến Hậu Đường. Gia Luật Bội bình rằng Ta nhường đế quốc cho hoàng đế, song nay ta bị ngờ vực. Sẽ tốt hơn khi ta đi đến một nước khác mà ở đó ta có thể giống như Ngô Thái Bá. Ông mang theo sủng thiếp Cao thị cùng bộ sách to lớn của mình, lên một con thuyền và đi đến Hậu Đường.[1] Năm 930, ông đến Đăng Châu của Hậu Đường.[10] (Nhân hoàng vương phi Tiêu thị của Gia Luật Bội và trưởng tử Gia Luật Nguyễn đã không theo ông đến Hậu Đường, Tiêu hoàng vương phi sau đó tiếp tục cai trị nước Đông Đan cho đến khi bà qua đời vào năm 940, trong khi Gia Luật Nguyễn cuối cùng đã kế vị Thái Tông, thành hoàng đế.)[11][12]

Thần dân Hậu Lương[sửa | sửa mã nguồn]

Kỵ xạ đồ (騎射圖) được cho là do Gia Luật Bội họa, Bảo tàng Cố cung Quốc lập

Dưới thời Hậu Đường Minh Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 931, Hậu Đường Minh Tông phong cho Da Luật Bội chức tiết độ sứ của Hoài Hóa[13], và ban cho cho ông tên mới là Đông Đan Mộ Hoa. Sau đó trong cùng năm, ông tiếp tục đổi tên từ Đông Đan Mộ Hoa sang Lý Tán Hoa (李贊華), lấy quốc tính của Hậu Đường, và sử dụng tên gọi này trong suốt quãng đời còn lại. Tuy nhiên, đã không có dấu hiệu gì chứng tỏ rằng Lý Tán Hoa từng đến Hoài Hóa, và vào năm 932, Minh Tông hoàng đế thay vào đó đã tuyên bố một ý định phong cho Gia Luật Bội làm chỉ huy ở phía nam Hoàng Hà. Khi bị các đại thần trong triều đình Hậu Đường phản đối, Đường Minh Tông đã tuyên bố rằng: Phụ thân hắn và trẫm từng đồng ý làm huynh đệ kết nghĩa, và đó là lý do vì sao Tán Hoa đến chỗ trẫm. Ông ta phong Lý Tán Hoa làm tiết độ sứ của Nghĩa Thành[14], song chọn một quan viên có tài để cai quản trên thực tế.

Hậu Đường Minh Tông đã trao Hạ Tân phi của Hậu Đường Trang Tông tiền nhiệm cho Lý Tán Hoa làm trắc thất. Hậu Đường Trang Tông cũng khoan dung với Lý Tán Hoa và ngay cả khi Lý Tán Hoa phạm tội, ông ta cũng không trừng phạt. Tuy nhiên, Lý Tán Hoa được thuật lại là đối xử tàn ác với thê thiếp và nô bộc của mình — như ông thích uống máu, các thê thiếp của ông thường xuyên phải làm tổn tương bản thân để họ có máu cho ông uống, và các nô bộc thường phải chịu những hình phạt rất khắc nghiệt, bao gồm cả việc bị móc mắt, bị chém bằng kiếm, hoặc bị đốt trong lửa, vì các lỗ nhỏ nhặt. Hạ thị cuối cùng đã không thể cam chịu cảnh này, sau khi thỉnh cầu sự cho phép của Minh Tông, bà đã ly hôn với Lý Tán Hoa và trở thành ni cô.[10] Tuy nhiên, mặc dù tàn ác, song Lý Tán Hoa được thuật lại là rất có tài. Ông thông hiểu thuật bói toán và âm nhạc, và rất có tài về y thuật. Ông có thể viết cả chữ Khiết Đanchữ Hán, và đã dịch Hoàng Đế Âm Phù Kinh sang tiếng Khiết Đan. Ông đặc biệt nổi tiếng với các bức họa về người và cảnh vật Khiết Đan, và nhiều trong số các bức họa của ông cuối cùng được đưa vào các bộ su tập cung đình của nhà Tống vài thập niên sau đó.[1] Năm 933, ông được triệu hồi từ Nghĩa Thành và được trao tước hiệu hoàn toàn mang tính danh dự là tiết độ sứ của Chiêu Tín (昭信, trị sở nay thuộc Cám Châu, tỉnh Giang Tây), lý do là vì lãnh thổ Chiêu Tín khi đó nằm dưới quyền cai quản của nước Ngô.[15]

Mặc dù phải chạy sang lãnh thổ Hậu Đường và trở thành một thần dân của Hậu Đường, song Lý Tán Hoa tiếp tục duy trì các liên lạc với mẹ và hoàng đệ, thường sử các phái viên đến chỗ họ. Thông tin cũng đến theo đường khác, như khi tổ mẫu của ông là Tiêu Nham Mẫu Cân qua đời vào năm 933, mẹ và hoàng đệ của ông đã báo tin cho ông.[11]

Sau thời Minh Tông[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng vào năm 933, Minh Tông hoàng đế băng hà, và người kế vị ban đầu là nhi tử Tống vương Lý Tùng Hậu, tức Mẫn Đế.[16] Năm 934, con nuôi của Minh Tông là Lộ vương Lý Tùng Kha đã lật đổ Mẫn Đế lên làm vua.[17] Lý Tán Hoa đã mật báo với Liêu Thái Tông đây là cơ hội tốt để xâm lược Hậu Đường, song Thái Tông sau đó đã không có hành động nào.[1]

Trong nhiều năm, có vẻ như vì sự hiện diện của Lý Tán Hoa tại Hậu Đường và thực tế là Hậu Đường đã chiếm được một số châu huyện quan trọng của Khiết Đan, Thuật Luật thái hậu đã nhiều lần tìm cách liên minh hòa thân giữa Khiết Đan và Hậu Đường. Vào đầu năm 936, Lý Tùng Kha do sợ hãi trước viễn cảnh Thạch Kính Đường, tiết độ sứ của Hà Đông có thể nổi dậy và tranh thủ viện trợ của Khiết Đan khi hành động, vì thế Lý Tùng Kha đã lệnh cho các quan của mình là Lý Tung (李崧) và Lã Kỳ (呂琦) phác thảo một kế hoạch dùng khi một liên minh như vậy được thiết lập, song sau đó đã bãi bỏ kế hoạch.[18]

Cùng năm đó, Thạch Kính Đường đã nổi dậy, quân Hậu Đường ban đầu thành công trong việc tiến đến Thái Nguyên và bao vây thành. Tuy nhiên, sau đó họ đã bị đè bẹp trước viện binh mà Thái Tông hoàng đế của Khiết Đan đích thân chỉ huy và bị mắc bẫy quân Khiết Đan tại Tấn An trại[19]. Khi Lý Tùng Kha tím kiếm lời khuyên từ các quan tướng của mình, Long Mẫn (龍敏) đã đề xuất Lý Tùng Kha lập Lý Tán Hoa làm vua Khiết Đan và cử một đội quân để hộ tống Lý Tán Hoa vào lãnh thổ Khiết Đan, mục đích là để mở một mặt trận thứ hai chống vua Khiết Đan. Lý Tùng Kha ban đầu đã tán thành kế hoạch, song do nhiều quần thần có quyền lực phản đối, ông tin rằng kế hoạch là vô ích, và cuối cùng đã không thực hiện.[2]

Cuối cùng, Liêu Thái Tông đã lập Thạch Kính Đường làm hoàng đế Hậu Tấn, tức Hậu Tấn Cao Tổ. Thạch Kính Đường sau đó đã tiến xuống phía nam, với hỗ trợ của Khiết Đan, tiến về kinh thành Lạc Dương của Hậu Đường. Với việc các tướng Hậu Đường lũ lượt đào ngũ sang phía Hậu Tấn, Lý Tùng Kha đã tập hợp hoàng tộc và các tướng trung thành với ông vào hoàng cung, có ý định tự vẫn bằng cách đốt cung điện.[2] Tuy nhiên, khi ông ta triệu Lý Tán Hoa đến, Lý Tán Hóa đã từ chối tham gia tự sát tập thể, vì vậy Lý Tùng Kha đã cử Lý Ngạn Thân (李彥紳) đến giết Lý Tán Hoa vào ngày Đinh Sửu (22) tháng 11 nhuận năm Bính Thân (tức 7 tháng 1 năm 937). Sau khi Tấn đế tiến vào Lạc Dương, truy phong thụy hiệu cho Lý Tán Hoa là Yên vương, và cho đưa di hài của ông trở về Khiết Đan.[1][2] Sau con của Gia Luật Bội là Gia Luật Nguyên lên làm vua, truy tôn cha mình thụy hiệu Văn Hiến Khâm Nghĩa Hoàng đế (文獻欽義皇帝) và miếu hiệu Nghĩa Tông.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Phi tần[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tiêu hoàng hậu, chính thất, người Khiết Đan, nương gia nhân của Thuật Luật Bình - mẹ Gia Lật Bội, thái tử phi, Đông Đan hoàng vương phi. Sau khi Gi Luật Bội chạy trốn đến Hậu Đường, bà giữ chức nhiếp chính nước Đông Đan.
  • Hạ thị, trắc thất, nguyên là Tần phi của Hậu Đường Trang Tông, sau khi Da Luật Bội chạy trốn đến Hậu Đường, do Hậu Đường Minh Tông ban hôn ước nên về làm thiếp của Gia Luật Bội. Về sau, do Da Luật Bội hung tàn, bà ly hôn và trở thành ni cô.
  • Tiêu hoàng hậu, người Khiết Đan, nương gia nhân của Thuật Luật Bình, sau khi nhi tử Da Luật Nguyễn tức vị, được tôn làm hoàng thái hậu.
  • Đại thị, trắc thất, người Túc Mạt Mạt Hạt, thành viên vương tộc Bột Hải.
  • Cao thị, trắc thất, người Hán, cùng Gia Luật Bội chạy trốn đến Hậu Đường.

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e Liêu sử, quyển 72.
  2. ^ a ă â b Tư trị thông giám, quyển 280.
  3. ^ Tư trị thông giám, vol.quyển 269.
  4. ^ 臨潢, nay thuộc Xích Phong, Nội Mông
  5. ^ 夫餘, nằm ở Tứ Bình, tỉnh Cát Lâm ngày nay
  6. ^ a ă â Tư trị thông giám, quyển 275.
  7. ^ Tư trị thông giám bản Bá Dương, quyển 68 [926].
  8. ^ Liêu sử miêu tả rằng Gia Luật Bội đã tự nguyện nhường ngôi vị cho Thái Tông hoàng đế, song điều đó không phù hợp với các hành động sau này của ông ta. Xem Liêu sử, quyển 72.
  9. ^ 東平, nay thuộc Liêu Dương, tỉnh Liêu Ninh
  10. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 277.
  11. ^ a ă Liêu sử, quyển 3.
  12. ^ Liêu sử, quyển 4.
  13. ^ 懷化, trị sở nay thuộc Bảo Định, tỉnh Hà Bắc
  14. ^ 義成, trị sở nay thuộc An Dương, tỉnh Hà Nam
  15. ^ Cựu Ngũ Đại sử, quyển 44.
  16. ^ Tư trị thông giám, quyển 278.
  17. ^ Tư trị thông giám, quyển 279.
  18. ^ Tư trị thông giám, quyển 280.
  19. ^ 晉安寨, gần Thái Nguyên