Hội đồng Quân nhân Cách mạng (Việt Nam Cộng hòa)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Việt Nam Cộng hòa
19631964

Tổng quan
Vị trí của Việt Nam Cộng hòa trong châu Á
Vị trí của Việt Nam Cộng hòa trong châu Á
Thủ đôSài Gòn
Ngôn ngữ thông dụngTiếng Việt
Chính trị
Chính phủĐộc tài quân sự
Chủ tịch 
• 19631964
Dương Văn Minh
• 1964
Nguyễn Khánh
• 1964
Tam đầu chế
Nguyễn Khánh
Dương Văn Minh
Trần Thiện Khiêm
Lịch sử
Thời kỳChiến tranh Lạnh
1 tháng 11 năm 1963
30 tháng 1 năm 1964
16 tháng 8 năm 1964
• Chấm dứt hoạt động
26 tháng 10 năm 1964
Kinh tế
Đơn vị tiền tệĐồng
Tiền thân
Kế tục
Đệ Nhất Cộng hòa
Thượng Hội đồng Quốc gia
Hiện nay là một phần của Việt Nam

Hội đồng Quân nhân Cách mạng là danh xưng phổ biến của nhóm tướng lĩnh Quân đội Việt Nam Cộng hòa thực hiện cuộc đảo chính lật đổ nền Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam của Tổng thống Ngô Đình Diệm và nắm thực quyền lãnh đạo về chính trị và quân sự suốt thời gian gần một năm (từ 1 tháng 11 năm 1963 đến 26 tháng 10 năm 1964) trên chính trường Việt Nam Cộng hòa.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi cuộc đảo chính 1963 nổ ra ngày 1 tháng 11 năm 1963 và quân đảo chính chiếm được đài phát thanh, nhóm các tướng lĩnh lãnh đạo cuộc đảo chính đã ra thông báo về việc thành lập Hội đồng Quân nhân Cách mạng với 20 thành viên. Hội đồng cũng công bố một quyết nghị về việc truất phế Tổng thống Ngô Đình Diệm và giải tán Chính phủ với nội dung như sau:[1]

Ngày 4 tháng 11 năm 1963, Hội đồng công bố danh sách Ban Chấp hành gồm các thành viên như sau:[2]

  1. Trung tướng Dương Văn Minh: Chủ tịch Hội đồng
  2. Trung tướng Trần Văn Đôn: Đệ Nhất Phó Chủ tịch
  3. Trung tướng Tôn Thất Đính: Đệ Nhị Phó Chủ tịch
  4. Trung tướng Trần Văn Minh: Ủy viên Kinh tế
  5. Trung tướng Phạm Xuân Chiểu: Ủy viên An ninh
  6. Trung tướng Trần Thiện Khiêm: Ủy viên Quân vụ
  7. Thiếu tướng Đỗ Mậu: Ủy viên Chính trị
  8. Trung tướng Lê Văn Kim: Ủy viên Ngoại giao kiêm Tổng Thư ký
  9. Trung tướng Mai Hữu Xuân: Ủy viên
  10. Trung tướng Lê Văn Nghiêm: Ủy viên
  11. Thiếu tướng Nguyễn Văn Thiệu: Ủy viên
  12. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Có: Ủy viên

Đồng thời Hội đồng ra Hiến ước số 1, tuyên bố hủy bỏ Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 và giải tán Quốc hội vừa mới xong tuyển cử ngày 27 tháng 9 năm 1963, đặt quyền lực quốc gia vào tay Quân đội. Hội đồng cũng công bố Sắc lệnh số 01/HĐQN cử cựu Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ làm Thủ tướng Chính phủ lâm thời và trình phương án nhân sự Chính phủ để Hội đồng thông qua.

Hội đồng Quân nhân Cách mạng cũng cho thành lập Hội đồng Nhân sĩ để làm cơ quan cố vấn.

Hai ngày sau, ngày 6 tháng 11 năm 1963, Hội đồng Quân nhân Cách mạng và Chính phủ lâm thời tổ chức ra mắt tại trụ sở Bộ Tổng tham mưu. Thành phần Chính phủ lâm thời được công bố như sau:

Chỉnh lý 30/1/1964[sửa | sửa mã nguồn]

Vào rạng sáng ngày 30 tháng 1 năm 1964 tướng Nguyễn Khánh làm cuộc "chỉnh lý" lên nắm chức Chủ tịch Hội đồng và bắt giải bốn tướng Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất ĐínhNguyễn Văn Vỹ lên Đà Lạt, còn Mai Hữu Xuân bị an trí ở Huế. Thủ tướng Nguyễn Ngọc Thơ cũng bị bắt nhưng được trả tự do ngay.

Ngày 31 tháng 1, tướng Nguyễn Khánh họp báo, tuyên bố được Hội đồng Quân nhân Cách mạng cử làm Chủ tịch kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội. Hội đồng Quân nhân Cách mạng được đổi tên thành "Hội đồng Quân đội Cách mạng". Ngày 1-2, chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ bị giải tán. Ngày 7-2, Hội đồng Quân đội Cách mạng quyết định cử tướng Dương Văn Minh giữ quyền hành Quốc trưởng và cử tướng Nguyễn Khánh thành lập chính phủ. Các tướng Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Văn ThiệuĐỗ Mậu đứng cùng phe với tướng Khánh. Ngày 8-2-1964, chính phủ Nguyễn Khánh ra đời:

Tháng 8 năm 1964, để tạo cơ sở pháp lý, Hội đồng Quân nhân, đứng đầu là Chủ tịch Nguyễn Khánh, cho soạn Hiến chương Vũng Tàu nhưng cố gắng này bị dân chúng xuống đường phản đối. Nhiều cuộc biểu tình diễn ra đòi giải tán Hội đồng khiến Nguyễn Khánh phải nhượng bộ. Cuối tháng 8, Hội đồng biểu quyết tự giải tán, nhường chỗ cho Ủy ban Lãnh đạo lâm thời dưới sự chủ tọa của Tam đầu chế: Nguyễn Khánh, Dương Văn MinhTrần Thiện Khiêm.

Tháng 9 năm 1964, Ủy ban ra hai quyết nghị thi hành trong thời hạn hai tháng:

  1. Thành lập Thượng Hội đồng Quốc gia
  2. Triệu tập Quốc hội để soạn Hiến pháp mới hầu giao quyền lại cho Chính phủ dân sự.

Ngày 9-9-1964, các ông Bùi Tường Huân, Trần Quang Thuận và các tướng lĩnh trong chính phủ Nguyễn Khánh đưa đơn từ chức. Tướng Dương Ngọc Lắm (Đô trưởng Sài Gòn - Chợ Lớn) được ông Trần Văn Hương thay thế, và Đại tá Nguyễn Quang Sanh thay thế Trần Văn Bền làm Tổng Giám đốc Công an. Các tướng Xuân, Đôn, Kim, Đính, Vỹ được trả tự do trở về Sài Gòn.

Ngày 13-9-1964 Trung tướng Dương Văn Đức và Thiếu tướng Lâm Văn Phát kéo quân về Sài Gòn - Gia Định chiếm đóng một số địa điểm, đả kích tướng Nguyễn Khánh (đang ở Đà Lạt). Ngày 14-9, các tướng lĩnh họp tại Bộ Tư lệnh Không quân, lệnh cho tướng Dương Văn Đức phải rút quân về các vị trí cũ, nếu không sẽ cho phi cơ tấn công. Tướng Dương Văn Đức nhượng bộ rút quân nên đã không xảy ra vụ xô xát nào. Ngày 16-9, Thủ tướng Nguyễn Khánh trở về Sài Gòn ra lệnh điều tra vụ đảo chính hụt, một số tướng tá liên quan bị cách chức trong đó có Trung tướng Dương Văn Đức, Thiếu tướng Dương Ngọc Lắm.

Ngày 26 tháng 9, Thượng Hội đồng Quốc gia ra mắt quốc dân, chính thức chấm dứt sự lãnh đạo của Ủy ban Lãnh đạo lâm thời vào ngày 26 tháng 10 năm 1964.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bản lưu tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2.
  2. ^ Saigon Round Up, số ra ngày 8 tháng 11 năm 1963.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dommen, Arthur. The Indochinese Experience of the French and the Americans, Nationalism and Communism in Cambodia, Laos, and Vietnam. Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 2001. Trang 565-625.