Into the New World (chuyến lưu diễn)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Into the New World
Áp phích quảng bá cho Into the New World
Chuyến lưu diễn châu Á của Girls' Generation
Quốc giachâu Á
AlbumGirls' Generation & Oh!
Ngày bắt đầu19 tháng 12, 2009 (2009-12-19)
Ngày kết thúc17 tháng 10, 2010 (2010-10-17)
Số chặng diễn3
Số buổi diễn4 tại Hàn Quốc
1 tại Trung Quốc
2 tại Đài Loan
Thứ tự chuyến lưu diễn của Girls' Generation
Into the New World
(2009–2010–2011)
The 1st Japan Arena Tour (2011)

Girls' Generation 1st Asia Tour: Into the New World là chuyến lưu diễn châu Á đầu tiên của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc Girls' Generation, bắt đầu với hai buổi diễn tại Seoul vào tháng 12 năm 2009.[1]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyến lưu diễn được SM Entertainment công bố vào tháng 11 năm 2009.[2] Vé bắt đầu được bán vào ngày 19 tháng 11 năm 2009[2] và hết sạch trong vòng 3 phút.[3]

Đã có khoảng 24,000 khán giả tham dự buổi diễn ở Sân vận động Đài Bắc tại Đài Loan vào hai ngày 16 và 17 tháng 10 năm 2010, giúp Girls' Generation lập kỷ lục buổi diễn của một nhóm nhạc nữ nước ngoài có nhiều khán giả nhất.[4]

Ban đầu chuyến lưu diễn bao gồm hai buổi diễn tại Hàn Quốc vào các ngày 19 và 20 tháng 12 năm 2009.[5] Nhưng sau đó hai buổi diễn nữa đã được bổ sung vào các ngày 27 và 28 tháng 2 năm 2010[6] với một số thay đổi trong danh sách các màn biểu diễn.[7] Thành viên nhóm Super Junior Eunhyuk không thể tham dự hai buổi diễn này do nhiễm virus cúm A H1N1 nên được thay thế bởi LeeteukHeechul.[8]

Buổi diễn tại Bangkok vào ngày 24 tháng 7 năm 2010 đã bị hoãn vô thời hạn do cuộc biểu tình chính trị ở Thái Lan năm 2010.

Album trực tiếp Into the New World bao gồm những tiết mục trong buổi diễn tại Seoul và được phát hành vào ngày 30 tháng 12 năm 2010 tại Hàn Quốc.

Danh sách các màn biểu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Seoul (19 & 20 tháng 12 năm 2009)

Main Set[9]

  1. "소원을 말해봐" ("Tell Me Your Wish (Genie)") (Remix)"
  2. "콘서트 첫공개" ("Show Me")
  3. "소녀시대" ("Girls' Generation")
  4. "Beginning (Remix)"
  5. "It's Fantastic"
  6. "Etude"
  7. "울랄라" ("Ooh La La")
  8. "Kissing You (Remix)"
  9. "1년 후" ("One Year Later") (Jessica song ca cùng với Onew của SHINee)
  10. "Umbrella" (Tiffany solo)
  11. "Hush Hush" (Taeyeon solo)
  12. "좋은 사람 소개시켜줘" ("Introduce Me a Good Person") (Yoona solo cùng với Shindong & Eunhyuk của Super Junior)
  13. "Sunny" (Sunny solo)
  14. "Chocolate Love"
  15. "Destiny"
  16. "Honey"
  17. "Merry Go Round"
  18. "Dear. Mom"
  19. "Day by Day"
  20. "동화" ("My Child")
  21. "Barbie Girl" (Jessica solo cùng với Key của SHINee)
  22. "Santa Baby" (Sooyoung solo)
  23. "16 Going on 17" (Seohyun solo)
  24. "Singin' in the Rain"
  25. "Somewhere Over The Rainbow" (Taeyeon, Jessica, Sunny và Seohyun)
  26. "Chu~♡" (f(x))
  27. "1, 2 Step" (Yuri solo cùng với Amber của f(x))
  28. "Tell Me Your Wish (Poppin' Remix)" và "Tipsy" (Hyoyeon nhảy solo)
  29. ""Rhythm Nation" (Yoona, Sooyoung, Yuri & Hyoyeon)
  30. "다시만난세계" ("Into the New World")
  31. "Be Happy"
  32. "힘내" ("Him Nae (Way to Go)")
  33. "Gee"
  34. "Touch the Sky"

Encore[9]

  1. "앵콜첫곡" ("Naengmyun")
  2. "하하하송" ("HaHaHa")
  3. "Complete"
  4. "더블앵콜" ("Baby Baby")
  5. "Oh!"
Thượng Hải (17 tháng 4 năm 2010)

Main Set[9]

  1. "Tell Me Your Wish (Genie) (Remix)"
  2. "Show! Show! Show!"
  3. "Girls' Generation"
  4. "Beginning"
  5. "It's Fantastic!"
  6. "Etude (Remix)"
  7. "Ooh la la"
  8. "Kissing You (Remix)"
  9. "One Year Later" (Jessica song ca cùng với Onew của SHINee)
  10. "Umbrella" (Tiffany solo)
  11. "Hush Hush" (Taeyeon solo)
  12. "Introduce A Good Person" (Yoona solo cùng với Key và Taemin của SHINee)
  13. "Sunny" (Sunny solo)
  14. "Chocolate Love (phiên bản Retro-pop)"
  15. "Honey"
  16. "Dear Mom"
  17. "Forever"
  18. "Day By Day"
  19. "My Child"
  20. "Barbie Girl" (Jessica solo cùng với Key của SHINee)
  21. "16 Going On 17" (Seohyun solo)
  22. "Singin' In The Rain"
  23. "Somewhere Over The Rainbow" (Taeyeon, Jessica, Sunny và Seohyun)
  24. "Ring Ding Dong" (SHINee)
  25. "If U Seek Amy" (Sooyoung solo)
  26. "Genie (Poppin' Remix)" + "So Sick" (Hyoyeon nhảy solo)
  27. "1, 2 Step" (Yuri solo cùng với Minho của SHINee)
  28. "Rhythm Nation" (Hyoyeon, Yoona, Yuri & Sooyoung)
  29. "Into The New World (Remix)"
  30. "Be Happy"
  31. "Way To Go"
  32. "Gee"
  33. "Touch The Sky"

Encore #1

  1. "Naengmyun"
  2. "Hahaha"
  3. "Complete"

Encore #2

  1. "Baby Baby"
  2. "Oh!"
Đài Bắc (16 và 17 tháng 10 năm 2010)

Main Set[9]

  1. "Tell Me Your Wish (Genie) (Remix)"
  2. "Show! Show! Show!"
  3. "Girls' Generation"
  4. "Beginning"
  5. "It's Fantastic!"
  6. "Etude (Remix)"
  7. "Ooh la la"
  8. "Kissing You (Remix)"
  9. "Umbrella" (Tiffany solo)
  10. "Hush Hush" (Taeyeon solo)
  11. "Introduce A Good Person" (Yoona solo cùng với Leeteuk và Donghae của Super Junior)
  12. "Sunny" (Sunny solo)
  13. "Chocolate Love (phiên bản Retro-pop)"
  14. "Honey"
  15. "Dear Mom"
  16. "Forever"
  17. "Day By Day"
  18. "My Child"
  19. "Barbie Girl" (Jessica solo cùng với Donghae của Super Junior)
  20. "16 Going On 17" (Seohyun solo)
  21. "Singin' In The Rain"
  22. "Somewhere Over The Rainbow" (Taeyeon, Jessica, Sunny và Seohyun)
  23. "If U Seek Amy" (Sooyoung solo)
  24. "카라멜 커피 (Talk to Me)"(Jessica & Tiffany song ca)
  25. "1, 2 Step" (Yuri solo cùng với Tiffany)
  26. "Rhythm Nation" (Hyoyeon, Yoona, Yuri & Sooyoung)
  27. "Into The New World (Remix)"
  28. "Be Happy"
  29. "Way To Go"
  30. "Gee"
  31. "Touch The Sky"

Encore #1

  1. "Naengmyun"
  2. "Hahaha"
  3. "Complete"

Encore #2

  1. "Baby Baby"
  2. "Oh!"

Lịch diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Thành phố Quốc gia Địa điểm Khách mời
19 tháng 12 năm 2009 Seoul Hàn Quốc Olympic Fencing Gymnasium f(x), Onew và Key của Shinee, Shindong, LeeteukEunhyuk của Super Junior
20 tháng 12 năm 2009
27 tháng 2 năm 2010 Leeteuk và Heechul của Super Junior
28 tháng 2 năm 2010
17 tháng 4 năm 2010 Thượng Hải Trung Quốc Sân vận động Trong nhà Thượng Hải SHINee
16 tháng 10 năm 2010 Đài Bắc Đài Loan Sân vận động Đài Bắc Leeteuk và Donghae của Super Junior[10]
17 tháng 10 năm 2010

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 소녀시대, 첫 단독 콘서트 (Girls' Generation's First Independent Concert). Jeonbukjoongang Shinmun. ngày 20 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. (tiếng Hàn)
  2. ^ a ă Lynn, Kim (ngày 11 tháng 11 năm 2009). “Girls' Generation to embark on Asia tour next month”. Asia Economy. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2009. 
  3. ^ “Girls' Generation Gig Sells Out in 3 Minutes”. Chosun Ilbo. Ngày 24 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2009. 
  4. ^ “少女時代、台湾コンサート最多観客記録”. Innolife. 18 tháng 10 năm 0201. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2012.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  5. ^ Han Sang, Hee (ngày 11 tháng 11 năm 2009). “Girls’ Generation to Hold Asian Tour”. Korea Times. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2009. 
  6. ^ Yang, Ji-won "소녀시대, 팬 기대에 보답 단독 콘서트 한번 더" (Girls' Generation Answers Fan Demands..."Encore Concert One More Time"). JoongAng Ilbo. ngày 12 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. (tiếng Hàn)
  7. ^ Yang Ji-won "SNSD "Encore Concert? It's A Little Different" S.P.N. Daily. ngày 25 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2010 (tiếng Hàn)
  8. ^ Hong, Lucia (ngày 26 tháng 12 năm 2010). “Super Junior member Eunhyuk diagnosed with influenza flu”. 10 Asia. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2012. 
  9. ^ a ă â b Han Sang, Hee (ngày 21 tháng 12 năm 2009). “Girls’ Generation Impresses Fans With First Concert”. Korea Times. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2009. 
  10. ^ Hong, Lucia (ngày 18 tháng 10 năm 2010). “Girls' Generation holds sold-out concerts in Taiwan”. 10 Asia. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012.