Jessica Jung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Jessica (ca sĩ))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jessica Jung
Jessica Jung at Incheon Airport on May 22, 2015.jpg
Jessica Jung năm 2015
Sinh Jessica Sooyoun Jung
18 tháng 4, 1989 (27 tuổi)
San Francisco, California, United States
Công việc
  • Ca sĩ
  • diễn viên
  • người viết nhạc
Năm hoạt động 2007–hiện tại
Cha mẹ Lee Jung-suk (mẹ)
Người thân Krystal Jung (em gái)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ Thanh nhạc
Năm hoạt động 2007–nay
Hãng đĩa
Hợp tác với
Tên thật
Hangul 정수연
Hanja
Romaja quốc ngữ Jeong Su-yeon
McCune–Reischauer Chŏng Suyŏn
Hán-Việt Trịnh Tú Nghiên
Nghệ danh
Hangul 제시카 정
Hanja 西
Romaja quốc ngữ Jesika Jeong
McCune–Reischauer Chesik'a Chŏng
Hán-Việt Khiết Tây Tạp Trịnh

Jessica Sooyoun Jung (sinh ngày 18 tháng 4 năm 1989)[1] với nghệ danh Jessica là nữ ca sĩ, diễn viên, nhà thiết kế thời trang và doanh nhân người Mỹ gốc Hàn Quốc, cựu thành viên của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc Girls' Generation ra mắt vào năm 2007. Vào đầu năm 2014, Jessica thành lập thương hiệu thời trang cá nhân Blanc & Eclare.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Jessica sinh ra tại San Francisco, California, Mỹ. Gia đình cô di cư sang Mỹ từ những năm 80 và trở về Hàn Quốc năm Jessica 11 tuổi.[2] Bố của Jessica là luật sư kiêm nghề tay trái là võ sĩ quyền anh còn mẹ là bà Lee Jung-suk, huấn luyện viên thể dục nhịp điệu. Em gái của Jessica, Krystal Jung hiện là giọng ca thứ chính của nhóm nhạc nữ f(x). Năm 2014, hai chị em cùng thực hiện chương trình truyền hình thực tế Jessica & Krystal.

Năm 2000, Jessica và em gái Krystal được SM phát hiện khi đi bộ cùng gia đình ở xung quanh quận Bundang, Seongnam, Gyeonggi-do[3] và được mời tham gia thử giọng. Jessica đã tham gia cuộc thi 2000 SM Casting System và trở thành thực tập sinh tại SM vào cùng năm. Jessica được đào tạo bài bản về ca hát, vũ đạo và diễn xuất tại SM Town trong vòng 7 năm 6 tháng. Jessica tốt nghiệp trường Quốc tế Korea Kent Foreign School cùng với thành viên Tiffany vào tháng 5 năm 2007.[4].

Sự nghiệp âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Girls' Generation (2007-2014)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Girls' Generation
Jessica tại MBC Gayo Daejejeon vào ngày 31 tháng 12, 2013

Jessica là thành viên đầu tiên ký hợp đồng với S.M. Entertainment vào năm 2000. Vào năm 2007, cô được lựa chọn để trở thành thành viên của nhóm nhạc Girls' Generation nhóm nhạc gồm 9 thành viên, ra mắt vào ngày 5 tháng 8 năm 2007.

Ngày 30 tháng 9 năm 2014, Jessica thông báo trên trang Weibo của mình rằng cô "bị buộc" rời khỏi nhóm.[5] SM Entertainment sau đó xác nhận rằng Jessica sẽ không còn là thành viên của Girls' Generation nũa do những xung đột liên tục giữa lịch trình của nhóm với lịch trình của Jessica. Công ty cũng nói rằng nhóm sẽ tiếp tục quảng bá với 8 thành viên trong khi vẫn quản lý các hoạt động cá nhân của Jessica.[5][6] Tuy nhiên, Jessica tuyên bố thông qua công ty thời trang của mình, Blanc Group, rằng cô bị yêu cầu rời khỏi Girls' Generation từ một phía bởi công ty và 8 thành viên khác.[7] Bài hát cuối cùng của Jessica với Girls' Generation là "Divine", được phát hành trong phiên bản phát hành lại của album tuyển tập hit tiếng Nhật đầu tiên của họ, The Best.

Vào ngày 6 tháng 8 năm 2015, SM Entertainment phát hành một thông báo chính thức về tương lai của Jessica, rằng cô đã chính thức chia tay SM, kết thúc mối quan hệ kéo dài 13 năm với công ty.[8]

Sự nghiệp hát đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài các hoạt động chung với SNSD, Jessica đã phát hành hai đĩa đơn với hai thành viên cùng nhóm là SeohyunTiffany: Oppa Nappa [9]Mabinogi[10] Jessica hợp tác với 8Eight trong ca khúc "I Love You" nằm trong album thứ 2 của họ, Infinity, được phát hành vào ngày 3 tháng 3 năm 2008. Trong mini-album thứ hai của SNSD, "Tell Me Your Wish (Genie)", Jessica đã song ca với Onew của Shinee ca khúc "One Year Later". Ngoài ra, cô cũng hát cùng Park Myeong-su ca khúc "Naengmyeon" trong khuôn khổ chương trình Infinity Challenge của đài MBC.[11]

Jessica góp giọng trong ca khúc "Seoul Song" với Leeteuk, Kyuhyun, Siwon, Sungmin, Donghae, Ryeowook của Super Junior và các thành viên khác của SNSDSooyoung, Seohyun, Taeyeon, và Sunny. Ngoài ra, Jessica còn tham gia vào phim ca nhạc của Kim Han-JoSuper Junior-M. Cô đảm nhận vai chính cùng Han Geng trong MV ca khúc "Super Girl" của Super Junior-M (một nhóm nhỏ chuyên hát Tiếng Quan Thoại của Super Junior) phát hành vào ngày 14 tháng 9 năm 2009.[12] Jessica phát hành đĩa đơn nhạc số có tên là "Sweet Delight" vào ngày 13 tháng 10 năm 2010. Vào năm 2011, Jessica tham gia hát nhạc phim của bộ phim Romance Town với bài hát "Because Tears Are Overflowing" (tiếng Hàn: 눈물이 넘쳐서 ).

Năm 2012, Jessica hát "What To Do" (cùng Kim Jin-pyo) cho bộ phim Wild Romance, "Butterfly" (cùng Krystal) cho bộ phim To The Beautiful You,[13] "Heart Road" cho The King's Dream,[14] cũng như "My Lifestyle", nhạc hiệu quảng cáo của Hyundai.[15] Năm 2013, cô hát "The One Like You" cho Dating Agency: Cyrano.[16] Năm 2014, Jessica phát hành "Say Yes"' cho phim Make Your Move có sự tham gia của em gái cô, Krystal, và thành viên cũ của EXO, Kris.

Vào tháng 2 năm 2016, Jessica thông báo rằng album solo đầu tiên của cô sẽ được phát hành bởi công ty quản lý mới của cô, Coridel Entertainment.[17][18] Vào tháng 4 năm 2016, đại diện công ty thông báo rằng Jessica sẽ phát hành album đầu tiên vào tháng sau, tháng 5.[19] Ngày 30 tháng 4, Coridel Entertainment phát hành danh sách bài hát trong album, bao gồm ca khúc chủ đề "Fly" hợp tác với Fabolous. Cô đã viết và sáng tác 4 trong số 6 bài hát.[20] Sau đó, tên của mini album / EP được tiết lộ là With Love, J.[21][22]

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Jessica bắt đầu sự nghiệp sân khấu với vai chính trong vở nhạc kịch Legally Blonde, bên cạnh Honey Lee và Kim Ji-woo;[23] Công diễn vào ngày 14 tháng 11 năm 2009.[24]

Tháng 5 năm 2008, Jessica các thành viên của SNSD cùng nhóm nhạc DBSK tham gia vào phim quảng cáo cho nhãn hiệu Haptic Motion. Jessica xuất hiện trong phim truyền hình Oh My Lady! vào tháng 3 năm 2010.[25]

Đầu năm 2012, cô tham gia vào bộ phim "Wild Romance" với vai Kang Jong Hee - bạn gái cũ của Park Mu Yeol (Lee Dong Wook thủ vai). Jessica xuất hiện trong khoảng 8 tập.[26] Trong cùng năm, Jessica đã trở lại sân khấu âm nhạc với Legally Blonde, bên cạnh Jung Eun-ji và Choi Woori.

Trong năm 2015, Jessica được xác nhận tham gia vào phim điện ảnh I Love That Crazy Little Thing cùng với Trần Vỹ ĐìnhTạ Đình Phong.[27]

Năm 2016, Jessica đã được xác nhận là nữ chính trong bộ phim tự truyện về Stephon Marbury mang tên My Other Home cùng với chính Marbury.[28]

Xuất hiện trên truyền hình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 5 năm 2010, Jessica tham gia vào chương trình truyền hình "Happy Birthday". Cô rời khỏi chương trình này vào ngày 7 tháng 6 năm 2010 vì những hoạt động ở nước ngoài của SNSD.[29]

Đầu tháng 4, Jessica và em gái Krystal thông báo về chương trình thực tế của riêng họ. Jessica & Krystal ra mắt vào ngày 3 tháng 6 và bao gồm 10 tập. Chương trình miêu tả các hoạt động hàng ngày của hai chị em.[30]

Trong một phân cảnh phỏng vấn, hai chị em cùng đề cập đến hình tượng lạnh lùng của họ. Jessica giải thích "Mọi người thường nghĩ về hình ảnh tươi sáng của các idol, nhưng em gái tôi và tôi có xu hướng không bộc lộ những biểu cảm mạnh mẽ. Nếu tôi không năng động, người khác có thể thấy buồn chán hoặc hiểu lầm. Tôi mong rằng họ không nghĩ rằng tôi thô lỗ."[31]

Sự nghiệp kinh doanh[sửa | sửa mã nguồn]

Blanc & Eclare[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 2014, Jessica ra mắt thương hiệu thời trang riêng Blanc&Eclare, được mô tả là một nhãn hiệu với những sản phẩm kết hợp hiện đại và cổ điển cùng những chi tiết thú vị được lấy cảm hứng từ gu thời trang của riêng Jessica. Cô chia sẻ, "Ước mơ của tôi về việc ra mắt Blanc cuối cùng đã thành hiện thực. Tôi rất phấn khích khi phát triển một nhãn hiệu thời trang và giới thiệu nó ra thế giới. Qua công việc sáng tạo với các nhà thiết kế và người mẫu thời trang, tôi học được rất nhiều và tôi rất mong muốn được tiếp tục chia sẻ những thông tin mới về các đối tác mà tôi có được."[32] Nhãn hiệu sau đó đã được đổi tên thành Blanc & Eclare.

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

EP[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Thông tin album Vị trí cao nhất Doanh số
Hàn Quốc
[33]
Nhật Bản
[34]
Mỹ
World

[35]
Mỹ
Heat

[36]
With Love, J 1 34 4 16

Danh sách đĩa hát cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên đĩa đơn Bài hát Độ dài Nghệ sĩ
2007 SBS Thirty Thousand Miles in Search of My Son "Touch the Sky" 03:49 Cùng Taeyeon, Seohyun, SunnyTiffany
2008 Roommate "Love Hate" 03:45 Cùng SeohyunTiffany
It's Fantastic "It's Fantastic" 03:40 Cùng SeohyunTiffany
Infinity "I Love You" 03:40 Cùng 8eight
"Holding Hands" 03:54 Cùng Tiffany, Super Junior, SS501, Jewelry, Brown Eyed Girls, Lee Hyun và T.G.U.S
KBS Hong Gildong OST "The Little Boat (작은 배)" 03:27 Cùng Taeyeon, Seohyun, Sunny và Tiffany
"Haptic Motion" 01:31 Cùng Taeyeon, Seohyun và Sunny
2009 Olympic Duet Song Festival "NaengMyun" 03:41 Cùng Park Myung-soo
Tell Me Your Wish (Genie) "One Year Later" 04:00 Cùng Onew
MBC Heading to the Ground OST "Motion" 04:06 Cùng Taeyeon, Seohyun, Sunny và Tiffany
"S.E.O.U.L." 03:47 Cùng Taeyeon, Seohyun, Sunny và Kyuhyun, Sungmin, Ryeowook, DonghaeLeeteuk của Super Junior
"I Can't Bear Anymore (Bear Song)" 02:43 Cùng Taeyeon, Seohyun and Sunny
2010 Sweet Delight "Sweet Delight" 03:20 Solo
"Cabi Song" 03:19 Cùng Taeyeon, Tiffany, Seohyun, Sunny, Yuri, Chansung, Junsu, và Taecyeon
"Cooky" 02:50 Cùng Tiffany, Seohyun và Sunny
My Friend Haechi "Haechi Song" (해치송)[40] 03:26 Cùng Taeyeon, Sunny, Tiffany và Seohyun
2011 Romance Town "Because Tears Are Overflowing" 04:46 Solo
2012 KBS Wild Romance "What To Do" 03:54 Cùng Kim Jin-pyo
SBS To the Beautiful You "Butterfly" 03:01 Cùng Krystal
KBS The King's Dream "Heart Road" 04:19 Solo
PYL Younique Volume 1 "My Unique Lifestyle" 03:06 Cùng Dok2
2013 Dating Agency: Cyrano "The One Like You" 04:15 Solo
2014 Make Your Move 3D "Say Yes" 03:58 Cùng KrystalKris
"Cheap Creeper" 03:01 Cùng Taeyeon, Tiffany, Sunny & Seohyun

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Bài Hát Vị trí cao nhất Album
KOR USA
Gaon[41] Billboard K-pop Hot 100
2010 "Sweet Delight" 48 Digital Single
2011 "Because Tears Are Overflowing" 20 KBS Romance Town OST
2012 "What To Do" (with Kim Jin-pyo) 12 14 KBS Wild Romance OST
"Butterfly" (with Krystal) 22 17 SBS To The Beautiful You OST
"Heart Road" 57 43 KBS The King's Dream OST
"My Lifestyle" (with Dok2) 34 30 PYL Younique Volume 1
2013 "The One Like You" 37 21 tvN Dating Agency: Cyrano OST
2016 "Fly"" 4 - With Love, J

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Chú thích
2012 I AM. – SM Town Live World Tour in Madison Square Garden Chính mình Phim tiểu sử của SM Town[42]
2016 I Love That Crazy Little Thing Đang sản xuất[43]
2016 My Other Home Đang sản xuất[44]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Ghi chú Đài phát sóng
2008 Unstoppable Marriage Một trong 7 công chúa của Bulgwang-dong Khách mời KBS2
2009 Tae-hee, Hye-kyo, Ji-hyun! Giáo viên tiếng anh Khách mời MBC
2010 Oh! My Lady Chính mình Khách mời SBS
2012 Wild Romance Kang Jong-hee Vai phụ KBS2

Truyền hình thực tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên chương trình Tập Ghi chú
2010 Happy Birthday All
2014 Jessica & Krystal 1-10 cùng Krystal, mô tả hoạt động hàng ngày của hai chị em
2015 Yes! Coach 7 show thể thao, bơi lội
2015 12 Đạo Phong Vị Khách mời

Nhạc kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Vai Ghi chú
2009–2010; 2012–2013 Legally Blonde Elle Woods Vai chính

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Kết quả
2012 3rd Annual Barbie & Ken Awards Korean Barbie Đoạt giải[45]
SBS MTV Best of the Best Vai khách mời xuất sắc nhât Đề cử[46]
2013 7th The Musical Award Popularity Award Đoạt giải
2014 7th Style Icon Awards Top 10 Style Icons (with Krystal Jung) Đoạt giải
2014 Sohu Fashion Awards Biểu tượng thời trang châu Á Đoạt giải
2015 Yahoo Asia Buzz Awards Giải thưởng mức độ phổ biến châu Á[47] Đoạt giải
2016 YinYueTai 4th V Chart Awards Nghệ sĩ xu hướng (Hàn Quốc)[48] Đoạt giải

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Person details for Jessica Sooyeon Jung, 'California, Birth Index, 1905–1995'. FamilySearch. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015. 
  2. ^ Factory Girls: Cultural technology and the making of K-pop Newyorker.com (ngày 8 tháng 10 năm 2012). Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2015.
  3. ^ (tiếng Hàn) Chosun.com: 제시카, "관객 앞에서의 제 목소리에 감동했어요", ngày 18 tháng 2 năm 2009
  4. ^ (tiếng Hàn) Chosun.com: 제시카, "관객 앞에서의 제 목소리에 감동했어요", 18 tháng 2, 2009
  5. ^ a ă SM states that SNSD will promote as eight without Jessica Mwave.interest.me (ngày 30 tháng 9 năm 2014). Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2014.
  6. ^ SMTown's Official Statement SM Entertainment (ngày 30 tháng 9 năm 2014). Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2014.
  7. ^ Jessica releases a statement of her own Mwave.interest.me (ngày 1 tháng 10 năm 2014). Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2015.
  8. ^ “Singer Jessica quits SM Entertainment”. The Korea Times. Ngày 6 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015. 
  9. ^ (tiếng Hàn) Kim Hyeong-wu. 소녀시대 티파니 "‘오빠나빠’ 활동 당시 성대결절 고생" (Girls' Generation's Tiffany: "'Bad Older Brother' Activities Were Difficult on Vocal Nodules"). JoongAng Ilbo/Newsen. 16 tháng 2, 2009. Truy cập 26 tháng 2, 2010.
  10. ^ (tiếng Hàn) 소녀시대 티파니 제시카 서현 게임 주제가 신곡 발표 (Girls' Generation's Tiffany/Jessica/Seohyun Announce Game Theme Song as New Single). IS Plus/Newsen. 1 tháng 8, 2008. Truy cập 4 tháng 5, 2010.
  11. ^ (tiếng Hàn)Park Myung Soo and SNSD Jessica’s Naeng Myun is back!. allkpop.com. 22 tháng 12, 2009. Truy cập 23 tháng 12, 2009
  12. ^ (tiếng Hàn) Super Junior-M Releases "Super Girl" MV,14 tháng 9, 2009, Truy cập 15 tháng 9, 2009
  13. ^ “Jessica and Krystal releases 'Butterfly', an OST of 'To the Beautiful You'. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  14. ^ “SNSD Jessica releases 'Heart Road', an OST of 'The Great King's Dream'. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  15. ^ “Jessica sings "My Lifestyle" (ft. Dok2) for Hyundai’s ‘PYL Younique Album’”. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  16. ^ “Girls' Generation's Jessica lends her voice for OST of Sooyoung's starring drama 'Dating Agency: Cyrano'. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  17. ^ “Coridel Entertainment - Artists”. www.coridel.com. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016. 
  18. ^ “Jessica Jung To Release First Album After Girls’ Generation — Signed Copies Free To Shoppers Buying $250 Worth Of Blanc & Eclare Cosmetics”. The Inquisitr News. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2016. 
  19. ^ “제시카 측 "5월 컴백 맞다…막바지 준비·날짜 조율 중". nate.com. Ngày 18 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  20. ^ coridelent1. “[제시카] 최종 트랙리스트 공개”. CORIDEL ENTERTAINMENT. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016. 
  21. ^ “Jessica is coming soon with 'With Love, J'! | allkpop.com”. www.allkpop.com. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2016. 
  22. ^ coridelent1. “[제시카] 최종 트랙리스트 공개”. CORIDEL ENTERTAINMENT. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2016. 
  23. ^ (tiếng Hàn) Chung Ah-young. 'Legally Blonde' Sparkles With Starry Cast. The Korea Times. 16 tháng 9, 2009. Truy cập 22 tháng 2, 2010.
  24. ^ (tiếng Anh) 3 Starts to Share Lead in 'Legally Blonde' Musical. The Chosun Ilbo. 31 tháng 10, 2009. Truy cập 22 tháng 2, 2010.
  25. ^ (tiếng Hàn) 소녀시대, 최시원과 의리 지키며 '오 마이 레이디'서 카메오 출연 (SNSD Makes Cameo Appearance On "Oh! My Lady", Showing Loyalty To Choi Siwon). asiae/Newsen. 7 tháng 3, 2010. Truy cập 9 tháng 4, 2010
  26. ^ Park, Young Woong (ngày 15 tháng 2 năm 2012). “Violent Romance, SNSD’s Jessica and Lee Dong Wook have a romantic date”. StarNews. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2015. 
  27. ^ “Jessica to make her Chinese movie debut soon | allkpop.com”. www.allkpop.com. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2016. 
  28. ^ Hendricks, Jaclyn (ngày 19 tháng 4 năm 2016). “Meet the Korean pop star who’ll help tell Stephon Marbury’s life story”. New York Post. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2016. 
  29. ^ (tiếng Hàn) Bae Sunyoung: 제시카 ‘해피버스데이‘ 5주 출연 끝 7일 하차 (Jessica, After Five Weeks of Appearances in 'Happy Birthday', Will be Withdrawing on 7th), Newsen.com. 5 tháng 6, 2010. Truy cập 6 tháng 6, 2010.
  30. ^ Jessica and Krystal's reality show Jessica&Krystal. Allkpop.com (ngày 16 tháng 4 năm 2014). Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2014.
  31. ^ Jessica and Krystal shed tears and talk about their complex on their reality program Allkpop.com (ngày 3 tháng 6 năm 2014). Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2014.
  32. ^ Girls' Generation's Jessica announces the launch of her own fashion line 'BLANC' Allkpop.com (ngày 6 tháng 8 năm 2014). Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2014.
  33. ^ “With Love, J” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2016. 
  34. ^ “Oricon Albums Chart (Week of ngày 30 tháng 5 năm 2016)”. Oricon Style (bằng tiếng Nhật). Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2016. 
  35. ^ “World Albums”. Billboard. Prometheus Global Media. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2016. 
  36. ^ “Heatseekers Albums”. Billboard. Prometheus Global Media. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2016. 
  37. ^ “Gaon Album Chart – May 2016” (bằng tiếng Hàn). Gaon Music Chart. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2016. 
  38. ^ “QQ "With Love, J" sales Page”. QQ (bằng tiếng Chinese). Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2016. 
  39. ^ “Oricon Ranking Service 'You Big Tree' (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2016. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  40. ^ “내친구 해치 (My Friend Haechi) [Original Soundtrack] – Single”. iTunes US Apple. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013. 
  41. ^ “Gaon Chart Search” (bằng tiếng Korean). Gaon Chart. 
  42. ^ “Documentary Shows Top K-Pop Singers Behind the Scenes”. Chosun Ilbo. Ngày 2 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012. 
  43. ^ “那件疯狂的小事叫爱情_电影详情_中国票房”. www.cbooo.cn. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2016. 
  44. ^ “纽约人在北京 (豆瓣)”. movie.douban.com. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2016. 
  45. ^ “SNSD's Jessica and TVXQ's Yunho as Korea's Barbie and Ken 2012”. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2014. 
  46. ^ Girls’ Generation Nominated for ’2012 World Music Awards’ and ’2012 SBS MTV Best of the Best’
  47. ^ kpopmap, kpop-map,. “Jessica Wins A Popularity Award At Yahoo! Asia Buzz Awards 2015 • Kpopmap”. Kpopmap (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016. 
  48. ^ “Jessica bags China’s V Chart Awards”. kpopherald.koreaherald.com. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]