Kwon Yuri

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Gwon Yuri)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kwon Yuri
권유리
Kwon Yu-ri at the Guerilla Date on July 2015.jpg
Yuri ghi hình cho chương trình truyền hình Guerilla Date cùng với Girls' Generation vào ngày 2 tháng 7 năm 2015
Thông tin nghệ sĩ
Sinh 5 tháng 12, 1989 (26 tuổi)
Goyang, Gyeonggi, Hàn Quốc
Nghề nghiệp
Thể loại K-pop
Năm hoạt động 2007 (2007)-nay
Hãng đĩa S.M. Entertainment
Hợp tác với
Tên thật
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữ Kwon Yu-ri
McCune–Reischauer Kwŏn Yuri
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.
Zhongwen.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Trung Hoa. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Trung Quốc.

Kwon Yuri (Hangul: 권유리; Hanja: 權俞利), thường biết đến với nghệ danh Yuri, là một nữ ca sĩdiễn viên người Hàn Quốc, thành viên nhóm nhạc nữ Girls' Generation do S.M. Entertainment thành lập và quản lý.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Yuri được sinh ra vào ngày 5 tháng 12 năm 1989 tại thành phố Goyang, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc.[1] Cô có một người anh trai tên là Kwon Hyuk-jun.[2] Năm 2001, sau khi giành giải nhì tại cuộc thi SM Youth Best Dancer Contest, Yuri tham gia thử giọng và trở thành thực tập sinh của S.M. Entertainment.

Yuri tốt nghiệp trường trung học Neunggok vào năm 2008[3] và hiện đang theo học khoa sân khấu và điện ảnh tại trường Đại học Chung-Ang với thành viên cùng nhóm Sooyoung.[4] Cả hai được bổ nhiệm làm đại sứ của trường vào ngày 20 tháng 5 năm 2014.[5]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Girls' Generation

Yuri chính thức ra mắt công chúng với tư cách là thành viên nhóm nhạc nữ Girls' Generation vào tháng 8 năm 2007. Năm 2008, cô và thành viên cùng nhóm Sooyoung thể hiện bài hát nhạc trot "Kkok" cho bộ phim truyền hình Working Mom của đài SBS.[6] Năm 2012, Yuri góp mặt trong bài hát "Like a Soap" nằm trong album phòng thu thứ sáu Catch Me của nhóm nhạc nam cùng công ty TVXQ.[7] Năm 2013, Yuri và ban nhạc Masyda Band thu âm các bài hát "Bling Star" và "Twinkle Twinkle", nhạc phim của bộ phim điện ảnh No Breathing mà cô thủ vai chính.[8]

Năm 2010, Yuri viết lời cho bài hát "Mistake" nằm trong mini-album thứ ba Hoot của Girls' Generation.[9] Năm 2013, cô và các thành viên cùng nhóm Sooyoung và Seohyun viết lời cho bài hát "Baby Maybe" nằm trong album phòng thu thứ tư I Got a Boy của nhóm.[10]

Diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2007, Yuri xuất hiện với tư cách khách mời trong bộ phim điện ảnh Attack on the Pip-Up Boys của nhóm nhạc nam cùng công ty Super Junior. Năm 2008, cô và thành viên cùng nhóm Sooyoung đảm nhận hai vai phụ trong bộ phim truyền hình hài Unstoppable Marriage.

Yuri tại buổi công chiếu phim No Breathing vào ngày 25 tháng 10 năm 2013

Năm 2012, Yuri thủ vai nữ chính Choi Anna trong bộ phim truyền hình Fashion King của đài SBS bên cạnh nam diễn viên Yoo Ah-in.[11][12] Vai diễn này đã giúp cô giành chiến thắng ở hạng mục ngôi sao mới tại lễ trao giải SBS Drama Awards năm 2012.

Năm 2013, Yuri xuất hiện lần đầu tiên trên màn ảnh rộng với vai nữ chính trong bộ phim điện ảnh No Breathing. Nhân vật của cô, Jung-eun, là một cô gái ước mơ trở thành ca sĩ và được cả hai nhân vật nam chính (Lee Jong-sukSeo In-guk) đem lòng yêu.[13][14] Ngoài việc học chơi đàn ghi-ta để vào vai Jung-eun, Yuri còn thể hiện hai bài hát "Bling Star" và "Twinkle Twinkle" trong phim.[15]

Cuối năm 2015, Yuri tham gia bộ phim truyền hình Neighborhood Hero trong vai nữ chính Bae Jung-yeon bên cạnh các nam diễn viên như Park Shi-hooLee Soo-hyuk. Phim bắt đầu phát sóng trên kênh truyền hình OCN từ tháng 1 năm 2016.[16]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Yuri tại lễ trao giải Baeksang Arts Awards lần thứ 50 vào ngày 27 tháng 5 năm 2014

Năm 2008, Yuri tham gia chương trình truyền hình thực tế Kko Kko Tours Single♥Single có nội dung về việc hẹn hò giữa những người nổi tiếng. Tháng 3 năm 2009, cô và thành viên cùng nhóm Tiffany trở thành người dẫn chương trình mới cho chương trình âm nhạc Show! Music Core của đài MBC.[17] Sau đó vào tháng 10, Yuri và thành viên cùng nhóm Sunny tham gia chương trình truyền hình thực tế Invincible Youth.


Tháng 6 năm 2010, để chuẩn bị cho các hoạt động của Girls' Generation tại Nhật Bản, Yuri và Sunny ngừng tham gia Invincible Youth.[18] Ngay sau đó vào tháng 7, cô và Tiffany tiếp tục ngừng dẫn chương trình cho Show! Music Core để tập trung vào lịch trình chung của nhóm.[19]

Tháng 10 năm 2011, Tiffany và Yuri quay trở lại dẫn chương trình cho Show! Music Core cho đến tháng 1 năm 2012 khi cô rời khỏi vị trí này một lần nữa để tập trung cho vai diễn của mình trong bộ phim truyền hình Fashion King.[20]

Tháng 6 năm 2013, Yuri và thành viên cùng nhóm Hyoyeon trở thành huấn luyện viên cho các thí sinh trong chương trình Dancing 9 của kênh truyền hình Mnet.[21]

Năm 2015, Yuri tham gia nhiều chương trình truyền hình thực tế bao gồm Animals,[22] Star with Two Jobs,[23] Dating Alone,[24] Maps,[25] Cool Kiz on the Block[26]The Rallyist.[27]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2015, Yuri được xác nhận là đang trong một mối quan hệ tình cảm với cầu thủ bóng chày người Hàn Quốc Oh Seung-hwan.[28] Sáu tháng sau vào tháng 10, hai người được xác nhận là đã chia tay vì lý do lịch trình bận rộn.[29]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Album Ghi chú
2008 "Kkok" Working Mom OST Với Sooyoung
2010 "Cabi Song" Đĩa đơn nhạc số Với Taeyeon, Sunny, Jessica, Tiffany, Seohyun
và Chansung, Jun. K, Taecyeon của 2PM
2012 "Like a Soap" Catch Me Với TVXQ
2013 "Bling Star" No Breathing OST Part 1 Với Masyta Band
"Twinkle Twinkle"

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Ghi chú
2007 Attack on the Pin-Up Boys Vũ công ba lê Khách mời
2012 I AM. Chính mình Phim tài liệu về SM Town[30]
2015 No Breathing Jung Eun Vai chính
SMTown The Stage Chính mình Phim tài liệu về SM Town[31]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Kênh Vai Ghi chú
2007–2008 Unstoppable Marriage KBS Kwon Yuri Vai phụ
2012 Fashion King SBS Choi Anna Vai chính
2015 Kill Me, Heal Me MBC Ahn Yo-na Khách mời; tập 20[32]
2016 Neighborhood Hero OCN Bae Jung-yeon Vai chính

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên chương trình Kênh Ghi chú
2008 Kko Kko Tours Single♥Single KBS2 Nhân vật chính; mùa 2
2009–2010 Invincible Youth KBS2 Nhân vật chính; tập 1–32 và 42
Show! Music Core MBC Dẫn chương trình
2011–2012 Show! Music Core MBC Dẫn chương trình
2013 Dancing 9 Mnet Huấn luyện viên
2015 Animals MBC Nhân vật chính; tập 1-5
Star with Two Jobs KBS2 Nhân vật chính; tập 1-2
Dating Alone JTBC Khách mời; tập 3-4
Maps Olive TV Nhân vật chính
Cool Kiz on the Block KBS2 Khách mời
The Rallyist SBS Dẫn chương trình

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Nghệ sĩ Ghi chú
2009 "Dropping The Tears" K.Will Khách mời
2014 "Without You" S Khách mời

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Được đề cử Kết quả
2010 KBS Entertainment Awards Best Female MC Invincible Youth Đề cử
2011 Mnet 20's Choice Awards lần thứ 5 Hot Campus Girl[33] Chính mình Đề cử
MBC Entertainment Awards MC Special Award (với Tiffany)[34] Show! Music Core Đoạt giải
2012 Korea Drama Awards lần thứ 5 Best New Actress Fashion King Đề cử
SBS Drama Awards New Star Award[35] Đoạt giải
2013 Baeksang Arts Awards lần thứ 49 Most Popular Actress (TV)[36] Đoạt giải
2014 Baeksang Arts Awards lần thứ 50 Most Popular Actress (Film)[37] No Breathing Đoạt giải

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mark Russell (29 tháng 4 năm 2014). K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle Publishing (bằng tiếng Anh). tr. 72. ISBN 978-1-4629-1411-1. 
  2. ^ Lee Eun-ji (25 tháng 7 năm 2010). “소녀시대 권유리, 쌍둥이 꼴 친오빠 공개 ‘붕어빵 권남매’”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2015. 
  3. ^ “[포토엔]소녀시대 유리, 빛나는 졸업장 받았어요~”. Newsen (bằng tiếng Hàn). 13 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2014. 
  4. ^ “빅뱅 승리-소녀시대 유리, 새내기로 중앙대 입학식 참석 활짝 웃음”. Newsen (bằng tiếng Hàn). 26 tháng 2 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2010. 
  5. ^ “김수현·박신혜·수영·유리, 중앙대 홍보대사 위촉”. news1.kr (bằng tiếng Hàn). 20 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. 
  6. ^ “곡 정보: 꼭”. MelOn (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016. 
  7. ^ “소시 유리, 동방신기에 굿나잇인사? 신곡에 목소리 깜짝등장”. Newsen (bằng tiếng Hàn). 25 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  8. ^ Hong, Grace Danbi (22 tháng 10 năm 2013). “[Video] SNSD’s Yuri Sings ‘Bling Star’ for ‘No Breathing’ MV”. MWave (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  9. ^ “SNSD’s Yuri wrote a song for their "Hoot" mini album”. Soompi (bằng tiếng Anh). 26 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  10. ^ “Sooyoung, Yuri and Seohyun Wrote Lyrics + Tiffany and Taeyeon Sings Duet in Upcoming Album”. Soompi (bằng tiếng Anh). 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2015. 
  11. ^ “SNSD’s Yuri up for Fashion King alongside Yoo Ah-in”. Dramabeans (bằng tiếng Anh). 17 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2011. 
  12. ^ Kim Ji-yeon (27 tháng 12 năm 2011). “Stars of ‘Fashion King’ Meet for the First Time”. MWave (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  13. ^ Lee Sun-min (17 tháng 5 năm 2013). “Yuri will play lead in ‘No Breathing’”. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  14. ^ Jeon Su-mi (16 tháng 5 năm 2013). “[Movie] SNSD′s Yuri to Make Big Screen Debut with ′No Breathing′”. MWave (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  15. ^ Hong, Grace Danbi (22 tháng 10 năm 2013). “[Video] SNSD’s Yuri Sings ‘Bling Star’ for ‘No Breathing’ MV”. MWave (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  16. ^ 'Neighborhood Hero' raises anticipation with posters of Park Si Hoo, Yuri, Lee Soo Hyuk, and more!”. allkpop (bằng tiếng Anh). 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  17. ^ “Tiffany and Yuri To Host Music Core”. allkpop (bằng tiếng Anh). 28 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2015. 
  18. ^ '하차설 끝내 사실로..' 유리-써니-현아 19일 ‘청춘불패’ 마지막 녹화]”. Newsen (bằng tiếng Hàn). 14 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2010. 
  19. ^ “Tiffany and Yuri perform MC farewell stage on Music Core!”. allkpop (bằng tiếng Anh). 31 tháng 7 năm 2010. 
  20. ^ Lee Jin-ho (29 tháng 1 năm 2012). “Yuri Leaves MC Spot of ′Music Core′”. MWave (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  21. ^ Lee Sun-mi (18 tháng 6 năm 2013). “‘Dancing 9’ adds trio of coaches”. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  22. ^ “Super Junior's Eunhyuk, Girls' Generation's Yuri, and Don Spike also confirmed for 'Animals'. allkpop (bằng tiếng Anh). 13 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  23. ^ “Yuri reported to join another variety program 'Star with Two Jobs'. allkpop (bằng tiếng Anh). 4 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  24. ^ “Yuri drives the boys insane on 'Dating Alone'. allkpop (bằng tiếng Anh). 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  25. ^ “Join Girls' Generation Yuri and Choi Kang Hee on their travels through new show 'Maps'. allkpop (bằng tiếng Anh). 19 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  26. ^ “Girls' Generation's Yuri reported to compete in swimming in 'Our Neighborhood Arts and Physical Education'. allkpop (bằng tiếng Anh). 11 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  27. ^ “Girls' Generation's Yuri and announcer Bae Sung Jae to host racing program 'The Rallyist'. allkpop (bằng tiếng Anh). 23 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  28. ^ “Yuri confirmed dating baseball player”. KpopHerald (bằng tiếng Anh). 20 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2015. 
  29. ^ “Girls' Generation's Yuri and Oh Seung hwan break up after six months of dating”. KpopHerald (bằng tiếng Anh). 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2015. 
  30. ^ “Documentary Shows Top K-Pop Singers Behind the Scenes”. The Chosun Ilbo (bằng tiếng Anh). 2 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012. 
  31. ^ 'SM타운' 공연실황 다큐, 8월13일 국내개봉 확정”. Naver (bằng tiếng Hàn). 9 tháng 7 năm 2015. 
  32. ^ Choi Jin-shil (12 tháng 3 năm 2015). ‘킬미힐미’ 소녀시대 유리, 깜짝 등장 “이름은 안요나”. 10asia (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015. 
  33. ^ “Mnet releases nominees for "Mnet Summer Break 20's Choice Awards". Koreaboo. 17 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2014. 
  34. ^ Park, Hyun-min (30 tháng 12 năm 2011). “Who Won the Grand Prize at the MBC Entertainment Awards?”. enewsWorld. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2015. 
  35. ^ 'SBS 연기대상‘, 설리·이종현·민호·권유리 등 10명 ’뉴스타 상‘”. The KoreaTimes/Hankooki (bằng tiếng Korean). 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  36. ^ An So Hyoun (10 tháng 5 năm 2013). “Yoo Jae Suk and Ryu Seung Ryong Take Home Daesangs at the ′Paeksang Arts Awards′”. eNewsWorld. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  37. ^ “김수현·박신혜·유리, 남녀인기상 수상[제50회 백상예술대상]”. Osen. 27 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]