Kwon Yuri

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Gwon Yuri)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Yuri
Kwon Yuri at a fanmeet of Lotte Department Store Casio in June 2016 01.jpg
Yuri vào tháng 6 năm 2015
Sinh Kwon Yuri
5 tháng 12, 1989 (27 tuổi)
Goyang, Gyeonggi, Hàn Quốc
Công việc
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại K-pop
Năm hoạt động 2007 (2007)-nay
Hãng đĩa S.M. Entertainment
Hợp tác với
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
Hanja
Romaja quốc ngữ Kwon Yu-ri
McCune–Reischauer Kwŏn Yuri
Hán-Việt Quyền Du Lợi
Chữ ký
Yuri signature.jpg

Kwon Yuri (sinh ngày 5 tháng 12 năm 1989), thường được biết đến với nghệ danh Yuri, là một nữ ca sĩdiễn viên người Hàn Quốc, thành viên nhóm nhạc nữ Girls' Generation do S.M. Entertainment thành lập và quản lý. Ngoài các hoạt động âm nhạc, cô đã tham gia diễn xuất trong một số phim truyền hình và điện ảnh như Fashion King (2012), No Breathing (2013) Neighborhood Hero (2016) và Gogh, the Starry Night (2016).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Yuri được sinh ra vào ngày 5 tháng 12 năm 1989 tại thành phố Goyang, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc.[1] Cô có một người anh trai tên là Kwon Hyuk-jun.[2] Năm 2001, sau khi giành giải nhì tại cuộc thi SM Youth Best Dancer Contest, Yuri tham gia thử giọng và trở thành thực tập sinh của S.M. Entertainment.

Yuri tốt nghiệp trường trung học Neunggok vào năm 2008[3] và cùng với thành viên cùng nhóm Sooyoung tốt nghiệp trường Đại học Chung-Ang, khoa sân khấu và điện ảnh vào tháng 2 năm 2016.[4] Trước đó, cả hai được bổ nhiệm làm đại sứ của trường vào ngày 20 tháng 5 năm 2014.[5]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2007–11: Girls' Generation và hoạt động cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Girls' Generation

Yuri chính thức ra mắt công chúng với tư cách là thành viên nhóm nhạc nữ Girls' Generation vào tháng 8 năm 2007. Năm 2008, cô và thành viên cùng nhóm Sooyoung đảm nhận hai vai phụ trong bộ phim truyền hình hài Unstoppable Marriage. Hai người cũng đã thể hiện bài hát nhạc phim "Kkok" cho bộ phim truyền hình Working Mom của đài SBS.[6] Năm 2008, Yuri tham gia chương trình truyền hình thực tế Kko Kko Tours Single♥Single có nội dung về việc hẹn hò giữa những người nổi tiếng. Tháng 3 năm 2009, cô và thành viên cùng nhóm Tiffany trở thành người dẫn chương trình mới cho chương trình âm nhạc Show! Music Core của đài MBC.[7] Sau đó vào tháng 10, Yuri và thành viên cùng nhóm Sunny tham gia chương trình truyền hình thực tế Invincible Youth.

Tháng 6 năm 2010, để chuẩn bị cho các hoạt động của Girls' Generation tại Nhật Bản, Yuri và Sunny ngừng tham gia Invincible Youth.[8] Ngay sau đó vào tháng 7, cô và Tiffany tiếp tục ngừng dẫn chương trình cho Show! Music Core để tập trung vào lịch trình chung của nhóm.[9] Trong mini-album thứ ba Hoot của Girls' Generation, Yuri viết lời cho bài hát "Mistake".[10] Tháng 10 năm 2011, cô và Tiffany quay trở lại dẫn chương trình cho Show! Music Core cho đến tháng 1 năm 2012 khi cô rời khỏi vị trí này một lần nữa để tập trung cho vai diễn của mình trong bộ phim truyền hình Fashion King.[11]

2012–nay: Sự nghiệp diễn xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 2012, Yuri thủ vai nữ chính Choi Anna trong bộ phim truyền hình Fashion King của đài SBS bên cạnh nam diễn viên Yoo Ah-in.[12][13] Vai diễn này đã giúp cô giành chiến thắng ở hạng mục ngôi sao mới tại lễ trao giải SBS Drama Awards năm 2012. Tháng 9 năm 2012, Yuri góp mặt trong bài hát "Like a Soap" nằm trong album phòng thu thứ sáu Catch Me của nhóm nhạc nam cùng công ty TVXQ.[14]

Yuri tại buổi công chiếu phim No Breathing vào tháng 10 năm 2013

Tháng 1 năm 2013, Yuri tham gia viết lời cho hai bài hát "Baby Maybe" và "XYZ" nằm trong album phòng thu thứ tư I Got a Boy của Girls' Generation.[15] Tháng 6 năm 2013, Yuri và thành viên cùng nhóm Hyoyeon trở thành huấn luyện viên cho các thí sinh trong chương trình truyền hình Dancing 9 của Mnet.[16] Tháng 10 năm 2013, Yuri xuất hiện lần đầu tiên trên màn ảnh rộng trong bộ phim điện ảnh No Breathing với vai nữ chính Jung-eun, một cô gái ước mơ trở thành ca sĩ và được cả hai nhân vật nam chính (Lee Jong-sukSeo In-guk) đem lòng yêu.[17][18] Ngoài việc học chơi đàn ghi-ta để vào vai Jung-eun, Yuri còn thể hiện hai bài hát "Bling Star" và "Twinkle Twinkle" trong phim.[19]

Năm 2015, Yuri tham gia một loạt chương trình truyền hình thực, tế bao gồm Animals,[20] Star with Two Jobs,[21] Dating Alone,[22] Maps,[23] Cool Kiz on the Block[24]The Rallyist.[25] Cuối năm 2015, Yuri tham gia bộ phim truyền hình Neighborhood Hero trong vai nữ chính Bae Jung-yeon bên cạnh các nam diễn viên Park Shi-hooLee Soo-hyuk. Phim bắt đầu phát sóng trên kênh truyền hình OCN từ tháng 1 năm 2016.[26]

Tháng 7 năm 2016, Yuri tham gia chương trình thực tế Law Of The Langle được ghi hình tại New Caledonia với vai trò khách mời. Tháng 8 năm 2016, Yuri và thành viên cùng nhóm Seohyun phát hành bài hát "Secret" thông qua dự án âm nhạc Station của S.M. Entertainment nhằm quảng bá cho nhãn hiệu dầu gội đầu Pantene. Sau đó cô đảm nhận vai nữ chính Go Ho bên cạnh nam diễn viên Kim Young-kwang trong web drama Gogh, the Starry Night. Sau khi khởi chiếu vào tháng 7 năm 2016 trên website Sohu,[27] phim được SBS phát sóng trên truyền hình vào cuối tháng 10. Tháng 11 năm 2016, cô được công bố là sẽ thủ vai nữ chính Seo Eun-hye bên cạnh nam diễn viên Ji Sung trong bộ phim truyền hình Defendant của đài SBS. Phim được dự kiến sẽ lên sóng vào tháng 1 năm 2017.[28]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 4 năm 2015, Yuri được xác nhận là đang trong một mối quan hệ tình cảm với cầu thủ bóng chày người Hàn Quốc Oh Seung-hwan.[29] Sáu tháng sau vào tháng 10, hai người được xác nhận là đã chia tay vì lý do lịch trình bận rộn.[30]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát Năm Thứ hạng
cao nhất
Doanh số
(tải về)
Album
HQ
Gaon

[31]
"Kkok"
(với Sooyoung)
2008 N/A Working Mom OST
"Like a Soap"
(TVXQ hợp tác với Yuri)
2012 N/A Catch Me
"Bling Star"
(với Masyta Band)
2013 N/A No Breathing OST Part 1
"Twinkle Twinkle"
(với Masyta Band)
N/A
"Secret"
(với Seohyun)
2016 149 Đĩa đơn không nằm trong album

Danh sách phim[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai Ghi chú
2007 Attack on the Pin-Up Boys Vũ công ba lê Khách mời
2012 I AM. Chính mình Phim tài liệu về SM Town[33]
2015 No Breathing Jung Eun Vai chính
SM Town the Stage Chính mình Phim tài liệu về SM Town[34]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Kênh Vai Ghi chú
2007–08 Unstoppable Marriage KBS Kwon Yuri Vai phụ
2012 Fashion King SBS Choi Anna Vai chính
2015 Kill Me, Heal Me MBC Ahn Yo-na Khách mời: tập 20[35]
2016 Neighborhood Hero OCN Bae Jung-yeon Vai chính
Gogh, the Starry Night Sohu, SBS GoHo Vai chính
2017 Defendant SBS Seo Eun-hye Vai chính

Chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên chương trình Kênh Ghi chú
2008 Kko Kko Tours Single♥Single KBS2 Nhân vật chính: mùa 2
2009–10 Invincible Youth KBS2 Nhân vật chính: tập 1–32 và 42
Girls' Generation's Hello Baby KBS Nhân vật chính
Show! Music Core MBC Dẫn chương trình
2011–12 Show! Music Core MBC Dẫn chương trình
2013 Dancing 9 Mnet Huấn luyện viên
2015 Animals MBC Nhân vật chính: tập 1-5
Star with Two Jobs KBS2 Nhân vật chính: tập 1-2
Dating Alone JTBC Khách mời: tập 3-4
Maps Olive TV Nhân vật chính
Cool Kiz on the Block KBS2 Khách mời
Channel Girls' Generation OnStyle Nhân vật chính
The Rallyist SBS Dẫn chương trình
2016 Law of the Jungle SBS Khách mời: tập 220-224
Knowing Brothers JTBC Khách mời: tập 49

Dẫn chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Sự kiện Ngày Ghi Chú
2009 Incheon Korean Music Wave 5 tháng 9 Cùng Tiffany
2010 Incheon Korean Music Wave 29 tháng 8 Cùng Tiffany
2011 Korean Music Wave tại Bangkok 12 tháng 3 Cùng Tiffany
2011 K-POP Music Festival tại Sydney 12 tháng 11 Cùng Tiffany
2013 Incheon Korean Music Wave 1 tháng 9 Cùng Tiffany
2014 Giải thưởng Gaon Chart K-Pop lần thứ 3 12 tháng 2
2014 Korean Music Wave tại Bắc Kinh 25 tháng 10 Cùng Tiffany
2015 DMC Festival KPOP Super Concert 25 tháng 9 Cùng Tiffany
2016 DMC MBC Korea Music Wave 8 tháng 10 Cùng Seohyun

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên bài hát Nghệ sĩ Ghi chú
2009 "Dropping The Tears" K.Will Khách mời
2014 "Without You" S Khách mời

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Được đề cử Kết quả
2010 KBS Entertainment Awards Best Female MC Invincible Youth Đề cử
2011 Mnet 20's Choice Awards lần thứ 5 Hot Campus Girl[36] Chính mình Đề cử
MBC Entertainment Awards MC Special Award (với Tiffany)[37] Show! Music Core Đoạt giải
2012 Korea Drama Awards lần thứ 5 Best New Actress Fashion King Đề cử
SBS Drama Awards New Star Award[38] Đoạt giải
2013 Baeksang Arts Awards lần thứ 49 Most Popular Actress (TV)[39] Đoạt giải
2014 Baeksang Arts Awards lần thứ 50 Most Popular Actress (Film)[40] No Breathing Đoạt giải

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Mark Russell (ngày 29 tháng 4 năm 2014). K-Pop Now!: The Korean Music Revolution. Tuttle Publishing (bằng tiếng Anh). tr. 72. ISBN 978-1-4629-1411-1. 
  2. ^ Lee Eun-ji (ngày 25 tháng 7 năm 2010). “소녀시대 권유리, 쌍둥이 꼴 친오빠 공개 ‘붕어빵 권남매’”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2015. 
  3. ^ “[포토엔]소녀시대 유리, 빛나는 졸업장 받았어요~”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 13 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2014. 
  4. ^ “Park Shin Hye, Yuri, and Sooyoung become college graduates!”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 11 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2016. 
  5. ^ “김수현·박신혜·수영·유리, 중앙대 홍보대사 위촉”. news1.kr (bằng tiếng Hàn). Ngày 20 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. 
  6. ^ “곡 정보: 꼭”. MelOn (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2016. 
  7. ^ “Tiffany and Yuri To Host Music Core”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 28 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2015. 
  8. ^ '하차설 끝내 사실로..' 유리-써니-현아 19일 ‘청춘불패’ 마지막 녹화]”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 14 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2010. 
  9. ^ “Tiffany and Yuri perform MC farewell stage on Music Core!”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 31 tháng 7 năm 2010. 
  10. ^ “SNSD’s Yuri wrote a song for their "Hoot" mini album”. Soompi (bằng tiếng Anh). Ngày 26 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  11. ^ Lee Jin-ho (ngày 29 tháng 1 năm 2012). “Yuri Leaves MC Spot of ′Music Core′”. MWave (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  12. ^ “SNSD’s Yuri up for Fashion King alongside Yoo Ah-in”. Dramabeans (bằng tiếng Anh). Ngày 17 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2011. 
  13. ^ Kim Ji-yeon (ngày 27 tháng 12 năm 2011). “Stars of ‘Fashion King’ Meet for the First Time”. MWave (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  14. ^ “소시 유리, 동방신기에 굿나잇인사? 신곡에 목소리 깜짝등장”. Newsen (bằng tiếng Hàn). Ngày 25 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2014. 
  15. ^ “Sooyoung, Yuri and Seohyun Wrote Lyrics + Tiffany and Taeyeon Sings Duet in Upcoming Album”. Soompi (bằng tiếng Anh). Ngày 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2015. 
  16. ^ Lee Sun-mi (ngày 18 tháng 6 năm 2013). “‘Dancing 9’ adds trio of coaches”. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  17. ^ Lee Sun-min (ngày 17 tháng 5 năm 2013). “Yuri will play lead in ‘No Breathing’”. Korea JoongAng Daily (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  18. ^ Jeon Su-mi (ngày 16 tháng 5 năm 2013). “[Movie] SNSD′s Yuri to Make Big Screen Debut with ′No Breathing′”. MWave (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  19. ^ Hong, Grace Danbi (ngày 22 tháng 10 năm 2013). “[Video] SNSD’s Yuri Sings ‘Bling Star’ for ‘No Breathing’ MV”. MWave (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  20. ^ “Super Junior's Eunhyuk, Girls' Generation's Yuri, and Don Spike also confirmed for 'Animals'. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 13 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  21. ^ “Yuri reported to join another variety program 'Star with Two Jobs'. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 4 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  22. ^ “Yuri drives the boys insane on 'Dating Alone'. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 23 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  23. ^ “Join Girls' Generation Yuri and Choi Kang Hee on their travels through new show 'Maps'. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 19 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  24. ^ “Girls' Generation's Yuri reported to compete in swimming in 'Our Neighborhood Arts and Physical Education'. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 11 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  25. ^ “Girls' Generation's Yuri and announcer Bae Sung Jae to host racing program 'The Rallyist'. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 23 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  26. ^ 'Neighborhood Hero' raises anticipation with posters of Park Si Hoo, Yuri, Lee Soo Hyuk, and more!”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 22 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2014. 
  27. ^ “Girls' Generation's Yuri and Kim Young Kwang to co-star in web drama together!”. allkpop (bằng tiếng Anh). Ngày 24 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2016. 
  28. ^ Kim Jin-seok (ngày 15 tháng 11 năm 2016). “소녀시대 유리, SBS '피고인' 지상파 첫 주인공”. Daily Sports (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2016. 
  29. ^ “Yuri confirmed dating baseball player”. KpopHerald (bằng tiếng Anh). Ngày 20 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2015. 
  30. ^ “Girls' Generation's Yuri and Oh Seung hwan break up after six months of dating”. KpopHerald (bằng tiếng Anh). Ngày 15 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2015. 
  31. ^ Thứ hạng cao nhất trên Gaon Digital Chart:
  32. ^ “Gaon Download Chart - Tuần 34, 2016”. Gaon Chart. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2016. 
  33. ^ “Documentary Shows Top K-Pop Singers Behind the Scenes”. The Chosun Ilbo (bằng tiếng Anh). Ngày 2 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012. 
  34. ^ 'SM타운' 공연실황 다큐, 8월13일 국내개봉 확정”. Naver (bằng tiếng Hàn). Ngày 9 tháng 7 năm 2015. 
  35. ^ Choi Jin-shil (ngày 12 tháng 3 năm 2015). ‘킬미힐미’ 소녀시대 유리, 깜짝 등장 “이름은 안요나”. 10asia (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015. 
  36. ^ “Mnet releases nominees for "Mnet Summer Break 20's Choice Awards". Koreaboo. Ngày 17 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2014. 
  37. ^ Park, Hyun-min (ngày 30 tháng 12 năm 2011). “Who Won the Grand Prize at the MBC Entertainment Awards?”. enewsWorld. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2015. 
  38. ^ 'SBS 연기대상‘, 설리·이종현·민호·권유리 등 10명 ’뉴스타 상‘”. The KoreaTimes/Hankooki (bằng tiếng Korean). Ngày 31 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2015. 
  39. ^ An So Hyoun (ngày 10 tháng 5 năm 2013). “Yoo Jae Suk and Ryu Seung Ryong Take Home Daesangs at the ′Paeksang Arts Awards′”. eNewsWorld. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  40. ^ “김수현·박신혜·유리, 남녀인기상 수상[제50회 백상예술대상]”. Osen. Ngày 27 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]