Nai sừng tấm phía Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nai sừng tấm phía Đông
Photograph of Moose - NARA - 2128362.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Cervidae
Chi (genus) Alces
Loài (species) A. alces
Phân loài (subspecies) A. a. americana
Danh pháp ba phần
Alces alces americana

Nai sừng tấm vùng phía Đông (tên khoa học: Alces alces americana) là một phân loài của Nai sừng tấm châu Âu mà phạm vi sinh sống dao động trong hầu hết các vùng phía Đông Canada và hầu hết các tiểu bang New England cũng như phía Bắc New York. Nai sống rừng phương bắc và rừng rụng lá hỗn hợp, điều này giúp chúng ngụy trang khỏi các kẻ thù như những con sói hay con người.

Nai sừng tấm phía Đông là phân loài lớn thứ ba của nai sừng tấm, sau Nai sừng tấm phía TâyNai sừng tấm Alaska. Nai sừng tấm phía Đông cùng với tất cả các loài nai sừng tấm khác là có thái độ cực kỳ hung dữ trong mùa giao phối và chúng sẽ tấn công hoặc giết chết bất cứ điều gì khiêu khích chúng.

Môi trường sống, phạm vi và phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Nai sinh sống dao động từ Đông Ontario, Quebec, New Brunswick, NewfoundlandNova Scotia. Tại Hoa Kỳ, chúng sinh sống tại Maine, New Hampshire, Vermont, Massachusetts, Connecticut, và phía bắc bang New York. Số lượng của chúng đang nhanh chóng gia tăng do thực tế là môi trường sống của nó là phát triển một cách mạnh mẽ và việc mở rộng này đang hướng về phía nam.

Tính đến ngày nay dân số chúng đã mở rộng đến phía nam cũng như Upstate New York và khắp miền bắc Connecticut, mặc dù PennsylvaniaNew Jersey vẫn chưa báo cáo là đã được nhìn thấy chúng. Tuy nhiên, nhiều người tin rằng số lượng chúng ngày càng mở rộng có thể nhiều hơn tùy thuộc vào tốc độ tái tạo của chúng và làm thế nào để nguồn thực phẩmnước phong phú sẽ tiếp tục như chúng có khả năng sẽ mở rộng lãnh thổ của chúng về phía nam.

Hiện có khoảng 350.000 con nai sừng tấm phía Đông, với khoảng 3/4 trong số chúng giao phối mỗi mùa thu và mùa đông. Cơ quan quản lý công viên Canada vừa thông báo loài nai sừng tấm này đang sinh sản quá nhiều trong hai công viên quốc gia ở tỉnh bang Newfoundland. Đàn nai ngày càng lớn đang ăn hết những cây cỏ mọc trong công viên, đe dọa môi trường và hệ sinh thái tại đây. có khoảng 150.000 con nai sừng tấm trong tỉnh bang Newfoundland.[1]

Số nai nhiều đến mức thỉnh thoảng dân chúng thấy những con nai này lảng vảng trong thành phố St John's, thủ phủ của tỉnh bang Newfoundland. Chúng cũng thấy xuất hiện thường xuyên trên các tuyến đường cao tốc. Riêng trong năm 2009, có đến trên 700 vụ xe đụng gây ra bởi loài nai này trên các đường cao tốc trong tỉnh bang Newfoundland. Trung bình cứ hai vụ tai nạn do loài hươu gây ra có một nạn nhân bị thiệt mạng.[1]

Chế độ ăn uống[sửa | sửa mã nguồn]

Chúng có một chế độ ăn uống tương tự như các loài khác, bao gồm thảm thực vật trên cạn và chồi từ cây như cây liễubạch dương. Một số chủ yếu trong rừng và bìa rừng, chúng ăn cỏ, cây bụi, lá và vỏ cây.[1] Nai có có thể tiêu thụ 32 kg thức ăn trong một ngày, chúng cũng ăn các loài thực vật thủy sinh như hoa loa kèn trong mùa xuânmùa hè.[2] Cũng giống như những loài nai sừng tấm khác, Chúng thiếu răng cửa trên nhưng có tám răng cửa sắc trên hàm dưới.

Kích thước và trọng lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Nai sừng tấm Phía Đông có chiều cao trung bình từ 1.7 đến 2 m (5–7 ft) tính đến vai. Gạc của nai có tuổi trung bình khoảng 1,5 m (5–6 ft) tính đến đỉnh. Trọng lượng của một con đực trưởng thành trung bình của chúng đạt khoảng 634 kg (£ 1.396). Những con cái cao khoảng trung bình 1.7m (5–6 ft) tính đến vai và nặng 270–260 kg (600-800 lbs). Chúng là phân loài lớn thứ ba của nai sừng tấm chỉ đứng sau Tây Nai sừng tấm phía Tây và Nai sừng tấm Alaska.

Cấu trúc xã hội và sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Nai đực là loài sinh sống đơn độc trong năm và chỉ tiếp xúc với các con khác hoặc khi giao phối hoặc giao đấu để đấu tranh giành quyền sinh sản. Cùng với loài nai sừng tấm khác, chúng có mức testosterone cao và sẽ tấn công bất cứ điều gì mà kích động hoặc gây ra sự sợ hãi cho nó. Điều này bao gồm con người, chó sói, những con nai sừng tấm, và gấu. Cuộc đối đầu thường xuyên gây ra với kết quả chết người.

Trong một cuộc chiến giữa hai con nai đực với nhau, cả hai đều có những rủi ro trong việc gạc của chúng bị khóa lại với nhau. Kết quả là chúng không thoát ra được và cái chết vì đau đớn và vì đói sẽ chờ đợi chúng. Những con cái chủ yếu là chung sống hòa bình với con người trừ khi chúng có những con nai con. Chúng sẽ tấn công bất cứ điều gì trong lãnh thổ của mình. Như loài nai sừng tấm khác, những con nai đực giao phối cuộc gọi để thu hút con cái giao phối với hoặc thách thức với con đực khác để giành quyền giao phối. Sau 10-11 tháng, nai sừng tấm một năm tuổi sẽ bị đuổi ra bởi các bà mẹ của chúng để tự bảo vệ mình.

Săn bắn[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Săn hươu

Nai sừng tấm phía Đông bị săn bắt để làm thực phẩm và như một trò thể thao giải trí trong mùa thu và mùa đông.[3] Trong quá khứ, dân số của chúng đã tăng lên nhanh chóng, gây ra một vấn đề cho người dân trong môi trường sống của họ, và việc săn bắn đã giúp kiểm soát dân số Nai sừng tấm phía Đông. Hàng năm chính quyền tỉnh bang Newfoundland cho phép săn 8.000 con nai sừng tấm, tuy nhiên nhiều người đang đề nghị chính quyền cho phép được săn gấp đôi lên khoảng 15.000 con mỗi năm.[1] Thợ săn sử dụng cả hai cung và mũi tên và súng săn để săn chúng và chỉ được phép săn nai sừng tấm đực vì những con nai cái có thể mang thai khi bị giết. Tính đến năm 2014, có mối quan tâm liên quan đến sự suy giảm trong quần thể nai sừng tấm ở miền bắc New England, có thể do sự săn bắn trong mùa đông cũng như bị những loài bọ kí sinh.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b http://www.vietnamplus.vn/nai-sung-tam-bac-my-de-doa-he-sinh-thai-canada/32827.vnp
  2. ^ “Moose Fact Sheet”. Connecticut Environmental Protection. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2011. 
  3. ^ “Newfoundland Moose Hunting”. Newfoundland Hunting. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2011. 
  4. ^ “What’s devastating the wild moose population in New England?”. PBS Newshour. 7 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |credits= (trợ giúp)