Trào lưu Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Trào lưu Nhật Bản (Nhật lưu)
Tiếng Nhật
Kanji日流
Hiraganaにちりゅう
Tiếng Hàn
Hangul일류
Hanja日流

Trào lưu Nhật Bản hay Nhật lưu là một từ được dùng để chỉ sự lan toả tiểu văn hoávăn hóa đại chúng Nhật Bản, chủ yếu tại các nước Á Đông như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn QuốcViệt Nam,[1][2][3] trong đó manga là trọng tâm chủ yếu.

Tại Đài Loan[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thập niên 1990, sau khi chính quyền Đài Loan bãi bỏ lệnh cấm văn hoá đại chúng Nhật Bản thì phim truyền hình, trò chơi điện tử, phim hoạt hìnhtruyện tranh Nhật Bản tiến vào Đài Loan với số lượng lớn, tạo thành ảnh hưởng to lớn đối với xã hội Đài Loan.[4][5]

Tại Hàn Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Nền văn hóa Hàn Quốc từng bị các sản phẩm văn hóa của Nhật Bản như manga, phim và tiểu thuyết lấn át. Đến khi kiểm duyệt truyền thông Nhật Bản tại Hàn Quốc được nới lỏng, nhiều bộ phim Nhật cũng đã được công chiếu tại đây.

Từ tháng 2 năm 2011, nhà xuất bản truyện tranh Haksan CultureHàn Quốc bắt đầu phát hành tập đầu tiên của bộ truyện tranh Đại chiến Titan bằng tiếng Hàn. Một kênh truyền hình cáp ở Hàn Quốc cũng đã phát sóng phim hoạt hình được dàn dựng theo bộ truyện tranh này. Sau khi phim phát sóng, bộ truyện đã tiêu thụ được 434.000 cuốn ở Hàn Quốc. Cách đó vài năm, bộ truyện tranh Nhật Bản Les Gouttes de Dieu đã trở thành một hiện tượng văn hóa, song lượng sách bán ra của Đại chiến Titan trong thời gian đầu còn vượt cả Les Gouttes de Dieu. Ở thị trường Hàn Quốc, những đầu sách mới chỉ tiêu thụ được khoảng 3.000 cuốn trong những ngày đầu phát hành, tuy nhiên Đại chiến Titan đã bán được hơn 50.000 cuốn. Cơn sốt Đại chiến Titan đã khiến một số kênh truyền hình Hàn Quốc dàn dựng nhiều chương trình hài nhái theo bộ truyện này, như Infinite Challenge trên kênh MBC.[6]

Trong khi đó, tiểu thuyết mới của nhà văn Nhật Bản Murakami HarukiTazaki Tsukuru không màu và những năm tháng hành hương cũng thu hút được lượng độc giả đáng kể ở Hàn Quốc. Cuốn sách này đã chiếm vị trí đầu trong danh sách các tiểu thuyết bán chạy nhất Hàn Quốc suốt 5 tuần liền, kể từ khi được phát hành hồi tháng 7. Trước khi sách được xuất bản ở Hàn Quốc, nhiều nhà xuất bản nội địa đã giành nhau bản quyền in tác phẩm này, với số tiền đặt cọc lên tới 150 triệu yên. Khi sách được tung ra thị trường, người hâm mộ Hàn Quốc đã xếp hàng nhiều giờ ở các cửa hàng sách lớn ở trung tâm Seoul để có được những cuốn sách đầu tiên. Đến nay Tsukuru Tazaki đã bán được hơn 6 triệu cuốn, cao gấp 3 lần so với cuốn tiểu thuyết trước của Murakami Haruki1Q84.[6]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 佐々木朋美 韓国のオンラインショッピングモールに"日流"ブーム到来 マイコミジャーナル, ngày 19 tháng 9 năm 2007
  2. ^ 上海万博、SKE48と世界コスプレ王者が登場、「日流」ファンで盛り上がる サーチナ, ngày 21 tháng 6 năm 2010
  3. ^ クォン・ヨンソク『「韓流」と「日流」~文化から読み解く日韓新時代』 日本放送出版協会, ngày 30 tháng 7 năm 2010 ISBN 9784140911600
  4. ^ Hirai, Taiki; Hernandez Hernandez, Alvaro David (14 tháng 11 năm 2015). “The Reception of Japanese Animation and its Determinants in Taiwan, South Korea and China” [Sự đón nhận và các yếu tố quyết định hoạt hình Nhật Bản tại Đài Loan, Hàn Quốc và Trung Quốc]. SAGE Publishing (bằng tiếng Anh). Đại học Kobe. doi:10.1177/1746847715589061. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2015. 
  5. ^ Wang, Kanzhi (2010). “Cosplay in China: Popular culture and youth community” [Cosplay tại Trung Quốc: Văn hóa đại chúng và cộng đồng trẻ]. Đại học Lund (bằng tiếng Anh). Thụy Điển. Master’s thesis. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2010. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  6. ^ a ă Việt Lâm (theo Korea Times) (ngày 26 tháng 8 năm 2013). 'Làn sóng Nhật Bản' lấn sân hallyu”. Thể thao & Văn hoá. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2013.