Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, sau là quốc kỳ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, sau là quốc kỳ của Cộng hòa miền Nam Việt Nam

Trong Chiến tranh Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam là một tổ chức chính trị với mục đích đoàn kết toàn dân miền Nam Việt Nam chống lại chiến tranh xâm lược của Mỹ, đánh đổ chế độ Việt Nam Cộng hòa thân Mỹ, tiến tới thống nhất Việt Nam[1]. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được cung cấp về tài chính, thiết bị và nhân sự bởi một bộ phận dân cư tại miền Nam Việt Nam cũng như của chính phủ và quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Lực lượng quân đội của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là Quân giải phóng miền Nam, do Bộ Chính trịTrung ương cục miền Nam chỉ huy.

Mục lục

[sửa] Tên gọi khác

Trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam người ta còn gọi những người tham gia Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là Việt Cộng. Từ "Việt Cộng" vốn xuất phát từ cụm từ "cộng sản Việt Nam", được phổ biến bởi Ngô Đình Diệm - tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa - trong chiến dịch Tố Cộng của ông, về sau cũng được dùng để gọi tổ chức này.

Chân dung một binh sĩ MTDTGPMNVN bị lính Mỹ bắt
Chân dung một binh sĩ MTDTGPMNVN bị lính Mỹ bắt

Lính Mỹ gọi họ một cách ngắn gọn là VC (viết tắt từ "Việt Cộng", đọc theo tiếng Anhvi-xi), hay Charlie (nguyên nhân là do hai chữ cái V và C lần lượt được phát âm là VictorCharlie theo bảng mẫu tự ngữ âm của NATO).

Tuy nhiên cũng có người cho rằng từ Việt Cộng là từ do bên quân đội Hoa Kỳ đặt ra, là tên gọi chệch ra từ "Việt khùng" (theo cách phát âm của người Mỹ) cho những con người thuộc tổ chức này[2].

[sửa] Thành lập

Binh sĩ MTDTGPMNVN trong địa đạo
Binh sĩ MTDTGPMNVN trong địa đạo

Dự định thành lập Mặt trận được công khai nói đến lần đầu tiên trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam. Tại đại hội, Tôn Đức Thắng đã nói rằng Mặt trận sẽ được dựa trên các khái niệm của Lênin về liên minh 4 giai cấp, nhưng để phù hợp với sự phức tạp của xã hội miền Nam, Mặt trận cần bao gồm cả các nhóm tôn giáo và dân tộc khác nhau; mục tiêu đấu tranh của Mặt trận phải rộng để kêu gọi được đông đảo quần chúng; Mặt trận cần nhấn mạnh các chủ trương dân tộc và cải cách, đặt ra mục tiêu cuối cùng là sự xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và phồn vinh. Cũng như tiền thân Việt Minh của nó, Mặt trận mới này sẽ cần được tổ chức thành nhiều cấp, từ ủy ban trung ương đến các tổ chức ở cấp làng; chủ nghĩa cộng sản sẽ không được nói đến[3]. Mặt trận đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương cục Miền Nam. Những người cộng sản miền nam hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam,hoạt động công khai và là thành viên tham gia Mặt trận.

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được chính thức thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay là Tân Biên) trong vùng căn cứ của mình ở tỉnh Tây Ninh, với thành phần chủ chốt là lực lượng Việt Minh hoạt động bí mật ở miền Nam. Lãnh đạo ban đầu là Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát. Huỳnh Tấn Phát giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Ủy ban Trung ương. Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận là Nguyễn Hữu Thọ (1961). Đại hội lần thứ nhất khai mạc ngày 16 tháng 2 năm 1962 chính thức bầu Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, Phó Chủ tịch: Võ Chí Công, Phùng Văn Cung, Huỳnh Tấn Phát..., Nguyễn Văn Hiếu là Tổng thư ký Mặt trận.

Mặt trận đã ra "Tuyên ngôn" và "Chương trình hành động 10 điểm" với mục tiêu đại diện cho quyền lợi của nhân dân miền Nam Việt Nam đấu tranh nhằm đánh Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tiến tới sự thống nhất của Việt Nam.

Thực chất đây là một tổ chức được thành lập theo yêu cầu chiến tranh của Đảng Lao động Việt Nam và những người có lập trường thân cộng sản đấu tranh cho thống nhất đất nước trong cuộc chiến tại miền Nam, nhằm tạo vị thế chính trị cho phong trào đấu tranh chống Mỹ và Việt Nam cộng hòa, đồng thời quản lý các vùng đất do họ quản lý có được kể từ sau phong trào đồng khởi.

Mặt trận liên tục tổ chức, lãnh đạo các hoạt động chống chính phủ Việt Nam Cộng hòa, chống lại sự can thiệp của Mỹ và các đồng minh. Để thực hiện mục đích đó, Quân Giải phóng Miền Nam đã được thành lập ngày 15 tháng 2 năm 1961, do Trung ương cục miền Nam lãnh đạo, thực hiện chiến tranh du kích chống lại chính quyền Sài Gòn, với chi viện về vũ khí và người từ miền Bắc. Sau khi Mặt trận ra đời, hàng loạt các tổ chức của mặt trận và các tổ chức cách mạng ra đời tham gia mặt trận:

  • Hội liên hiệp sinh viên học sinh giải phóng miền nam Việt Nam
  • Kỳ ủy Đảng Dân chủ Việt Nam
  • Thông tấn xã giải phóng
  • Quân giải phóng miền Nam Việt Nam do Bộ tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền nam Việt Nam chỉ huy
  • Hội phụ nữ giải phóng miền nam Việt Nam
  • Ủy ban tự trị dân tộc Tây Nguyên
  • Hội những người Công giáo kính chúa yêu nước ở miền nam Việt Nam
  • Hội lục hòa Phật tử miền Nam Việt Nam
  • Hội nông dân giải phóng miền nam Việt Nam (sau đổi là Liên hiệp doàn giải phóng miền nam Việt Nam)
  • Hội văn nghệ giải phóng miền nam Việt Nam
  • Ủy ban đoàn kết Á Phi của miền nam Việt Nam
  • Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của miền nam Việt Nam
  • Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam (bộ phận của Đảng Lao động Việt Nam ở miền nam Việt Nam, do Bí thư Trung ương cục miền Nam đứng đầu)
  • Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng miền Nam
  • Hội đồng thập tự giải phóng miền nam Việt Nam
  • Hội đồng quân dân y miền nam
  • Ban vận động Hội nhà giáo yêu nước ở miền nam
  • Báo giải phóng
  • Ủy ban nhân dân miền nam Việt Nam đoàn kết với nhân dân Mỹ

Ngày 25 tháng 2 năm 1962 Mặt trận đặt đại diện thường trực tại Cuba, tháng 2 năm 1963 đặt đại diện thường trực tại Algérie, sau đó tại Indonesia, Cộng hòa Dân chủ Đức, Trung Quốc, Liên Xô, Campuchia, Romania, Mông Cổ, Thụy Điển. Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương được tổ chức ở 4 cấp: cấp miền, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã. Từ năm 1960-1967 Ủy ban Mặt trận giải phóng địa phương các cấp thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng ở cấp mình. Đến năm 1968 một số địa phương như Thừa Thiên-Huế, Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định, Đà Nẵng... thành lập Ủy ban nhân dân cách mạng thì Ủy ban nhân dân cách mạng làm nhiệm vụ của chính quyền. Sau khi Chính phủ cách mạng lâm thời ra đời thì chính phủ và Ủy ban nhân dân cách mạng các cấp làm nhiệm vụ chính quyền.

[sửa] Thành lập Chính phủ Cách mạng Lâm thời

Chiến sĩ Quân Giải phóng đứng dưới cờ của Mặt trận
Chiến sĩ Quân Giải phóng đứng dưới cờ của Mặt trận

Từ ngày 6 đến 8 tháng 6 năm 1969, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là nòng cốt, cùng với Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch, đã lập ra Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam để đối chọi với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Chính phủ cách mạng lâm thời do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát làm chủ tịch, và Hội đồng cố vấn Chính phủ do luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm chủ tịch. Chính phủ cách mạng lâm thời đã được các nước theo phe cộng sản và một số nước thuộc Thế giới thứ Ba công nhận. Ngay trong tháng 6 năm 1969, cho đến ngày 5 tháng 11 năm 1975 đã có 23 nước công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam, trong đó có 21 nước đã quan hệ ngoại giao.

Ngày 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam cùng với Chính phủ Cách mạng Lâm thời được chính thức công nhận là một chính quyền tại Nam Việt Nam và là một trong 4 bên tham gia hiệp định. Tuy nhiên, những người lãnh đạo vẫn tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, lật đổ chính quyền Việt Nam Cộng hòa và đã giành được quyền kiểm soát Nam Việt Nam vào năm 1975.

[sửa] Thống nhất với miền Bắc Việt Nam

Tháng 11 năm 1975 dưới sự chỉ đạo của Đảng Lao Động Việt Nam, hội nghị hiệp thương chính trị được tổ chức để tiến tới thống nhất về mặt nhà nước. Đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do ông Trường Chinh đứng đầu, đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam do ông Phạm Hùng đứng đầu. Hội nghị đã tán thành tổ chức bầu cử Quốc hội thống nhất. Ngày 25 tháng 4 năm 1976 tổng tuyển cử trong cả nước được tổ chức. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tự giải tán và chính thức hợp nhất với chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để ra đời chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam của một quốc gia Việt Nam thống nhất. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam cũng tuyên bố hợp nhất với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đầu năm 1977.

[sửa] Ghi chú

  1. ^ Giới thiệu tại trang web của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam
  2. ^ Chiến tranh Việt Nam - Những điều chưa biết (phim tài liệu)
  3. ^ William Duiker, Ho Chi Minh, Hyperion, 2000, tr. 525

[sửa] Xem thêm

[sửa] Liên kết ngoài

Công cụ cá nhân