Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc
United Nations Children's Emergency Fund (tiếng Anh)
صندوق الأمم المتحدة للطفولة (tiếng Ả Rập)
联合国儿童基金会 (tiếng Trung)
Fonds des Nations unies pour l'enfance (tiếng Pháp)
Детский фонд Организации Объединённых Наций (tiếng Nga)
Fondo de Naciones Unidas para la Infancia (tiếng Tây Ban Nha)
Unicef logo.svg
Biểu trưng
Flag of UNICEF.svg
Cờ UNICEF
Loại hình Quỹ
Tên gọi tắt unicef
Lãnh đạo Anthony Lake
Hiện trạng Đang hoạt động
Thành lập Tháng 12, 1946
Trang web http://www.unicef.org
Trực thuộc ECOSOC

Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh: United Nations Children's Fund) là một quỹ cứu tế được thành lập bởi Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc ngày 11 tháng 12 năm 1946. Năm 1953, Liên Hiệp Quốc thay tên của nó từ Quỹ Khẩn cấp Nhi đồng Quốc tế Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh: United Nations International Children's Emergency Fund) mà được biết dưới tên tiếng Việt là Cơ quan Cứu trợ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc, nhưng nó vẫn được gọi tắt theo từ chữ đầu UNICEF bắt nguồn từ tên cũ.

Quá trình thành lập và hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1946 Chiến dịch "Thực phẩm cho châu Âu" – Sau Thế Chiến Thứ Hai, trẻ em tại châu Âu bị nạn đói và bệnh tật lan tràn. Liên Hiệp Quốc thành lập quỹ UNICEF vào tháng 12 năm 1946 để cứu trợ thực phẩm, quần áo cho chúng.
  • 1953 UNICEF trở thành một bộ phận thường trực của Liên Hiệp Quốc – UNICEF bắt đầu chiến dịch bài trừ bệnh yaws, một chứng bệnh tàn phá cơ thể hành trăm triệu trẻ em nhưng có thể chữa bằng thuốc penicillin.
  • 1954 Tài tử Danny Kaye được chọn làm "Đại sứ thiện chí cho UNICEF". Bộ phim "Trọng Trách Trẻ Em" của ông ta về công tác của UNICEF tại Á Châu được hơn 100 triệu người xem.
  • 1959 Tuyên bố về "Quyền Trẻ Em" – Liên Hiệp Quốc tuyên bố về "Quyền Trẻ Em" - mọi trẻ em có quyền được bảo vệ, giáo dục, chăm lo sức khỏe, chỗ ở và dinh dưỡng.
  • 1961 Giáo Dục – Thúc đẩy và giúp đỡ các quốc gia về vấn đề giáo dục trẻ em.
  • 1965, UNICEF được trao tặng Giải Nobel Hòa bình cho công việc khích lệ tình thương tương trợ giữa các quốc gia.
  • 1979 Năm Quốc Tế Trẻ Em
  • 1981 Chấp hành quy tắc "Sữa mẹ" – Khuyến khích người me cho con bú sửa mẹ hầu làm giảm một số các chứng bệnh trẻ em.
  • 1982 "Cách mạng về sự sống còn và phát triển của trẻ em" – UNICEF phát động phong trào để cứu háng triệu trẻ em hàng năm. "Cách mạng" dựa vào 4 nguyên tắc giản đơn: theo dõi sức lớn trẻ em, nước uống, sữa mẹ và tiêm ngừa miễn nhiễm
  • 1987 Cuộc khảo cứu "Thay đổi kinh tế và bộ mặt nhân loại" - khiến thế giới phải lưu tâm đến vấn đề bảo vệ phụ nữ và trẻ em đối phó với các tác hại của thay đổi kinh tế tại các quốc gia nghèo.
  • 1989 Quy ước về "nhân quyền của trẻ em" – Bắt đầu có hiệu lực từ tháng Chín 1990. Quy ước này được thế giới công nhận nhanh nhất và sâu rộng nhất trong lịch sử các loại quy ước về nhân quyền.
  • 1990 "Hội nghị Quốc tế về trẻ em" – Lần đầu tiên trong lịch sử, các giới lãnh đạo các quốc gia họp tại tòa nhà Liên Hiệp Quốc tại New York đề xướng kế hoạch 10 năm cho vấn đề sức khỏe, dinh dưỡng và giáo dục cho trẻ em.
  • 1996 Chiến tranh và trẻ em – Bản báo cáo của Machel: "Tác hại của chiến tranh vũ khí đối với trẻ em" - do UNICEF bảo trợ.
  • 2001 Chiến dịch "Nói 'Đồng Ý' cho trẻ em" – Một phong trào toàn cầu khuyến khích mọi người tạo thay đổi cho thế giới bằng cách lưu tâm đến trẻ em. Hàng triệu người ghi tên hứa sẽ thực thi công tác tìm cách nâng cao đời sống trẻ em.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]