Vệ tinh tự nhiên của Sao Hải Vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sao Hải Vương (trên cùng) và Triton (ở giữa), 3 ngày sau khi Voyager 2 bay qua

Sao Hải Vương hiện có 14 vệ tinh.[1] Vệ tinh lớn nhất cho đến nay là Triton, được phát hiện bởi William Lassell chỉ 17 ngày sau khi Sao Hải Vương được phát hiện. Nhưng phải mất đến một trăm năm sau, Nereid, vệ tinh thứ hai mới được phát hiện.

Triton có khối lượng để đạt đến trạng thái cân bằng thuỷ tĩnh, và sẽ là một hành tinh lùn nếu nó xoay quanh Mặt Trời. Triton có quỹ đạo rất khác thường vì có hình tròn nhưng lại chuyển động nghịch hànhnghiêng. Phía trong Triton là 6 vệ tinh đều, tất cả đều có quỹ đạo cùng hướng mà không quá nghiêng so với mặt phẳng xích đạo của hành tinh. Một số chúng có quỹ đạo nằm trong vành đai Sao Hải Vương.

Sao Hải Vương cũng có 6 vệ tinh dị hình ở vòng ngoài, bao gồm Nereid, có quỹ đạo nằm rấr xa so với Sao Hải Vương, có độ nghiêng quỹ đạo lớn, là tập hợp giữa các vệ tinh thuận hànhnghịch hành. Hai vệ tinh tự nhiên được phát hiện năm 20022003, PsamatheNeso, có quỹ đạo lớn nhất trong số các vệ tinh tự nhiên trong Hệ Mặt Trời được phát hiện cho đến nay. Chúng mất 25 năm để hoàn thành quỹ đạo của mình, gấp 125 lần khoảng cách Mặt Trăng tới Trái Đất. Sao Thiên Vương có quyển Hill lớn nhất trong Hệ Mặt Trời, điều nay cho phép nó có thể kiểm soát các vệ tinh xa xôi như vậy.

Các vệ tinh tự nhiên của Sao Thiên Vương được đặt tên theo các nhân vật sống dưới nước trong thần thoại Hy LạpLa Mã.

Bảng số liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Key

Vệ tinh nghịch hành

Các vệ tinh tự nhiên của Sao Hải Vương dưới đây được liệt kê theo bán kính trung bình quỹ đạo từ trong ra ngoài. Triton không những đủ khối lượng để có hình phỏng cầu mà còn có kích thước xấp xỉ Mặt Trăng của chúng ta (0,778 bán kính) được đánh dấu ô màu tím. Các vệ tinh bị bắt giữ đánh dấu bằng ô màu ghi; các vệ tinh có quỹ đạo nghịch hành màu ghi sẫm, thuận màu ghi nhạt. Có nhiều người cho rằng Triton cũng là một vệ tinh bị bắt giữ.

Thứ tự
[Ghi chú 1]
Label
[Ghi chú 2]
Tên
Phát âm
(key)
Hình
ảnh
Đường kính
(km) [Ghi chú 3]
Khối lượng
(×1016 kg)[Ghi chú 4]
Bán trục lớn
(km)[9]
Chu kỳ quỹ đạo
(d)[9]
Độ nghiêng quỹ đạo
(°)[9][Ghi chú 5]
Độ lệch tâm
[9]
Năm phát hiện[2]
1 Neptune III Naiad ˈneɪ.əd
Naiad Voyager.png
66
(96 × 60 × 52)
19 48,227 0.294 4.691 0.0003 1989
2 Neptune IV Thalassa θəˈlæsə
Naiad Voyager.png
82
(108 × 100 × 52)
35 50,074 0.311 0.135 0.0002 1989
3 Neptune V Despina dɨsˈpiːnə
Despina.jpg
150
(180 × 148 × 128)
210 52,526 0.335 0.068 0.0002 1989
4 Neptune VI Galatea ˌɡæləˈtiːə
Galatea moon.jpg
176
(204 × 184 × 144)
212 61,953 0.429 0.034 0.0001 1989
5 Neptune VII Larissa ləˈrɪsə
Larissa 1.jpg
194
(216 × 204 × 168)
460 73,548 0.555 0.205 0.0014 1981
6 Neptune VIII Proteus ˈproʊtiəs
Proteus Voyager 2 (big).jpg
420
(436 × 416 × 402)
4,400 117,646 1.122 0.075 0.0005 1989
7 Neptune I Triton ˈtraɪtən
Triton moon mosaic Voyager 2 (large).jpg
2,705.2 ± 4.8
(2,709 × 2,706 × 2,705)
2,140,800 ± 5200 354,759 5.877 156.865 0.0 1846
8 Neptune II Nereid ˈnɪəriː.ɪd
Nereid-Voyager2.jpg
340 ± 50 2,700 5,513,818 360.13 7.090 0.7507 1949
9 Neptune IX Halimede ˌhælɨˈmiːdiː 62 16 16,611,000 1,879.08 112.712 0.2646 2002
10 Neptune XI Sao ˈseɪ.oʊ 44 5.8 22,228,000 2,912.72 53.483 0.1365 2002
11 Neptune XII Laomedeia ˌleɪ.ɵmɨˈdiːə 42 5.0 23,567,000 3,171.33 37.874 0.3969 2002
12 Neptune X Psamathe ˈsæməθiː 40 4.4 48,096,000 9,074.30 126.312 0.3809 2003
13 Neptune XIII Neso ˈniːsoʊ 60 15 49,285,000 9,740.73 136.439 0.5714 2002

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Order refers to the position among other moons with respect to their average distance from Neptune.
  2. ^ Label refers to the Roman numeral attributed to each moon in order of their discovery.[2]
  3. ^ Diameters with multiple entries such as "60×40×34" reflect that the body is not spherical and that each of its dimensions has been measured well enough. The dimensions of the five inner moons were taken from Karkoschka, 2003.[3]. Dimensions of Proteus are from Stooke, 1994.[4] Dimensions of Triton are from Thomas, 2000,[5] while its diameter is taken from Davies et al., 1991.[6] The size of Nereid is from Smith, 1989.[7] The sizes of the outer moons are from the Sheppard et al., 2006.[8]
  4. ^ Mass of all moons of Neptune except Triton were calculated assuming a density of 1.3 g/cm³. The volumes of Larissa and Proteus were taken from Stooke, 1994.[4] The mass of Triton is from Jacobson, 2009.
  5. ^ Each moon's inclination is given relative to its local Laplace plane. Inclinations greater than 90° indicate retrograde orbits (in the direction opposite to the planet's rotation).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “NASA Hubble Finds New Neptune Moon”. NASA. 15 tháng 7, 2013. Truy cập 16 tháng 7, 2013. 
  2. ^ a ă “Planet and Satellite Names and Discoverers”. Gazetteer of Planetary Nomenclature. USGS Astrogeology. 21 tháng 7 năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2006. 
  3. ^ Bản mẫu:Source list/Karkoschka2003
  4. ^ a ă Stooke, Phillip P. (1994). “The surfaces of Larissa and Proteus”. Earth, Moon and planets 65: 31–54. doi:10.1007/BF00572198. 
  5. ^ Thomas, P.C. (2000). “NOTE: The Shape of Triton from Limb Profiles”. Icarus 148: 587–588. doi:10.1006/icar.2000.6511. 
  6. ^ Davies, Merton E.; Rogers, Patricia G.; Colvin, Tim R. (1991). “A control network of Triton”. Journal of Geophysical Research 96: 15,675–681. doi:10.1029/91JE00976. 
  7. ^ Bản mẫu:Source list/Smith1989
  8. ^ Sheppard, Scott S.; Jewitt, David C.; Kleyna, Jan (2006). “A Survey for "Normal" Irregular Satellites Around Neptune: Limits to Completeness”. The Astronomical Journal 132: 171–176. doi:10.1086/504799. arΧiv:astro-ph/0604552. 
  9. ^ a ă â b Jacobson, R.A. (2008) NEP078 - JPL satellite ephemeris

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]