Ceres (hành tinh lùn)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ceres Ceres symbol.svg
Ceres optimized.jpg
Hình ảnh Ceres nhìn từ kính viễn vọng không gian Hubble (ACS). Độ tương phản được tăng lên để thấy các chi tiết bề mặt.
Khám phá[1]
Khám phá bởi Giuseppe Piazzi
Ngày khám phá 1-1-1801
Tên chỉ định
Tên chỉ định tiểu hành tinh 1 Ceres
Phiên âm /ˈsɪəriːz/[2][3] or as tiếng Latinh: Cerēs
Tên thay thế A899 OF; 1943 XB
Danh mục tiểu hành tinh Hành tinh lùn
Vành đai chính
Tính từ Cererian, Cerian
Đặc trưng quỹ đạo[4]
Kỷ nguyên 18-6-2009
(JD 2455000.5)
Cận điểm quỹ đạo 380.995.855 km
2,5468 AU
Viễn điểm quỹ đạo 446.669.320 km
2,9858 AU
Bán trục lớn 413.832.587 km
2,7663 AU[4]
Độ lệch tâm 0,07934[4]
Chu kỳ quỹ đạo 1.680,5 ngày
4,60 năm
Tốc độ vũ trụ cấp 1 17,882 km/s
Độ bất thường trung bình 27,448°
Độ nghiêng quỹ đạo 10,585°[4] với mặt phẳng hoàng đạo
9,20° với mặt phẳng bất biến[5]
Kinh độ của điểm nút lên 80,399°[4]
Acgumen của cận điểm 72,825°[4]
Đặc trưng vật lý
Bán kính Xích đạo 487,3 ± 1,8 km[6]
Bán kính cực 454,7 ± 1,6 km[6]
Khối lượng 9,43 ± 0,07×1020 kg[7]
Khối lượng riêng trung bình 2,077 ± 0,036 g/cm³[6]
Hấp dẫn bề mặt 0,27 m/s²
0,028 g[8]
Tốc độ vũ trụ cấp 2 0,51 km/s[8]
Chu kỳ tự quay 0,3781 ngày
9,074170 h[9][10]
Độ nghiêng trục quay khoảng 3°[6]
Xích kinh cực bắc 19 h 24 m
291°[6]
Xích vĩ cực bắc 59°[6]
Suất phản chiếu 0,090 ± 0,0033 (hình học dải V)[11]
Nhiệt độ bề mặt min tr b max
Kelvin ? ~167 K[16] 239 K[16]
Kiểu phổ C[12]
Cấp sao biểu kiến 6,7[13] tới 9,32[14]
Cấp sao tuyệt đối (H) 3,36 ± 0,02[11]
Đường kính góc 0,84"[15] tới 0,33"[8]

Ceres (tiếng Latin: Cerēs), là hành tinh lùn nhỏ nhất được biết trong Hệ Mặt Trời và là hành tinh lùn duy nhất trong vành đai tiểu hành tinh chính ở khoảng giữa Sao MộcSao Hỏa. Hành tinh lùn này được Giuseppe Piazzi phát hiện vào ngày 01 tháng 01 năm 1801,[17] và được đặt tên theo nữ thần Hy Lạp Ceres – nữ thần của cây cỏ, mùa màng và tình mẫu tử. Trong một nửa thế kỷ nó được cho là hành tinh thứ 8.

Với đường kính khoảng 950 km (590 mi), Ceres là vật thể lớn nhất và nặng nhất trong vành đai chính, và chiếm 32% tổng khối lượng vành đai chính.[18][19] Các quan sát gần đây xác định được nó có dạng hình cầu, không giống như hình dạng bất định của các vật thể nhỏ hơn với lực hấp dẫn yếu hơn.[11] Bề mặt của Ceres có thể là một hỗn hợp của băng nước và các khoáng vật hydrat khác nhau như carbonatsét.[12] Ceres có biểu hiện phân dị thành lõi đámanti băng.[6] Có thể có đại dương nước lỏng bên dưới bề mặt của nó.[20][21]

Từ Trái Đất, cấp sao biểu kiến của Ceres vào khoảng 6,7 đến 9,3, và do đó lúc sáng nhất nó vẫn bị rất mờ khi nhìn bằng mắt thường.[13] Vào ngày 27 tháng 9 năm 2007, NASA đã phóng tàu Dawn để thám hiểm Vesta (2011–2012) và Ceres (2015).[22]

Lịch sử phát hiện và đặt tên[sửa | sửa mã nguồn]

Ý tưởng rằng một hành tinh chưa được phát hiện có thể tồn tại giữa quỹ đạo Sao HỏaSao Mộc được Johann Elert Bode đề xuất đầu tiên vào năm 1772.[17] Đề xuất của ông dựa trên định luật Titius–Bode, một giả thuyết ngày nay không còn được sử dụng này do Johann Daniel Titius đưa ra năm 1766, theo đó có một mô hình có quy tắc theo bán trục chính của các hành tinh đã được biết đến chỉ gây nhiễu trong một khoảng không lớn giữa Sao Hỏa và Sao Mộc.[17][23] Mô hình này được dự đoán có bán trục chính gần bằng 2,8 AU đối với quỹ đạo của các hành tinh bị mất.[23] William Herschel phát hiện ra Sao Thiên Vương vào năm 1781[17] gần khoảng cách dự đoán cho thiên thể kế tiếp bênh cạnh Sao Thổ, điều này làm tăng độ tin cậy của định luật của Titius-Bode. Vào năm 1800, họ đã gửi yêu cầu đến 24 nhà thiên văn học giàu kinh nghiệm để yêu cầu hợp tác và bắt đầu tìm kiếm một cách có phương pháp đối với hành tinh được đề xuất.[17][23] Dẫn đầu nhóm nghiên cứu là Franz Xaver von Zach, chủ biên của Monatliche Correspondenz, họ không phát hiện ra Ceres, mà chỉ phát hiện ra một số tiểu hành tinh lớn.[23]

Piazzi's Book "Della scoperta del nuovo pianeta Cerere Ferdinandea" outlining the discovery of Ceres
Nữ thần mùa màng Ceres
Lõi Ceres
Kích cỡ so với Trái Đất

Quỹ đạo và chuyển động tự quay[sửa | sửa mã nguồn]

Quỹ đạo Ceres

Đặc trưng vật lý[sửa | sửa mã nguồn]

Cấu trúc[sửa | sửa mã nguồn]

Với đường kính khoảng 950 km, Ceres là thiên thể lớn nhất và nặng nhất trong vành đai tiểu hành tinh, và chứa khoảng 1/3 tổng khối lượng của vành đai[18]. Các quan sát gần đây đã cho thấy Ceres có hình cầu, không như các thiên thể nhỏ hơn với các hình dạng không đều.[11]

Bề mặt[sửa | sửa mã nguồn]

Bề mặt của Ceres có lẽ cấu tạo bởi hỗn hợp của băng và nhiều loại khoáng vật ngậm nước như các cacbonatđất sét.[12]

Khí quyển[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 2014, các kết quả quan sát của kính viễn vọng Herschel thuộc Cơ quan vũ trụ Châu Âu chỉ ra rằng trên bề mặt Ceres có dấu hiệu của hơi nước.[24][25][26] [27]

Thám hiểm[sửa | sửa mã nguồn]

Chưa có tàu nào đến Ceres. Nó chỉ được quan sát

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Ceres (dwarf planet) tại Wikimedia Commons

  1. ^ Schmadel, Lutz (2003). Dictionary of minor planet names (ấn bản 5). Đức: Springer. tr. 15. ISBN 3-540-00238-3. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2008. 
  2. ^ In US dictionary transcription, us dict: sēr′·ēz.
  3. ^ “Dictionary.com Unabridged (v 1.1)”. Random House, Inc. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2007. 
  4. ^ a ă â b c d Yeomans, Donald K. (5 tháng 7 năm 2007). “1 Ceres”. JPL Small-Body Database Browser. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2009. —Các giá trị liệt kê được làm tròn với sai số không chắc chắn (1-sigma).
  5. ^ “The MeanPlane (Invariable plane) of the Solar System passing through the barycenter”. 3 tháng 4 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2009.  (Solex 10 do Aldo Vitagliano viết; xem Mặt phẳng bất biến)
  6. ^ a ă â b c d đ Thomas, P. C.; Parker, J. Wm.; McFadden, L. A.; et al. (2005). “Differentiation of the asteroid Ceres as revealed by its shape”. Nature 437: 224–226. doi:10.1038/nature03938. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2007. 
  7. ^ Carry, Benoit; et al. (November năm 2007). “Near-Infrared Mapping and Physical Properties of the Dwarf-Planet Ceres” (PDF). Astronomy & Astrophysics 478: 235–244. doi:10.1051/0004-6361:20078166. 
  8. ^ a ă â Tính theo các tham số đã biết
  9. ^ Williams, David R. (2004). Asteroid Fact Sheet. 
  10. ^ Chamberlain, Matthew A.; Sykes Mark V.; Esquerdo Gilbert A. (2007). “Ceres lightcurve analysis – Period determination”. Icarus 188: 451–456. doi:10.1016/j.icarus.2006.11.025. 
  11. ^ a ă â b Li, Jian-Yang; McFadden, Lucy A.; Parker, Joel Wm. (2006). “Photometric analysis of 1 Ceres and surface mapping from HST observations” (PDF). Icarus 182: 143–160. doi:10.1016/j.icarus.2005.12.012. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2007. 
  12. ^ a ă â Rivkin, A. S.; Volquardsen, E. L.; Clark, B. E. (2006). “The surface composition of Ceres:Discovery of carbonates and iron-rich clays” (PDF). Icarus 185: 563–567. doi:10.1016/j.icarus.2006.08.022. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2007. 
  13. ^ a ă Menzel, Donald H.; and Pasachoff, Jay M. (1983). A Field Guide to the Stars and Planets (ấn bản 2). Boston, MA: Houghton Mifflin. tr. 391. ISBN 0395348358. 
  14. ^ APmag và AngSize phát sinh bằng Horizons (Ephemeris: Observer Table: Quantities = 9,13,20,29)
  15. ^ Kích thước góc của Ceres tại vị trí tháng 2 năm 2009: 974 km đường kính / (1,58319 AU * 149.597.870 km) * 206.265 = 0,84"
  16. ^ a ă Saint-Pé, O.; Combes, N.; Rigaut F. (1993). “Ceres surface properties by high-resolution imaging from Earth”. Icarus 105: 271–281. doi:10.1006/icar.1993.1125. 
  17. ^ a ă â b c Hoskin, Michael (26 tháng 6 năm 1992). “Bodes' Law and the Discovery of Ceres”. Observatorio Astronomico di Palermo "Giuseppe S. Vaiana". Truy cập ngày 5 tháng 7 năm 2007. 
  18. ^ a ă Pitjeva, E. V.; Precise determination of the motion of planets and some astronomical constants from modern observations, in Kurtz, D. W. (Ed.), Proceedings of IAU Colloquium No. 196: Transits of Venus: New Views of the Solar System and Galaxy, 2004
  19. ^ Moomaw, Bruce (2 tháng 7 năm 2007). “Ceres As An Abode Of Life”. spaceblooger.com. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2007. 
  20. ^ McCord, Thomas B. (2005). “Ceres: Evolution and current state”. Journal of Geophysical Research 110: E05009. doi:10.1029/2004JE002244. 
  21. ^ Castillo-Rogez, J. C.; McCord, T. B.; and Davis, A. G. (2007). “Ceres: evolution and present state” (PDF). Lunar and Planetary Science. XXXVIII: 2006–2007. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009. 
  22. ^ Russel, C. T.; Capaccioni, F.; Coradini, A.; et al. (2006). “Dawn Discovery mission to Vesta and Ceres: Present status”. Advances in Space Research 38: 2043–2048. doi:10.1016/j.asr.2004.12.041. 
  23. ^ a ă â b Hogg, Helen Sawyer (1948). “The Titius-Bode Law and the Discovery of Ceres”. Journal of the Royal Astronomical Society of Canada 242: 241–246. 
  24. ^ Küppers, Michael; O'Rourke, Laurence; Bockelée-Morvan, Dominique; Zakharov, Vladimir; Lee, Seungwon; Von Allmen, Paul; Carry, Benoît; Teyssier, David; Marston, Anthony; Müller, Thomas; Crovisier, Jacques; Barucci, M. Antonietta; Moreno, Raphael (2014). “Localized sources of water vapour on the dwarf planet (1) Ceres”. Nature 505 (7484): 525–527. doi:10.1038/nature12918. ISSN 0028-0836. PMID 24451541. 
  25. ^ Küppers, Michael; O'Rourke, L.; Bockelée-Morvan, D.; Zakharov V.; Lee S.; Von Allmen, P.; Carry, B.; Teyssier, D.; Marston, A.; Müller, T.; Crovisier, J.; Barucci M.; Moreno, R. (2014). “Localized sources of water vapour on the dwarf planet (1) Ceres”. Nature 505 (7484): 525–527. doi:10.1038/nature12918. PMID 24451541. 
  26. ^ “Water Detected on Dwarf Planet Ceres”. Science.nasa.gov. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2014. 
  27. ^ Wrap-up: The Solar System and its Evolu8on Herschel, 15-18/10/2013 trang 27&28: "Detection of water vapor around dwarf planet Ceres"