Sao Diêm Vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sao Diêm Vương Ký hiệu thiên văn học của Sao Diêm Vương
Sao Diêm Vương
Sao Diêm Vương, hình ảnh do Kính thiên văn Hubble chụp
Đặc điểm của quỹ đạo (Kỷ nguyên J2000)
Bán trục lớn 5.906.376.272 km hay
39,48168677 đơn vị thiên văn.
Chu vi 36.530 × 1012 km hay
244.186 đơn vị thiên văn hay
lần Trái Đất.
Độ lệch tâm 0,24880766 hay
14,635 lần Trái Đất.
Cận điểm 4.436.824.613 km hay
29,65834067 đơn vị thiên văn.
Viễn điểm 7.375.927.931 km hay
49,30503287 đơn vị thiên văn.
Chu kỳ theo sao 90.613,3058 ngày hay
248,09 năm hay
247,68 lần Trái Đất.
Chu kỳ giao hội 366,74 ngày hay
1,004 năm.
Vận tốc quỹ đạo:
- trung bình 4,666 km/s hay
0,158 lần Trái Đất.
- tối đa 6,112 km/s hay
0,201 lần Trái Đất.
- tối thiểu 3,676 km/s hay
0,127 lần Trái Đất.
Độ nghiêng 17,14175° với Hoàng Đạo hay
11,88° với xích đạo Mặt Trời.
Hoàng kinh của điểm nút lên 110,30347°
Acgumen của điểm cận nhật 113,76329°
Tổng số vệ tinh 3
Đặc điểm của hành tinh
Đường kính:
- tại xích đạo 2.390 km hay
0,180 lần Trái Đất.
- qua hai cực 2.390 km hay
0,180 lần Trái Đất.
Độ dẹt 0
Diện tích 17,95 × 106 km² hay
0,033 lần Trái Đất.
Thể tích 7,15 × 109 km³ hay
0,0066 lần Trái Đất.
Khối lượng 12,5 × 1021 kg hay
0,0021 lần Trái Đất.
Khối lượng riêng 1.750 kg/ hay
0,317 lần Trái Đất.
Gia tốc trọng trường
tại xích đạo
0,58 m/ hay
0,059 lần Trái Đất.
Vận tốc thoát ly 1,2 km/s hay
0,107 lần Trái Đất.
Chu kỳ quay quanh trục 6,387 ngày hay
153,3 giờ hay
6,387 lần Trái Đất.
Vận tốc quay quanh trục
tại xích đạo
47,18 km/h hay
0,0039 lần Trái Đất.
Độ nghiêng trục quay 122,54° hay
lần Trái Đất.
Xích kinh của cực bắc 20 h 52 m 5 s (hay 133,02°)
Xích vĩ của cực bắc -9,09°
Hệ số phản xạ 0,30 hay
lần Trái Đất.
Nhiệt độ tại bề mặt:
- tối thiểu 33K (hay -240°C)
- trung bình 44K (hay -229°C)
- tối đa 55K (hay -218°C)
Áp suất khí quyển
tại bề mặt
0,30 kPa hay
lần Trái Đất.
Cấu tạo của khí quyển
CH4
N2
CO

Sao Diêm Vương, cũng được định danh hình thức134340 Pluto (từ tiếng La tinh: Plūto, tiếng Hy Lạp: Πλούτων), là hành tinh lùn lớn thứ hai đã được biết trong Hệ Mặt Trời (sau Eris) và là vật thể lớn thứ mười tám được quan sát trực tiếp thấy quay quanh Mặt Trời.

Trước kia nó từng được xếp hạng là một hành tinh, Sao Diêm Vương hiện được coi là thành viên lớn nhất của một vùng riêng biệt được gọi là Vành đai Kuiper.[1] Tương tự như các thành viên khác của vành đai này, nó chủ yếu gồm đá với băng và có kích thước khá nhỏ: xấp xỉ một phần năm khối lượng và một phần ba thể tích Mặt Trăng của Trái Đất. Sao Diêm Vương có quỹ đạo với độ lệch tâm lớn và rất nghiêng. Độ lệch tâm khiến nó có thể có khoảng cách từ 30 tới 49 AU (4.4—7.4 tỷ km) từ Mặt Trời, nên thỉnh thoảng Sao Diêm Vương ở gần Mặt Trời hơn Sao Hải Vương. Sao Diêm Vương và vệ tinh lớn nhất của nó, Charon, thường được coi là một hệ đôi bởi khối tâm của các quỹ đạo của chúng không nằm trong bất kỳ một vật thể nào.[2] Hiệp hội Thiên văn học Quốc tế (IAU) vẫn chưa chính thức hoá một định nghĩa cho các hệ hành tinh lùn đôi, và cho tới khi họ thông qua một quyết định như vậy, Charon vẫn được xếp hạng là một vệ tinh của Sao Diêm Vương.[3] Sao Diêm Vương cũng có ba vệ tinh nhỏ hơn khác là Nix, Hydra, được khám phá năm 2005,[4] và vệ tinh P4 được khám phá năm 2011.[5]

Từ khi được phát hiện năm 1930 cho tới tận năm 2006, Sao Diêm Vương vẫn được tính là hành tinh thứ chín của Hệ Mặt Trời. Tuy nhiên, cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, nhiều vật thể tương tự Sao Diêm Vương đã được phát hiện ở phía ngoài Hệ Mặt Trời, đáng chú ý nhất là vật thể đĩa phân tán Eris, có khối lượng lớn hơn Sao Diêm Vương 27%.[6] Ngày 24 tháng 8 năm 2006 Liên đoàn Thiên văn Quốc tế đã lần đầu tiên định nghĩa "hành tinh". Định nghĩa này không bao gồm Sao Diêm Vương, nó bị Liên đoàn Thiên văn Quốc tế xếp loại lại như một thành viên của loại mới là các hành tinh lùn cùng với ErisCeres.[7] Sau khi được tái xếp hạng, Sao Diêm Vương được thêm vào danh sách các tiểu hành tinh và được định danh bằng số 134340.[8][9] Một số nhà khoa học vẫn cho rằng nó cần được xếp vào nhóm hành tinh.[10]

Khám phá[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hành tinh X

Trong thập niên 1840, sử dụng cơ học Newton, Urbain Le Verrier đã dự đoán vị trí của Sao Hải Vương khi ấy vẫn chưa được khám phá sau khi phân tích những nhiễu loạn trong quỹ đạo của Sao Thiên Vương.[11] Giả thiết rằng những sự nhiễu loạn bị gây ra bởi lức hút hấp dẫn của hành tinh khác, Le Verrier đã gửi những tính toán của mình cho nhà thiên văn học Đức Johann Gottfried Galle. Ngày 23 tháng 9 năm 1846, buổi tối sau khi nhận được bức thư, Galle và sinh viên của mình Heinrich d'Arrest đã tìm thấy Sao Hải Vương ở chính xác nơi Le Verrier đã dự đoán.[12] Những quan sát Sao Hải Vương ở cuối thế kỷ 19 đã khiến các nhà thiên văn học phải cho rằng quỹ đạo của Sao Thiên Vương đang bị nhiễu loạn bởi một hành tinh khác nữa ngoài Sao Hải Vương. Năm 1906, Percival Lowell, một người Boston giàu có từng thành lập Đài quan sát Lowell tại Flagstaff, Arizona năm 1894, đã khởi động một dự án lớn để tìm kiếm một hành tinh có thể có thứ 9, hành tinh mà ông gọi tên là "Hành tinh X".[13] Tới năm 1909, Lowell và William H. Pickering đã đề xuất nhiều tọa độ có thể của một hành tinh như vậy.[14] Lowell và đài quan sát của mình đã tìm kiếm từ năm 1905 tới khi ông qua đời năm 1916, nhưng không hề có kết quả.[14][15]

Việc tìm kiếm Hành tinh X của đài thiên văn mãi tới năm 1929,[16] mới được bắt đầu trở lại khi ông giám đốc Vesto Melvin Slipher giao vai trò định vị Hành tinh X cho Clyde Tombaugh, một chàng trai xuất thân nông dân 22 tuổi đến từ Kansas, người mới chỉ tới Đài quan sát Lowell sau khi Slipher cảm thấy ấn tượng bởi một mẫu các bản vẽ thiên văn học của anh.[16]

Nhiệm vụ của Tombaugh là vẽ hình một cách có hệ thống bầu trời đêm bằng những bức ảnh đúp được chụp từ hai tuần trước đó, sau đó xem xét các cặp và xác định xem có bất kỳ một vật thể nào thay đổi vị trí hay không. Sử dụng một máy được gọi là máy so sánh ánh sáng nhấp nháy, anh nhanh chóng di chuyển tới lui các quang cảnh của mỗi đĩa, để tạo ra sự phản chiếu di động của bất kỳ vật thể nào đã thay đổi vị trí hay xuất hiện giữa các bức ảnh. Ngày 18 tháng 2 năm 1930, sau gần một năm tìm kiếm, Tombaugh đã phát hiện một vật thể có thể di động trên những đĩa ảnh được chụp ngày 23 tháng 129 tháng 1 năm ấy. Một bức ảnh chất lượng kém hơn được chụp ngày 20 tháng 1 đã giúp anh xác nhận sự chuyển động. Sau khi đài quan sát có được những bức ảnh xác nhận thêm nữa, tin tức về khám phá được gửi tới Đài quan sát Đại học Harvard ngày 13 tháng 3 năm 1930. Vật thể mới sau này đã được thấy trong những bức ảnh được chụp từ ngày 19 tháng 3 năm 1915.[14]

Đặt tên[sửa | sửa mã nguồn]

Quyền đặt tên cho vật thể mới phát hiện thuộc về Đài quan sát Lowell.[17] Tombaugh đã hối thúc Slipher đề nghị một cái tên cho vật thể này trước khi có người khác làm điều đó.[17] Những đề xuất được gửi về ồ ạt từ khắp nơi trên thế giới. Constance Lowell đề nghị tên Zeus, sau đó là Lowell, và cuối cùng là họ của bà. Tất cả đề nghị này đều không được chấp nhận.[18]

Pluto và Proserpina

Cái tên Pluto lần đầu được Venetia Burney (sau này là Venetia Phair), một cô học trò 11 tuổi tại Oxford, Anh Quốc đề xuất.[19] Venetia yêu tích thần thoại cổ điển cũng như thiên văn học, và coi cái tên này, một trong những tên khác của Hades, vị thần trông coi Âm phủ của người Hy Lạp, là thích hợp cho một hành tinh được cho là tối và lạnh như vậy. Cô bé đã nói ra ý kiến đó trong một cuộc thảo luận với người ông Falconer Madan, một cựu thủ thư tại Thư viện Bodleian thuộc Đại học Oxford. Madan đã gửi cái tên này cho Giáo sư Herbert Hall Turner, và ông này lại đánh điện báo cái tên đó cho các đồng nghiệp ở Châu Mỹ.[20]

Vật thể được chính thức đặt tên ngày 24 tháng 3 năm 1930.[21][22] Mỗi thành viên của Đài quan sát Lowell được cho phép bỏ phiếu chọn trong danh sách chỉ gồm ba cái tên: "Minerva" (tên đã được đặt cho một tiểu hành tinh), "Cronus" (vốn không được coi trọng bởi nó được đề xuất từ một nhà thiên văn vô danh tên là Thomas Jefferson Jackson See), và Pluto. Pluto nhận được số phiếu tối đa.[23] Cái tên này được công bố ngày 1 tháng 5 năm 1930.[19] Ngay sau khi công bố, Madan đã cho Venetia năm pound làm tiền thưởng.[19]

Cái tên Pluto được dự định gợi nhớ tới những chữ cái đầu trong tên của nhà thiên văn học Percival Lowell, chữ viết lồng P-L cũng là biểu tượng thiên văn học của Pluto (♇).[24] Biểu tượng thiên văn học của Sao Diêm Vương giống với biểu tượng của Sao Hải Vương (Neptune symbol.svg), nhưng có một vòng tròn thay thế cho cái chĩa đinh ba ở giữa (Pluto's astrological symbol.svg).

Tại Nhật Bản năm 1930, ngay sau khi hành tinh này được phát hiện, trên "Khoa học hoạ báo" (Nhật văn: 科学画報), Nojiri Hōei (野尻抱影) đã đề nghị dịch tên gọi của hành tinh này sang tiếng Nhật là Minh vương tinh [chữ Hán: 冥王星, đọc theo âm âm độc là "めいおうせい" (Meiō sei)]. Minh vưong (冥王) là tục xưng của Diêm Ma La Già (閻魔羅闍), theo Phật giáo là chúa tể của địa ngục. Đài Thiên văn Kyōto đã sử dụng tên gọi này nhưng Đài Thiên văn Tōkyō (nay là Đài Thiên văn quốc lập) tiếp tục dùng tên gọi "プルートー" (Purūtō, dịch âm từ tiếng Anh "Pluto") cho đến năm 1943. Trung Quốc từ năm 1933 cũng gọi hành tinh này là "Minh vương tinh". Tên gọi Minh vương tinh còn đựoc dùng trong tiếng Triều Tiên [đọc theo âm Hán tự Triều Tiên là "명왕성" (Myeongwangseong)] và tiếng Mông Cổ.

Do chữ "minh" 冥 có nghĩa là "u ám, tối tăm" đồng âm với chữ "minh" 明 có nghĩa là "sáng" và "minh vương" 冥王 đồng âm với "minh vương" 明王 có nghĩa là "vị vua sáng suốt" nên người Việt Nam tránh gọi Diêm Ma La Già là Minh vương mà thường gọi tắt là Diêm vương (閻王). Minh vương tinh cũng theo đó mà được từ sách báo Trung Quốc sang tiếng Việt là Diêm vương tinh (閻王星) hoặc sao Diêm vương.

Nhiều ngôn ngữ phi Âu sử dụng cách chuyển tự "Pluto" bằng cái tên của họ cho vật thể này.

Từ năm 2006, Hiệp hội Thiên văn học Quốc tế (IAU) đã quyết định loại sao Diêm Vương ra khỏi danh sách các hành tinh trong hệ mặt trời. Như vậy, sao Hải Vương đã trở thành hành tinh có vòng quay xa mặt trời nhất. Và sao Diêm Vương đã trở hành tinh lùn thứ hai trong hệ mặt trời.

Cái chết của Hành tinh X[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay khi được tìm thấy, ánh sáng mờ nhạt và sự thiếu vắng một resolvable disc đã khiến mọi người nghi ngờ Sao Diêm Vương có thể là Hành tinh X của Lowell. Trong suốt thế kỷ 20, những ước tính về khối lượng Sao Diêm Vương liên tục bị điều chỉnh theo hướng giảm xuống. Năm 1978, sự khám phá vệ tinh Charon của Sao Diêm Vương lần đầu tiên đã cho phép đo đạc khối lượng của nó. Khối lượng này bằng khoảng 2% khối lượng Trái Đất, quá nhỏ để gây ra sự không nhất quán trong quỹ đạo của Sao Thiên Vương. Những nghiên cứu sau đó về một Hành tinh X khác, đáng chú ý nhất là của Robert Harrington,[25] đều không thành công. Năm 1993, Myles Standish đã sử dụng dữ liệu từ chuyến bay ngang Sao Hải Vương của Voyager 2, xác định lại tổng khối lượng hành tinh này giảm 0.5%, để tính toán lại ảnh hưởng trọng lực lên Sao Thiên Vương. Với những con số mới, sự không nhất quán, và sự cần thiết cho một Hành tinh X, đã bị bãi bỏ.[26] Ngày nay đa số giới thiên văn học thống nhất rằng Hành tinh X, như Lowell định nghĩa nó, không tồn tại.[27] Lowell đã đưa ra dự đoán vị trí Hành tinh X năm 1915 hơi gần hơn vị trí thực của Sao Diêm Vương ở thời điểm đó; tuy nhiên, Ernest W. Brown đã kết luận gần như ngay lập tức rằng đó là một sự trung khớp, một quan điểm vẫn được duy trì đến ngày nay.[28]

Đặc điểm của hành tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Các plutino lớn nhất so sánh về kích thước, suất phân chiếumàu sắc.
Cấu trúc dự đoán của Sao Diêm Vương.
1. Nitơ đông lạnh
2. Băng nước
3. Silicate và băng nước

Khoảng cách từ Sao Diêm Vương tới Trái Đất khiến việc nghiên cứu sâu về hành tinh này rất khó khăn. Nhiều chi tiết về Sao Diêm Vương sẽ vẫn chưa được biết tới cho đến năm 2015, khi tàu vũ trụ New Horizons tới đó.[29]

Hình dạng bên ngoài và thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Độ sáng biểu kiến bên ngoài của Sao Diêm Vương trong khoảng 15,1, lên tới 13,65 ở điểm cận nhật.[30] Để quan sát được nó, một kính viễn vọng phải có độ mở khoảng 30 cm (12 in).[31] Sao Diêm Vương trông không rõ ràng và giống sao thậm chí khi được quan sát bằng kính viễn vọng lớn bởi đường kính góc của nó chỉ là 0,11". Nó có màu xám sáng pha chút vàng.[32]

Phân tích quang phổ bề mặt Sao Diêm Vương cho thấy nó có thành phần gồm hơn 98% băng nitơ, với các dấu hiệu của methane và carbon monoxide.[33][34] Khoảng cách và những giới hạn về hiện tại trong kỹ thuật kính viễn vọng khiến không thể chụp ảnh trực tiếp các chi tiết bề mặt Sao Diêm Vương. Các hình ảnh từ Kính viễn vọng không gian Hubble không thể hiện bất kỳ một đặc điểm hay dấu hiệu bề mặt có thể phân biệt nào.[35]

Những hình ảnh tốt nhất về Sao Diêm Vương có từ các bản đồ sáng được tạo ra từ các quan sát gần các lần thực của nó với vệ tinh lớn nhất, Charon. Sử dụng quá trình xử lý máy tính, những quan sát được tiến hành bằng những yếu tố sáng khi Sao Diêm Vương bị Charon che khuất. Ví dụ, việc che khuất một điểm sáng trên Pluto sẽ tạo ra một sự thay đổi tổng độ sáng lớn hơn khi che khuất một điểm tối. Sử dụng kỹ thuật này, ta có thể đo đạc tổng độ sáng của hệ Sao Diêm Vương-Charon và theo dõi những thay đổi độ sáng theo thời gian.[36] Những bản đồ được Kính viễn vọng không gian Hubble tổng hợp cho thấy bề mặt Sao Diêm Vương có đặc điểm ở sự không đồng nhất, một sự thực cũng được chứng nhận bởi sự làm cong ánh sáng và bởi những thay đổi định kỳ trong các phổ của nó. Bề mặt Sao Diêm Vương hướng về phía Charon chứa nhiều băng methane hơn, trong khi phía bề mặt đối diện chứa nhiều nitơ và băng carbon monoxide. Điều này biến Sao Diêm Vương thành vật thể có sự trái ngược lớn thứ hai trong Hệ Mặt Trời sau Iapetus.[37]

Kính viễn vọng không gian Hubble cho rằng mật độ Sao Diêm Vương ở trong khoảng 1.8 và 2.1 g/cm³, cho thấy thành phần bên trong của nó gồm khoảng 50–70 phần trăm đá và 30–50 phần trăm băng.[34] Vì sự phân rã phóng xạ của các khoáng chất cuối cùng sẽ làm nóng băng tới mức đủ để chúng tách khỏi đá, các nhà khoa học chờ đợi kết cấu bên trong của Sao Diêm Vương có sự khu biệt, với vật liệu đá lắng xuống thành một lõi đặc bao quanh bởi một áo băng. Có thể quá trình nóng lên đó đang diễn ra ở thời điểm hiện tại, tạo ra một biển nước ngầm bên dưới bề mặt.[38]

Kích thước và khối lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Sao Diêm Vương không những nhỏ hơn tất cả các hành tinh khác trong Thái Dương Hệ mà còn nhỏ hơn các vệ tinh sau đây: Ganymede, Titan, Callisto, Io, Mặt Trăng, EuropaTriton. Trong khi đó, Sao Diêm Vương lại lớn hơn tất cả các tiểu hành tinh của vòng đai chính, giữa Sao HoảSao Mộc, hay của vòng đai Kuiper. Điều này làm cho các nhà khoa học tin rằng Sao Diêm Vương không phải là một hành tinh chính thức mà thuộc một loại thiên thể nhiều người gọi là plutino – loại hành tinh nhỏ giống Pluto.

Khối lượng của Sao Diêm Vương không được biết hàng chục năm sau khi nó được khám phá. Việc đo lường quỹ đạo vệ tinh Charon đã giúp các nhà khoa học tính được khối lượng của Sao Diêm Vương, dùng một công thức của Isaac Newton dựa vào các định luật của Johannes Kepler.[39]

Khí quyển[sửa | sửa mã nguồn]

Mô phỏng máy tính trên mô hình CRIRES của L. Calçada ở ESO về bề mặt Pluto với bầu khí quyển sương mù, vệ tinh Charon và Mặt Trời trên bầu trời.

Khí quyển Pluto là lớp khí mỏng thành phần gồm khí nitơ, mêtan, và cacbon mônôxít. Chúng có nguồn gốc từ băng trên bề mặt bốc hơi tạo thành.[40] Áp suất bề mặt trong khí quyển thay đổi từ 6,5 tới 24 μbar.[41] Người ta cho rằng quỹ đạo elip dẹt của Pluto có ảnh hưởng lớn đến khí quyển của nó: khi Diêm Vương Tinh chuyển động ra xa Mặt Trời, bầu khí quyển của nó bị đóng băng dần và rơi trở lại bề mặt. Khi Pluto đến gần Mặt Trời hơn, nhiệt độ bề mặt tăng lên, băng trên bề mặt thăng hoa thành khí. Quá trình này tạo ra hiệu ứng nhà kính ngược; giống như mồ hôi làm lạnh cơ thể khi nó toát ra bề mặt da, sự thăng hoa này làm lạnh bề mặt của Pluto. Các nhà khoa học sử dụng mảng kính thiên văn vô tuyến Submillimeter Array gần đây đã phát hiện ra rằng nhiệt độ trên bề mặt Pluto vào khoảng 43 K (−230 °C), lạnh hơn 10 K so với giá trị trước đó.[42]

Do có mặt mêtan, một loại khí nhà kính mạnh, hiện tượng đảo ngược nhiệt độ trong khí quyển của Pluto đã xảy ra, với nhiệt độ trung bình ấm hơn 36 K ở độ cao trên 10 km so với bề mặt.[43] Tầng khí quyển thấp hơn có độ tập trung mêtan cao hơn so với tầng khí quyển trên cao.[43]

Chứng cứ đầu tiên cho thấy Sao Diêm Vương có bầu khí quyển được tìm thấy tại Đài quan sát trên không Kuiper (Kuiper Airborne Observatory) năm 1985, dựa trên quá trình quan sát một ngôi sao bị che khuất bởi Pluto. Khi một thiên thể không có bầu khí quyển di chuyển ra phía trước ngôi sao thì ánh sáng từ ngôi sao bị biến mất một cách đột ngột; trong trường hợp của Diêm Vương Tinh, ngôi sao mờ dần dần đi.[44] Từ tốc độ mờ dần, người ta tính ra được áp suất khí quyển bằng 0,15 pascal, xấp xỉ 1/700.000 so với của Trái Đất.[45] Những kết quả này được củng cố mạnh mẽ bằng những quan sát mở rộng trong quá trình che khuất xảy ra vào năm 1988.

Năm 2002, sự kiện Pluto che khuất một ngôi sao khác đã được quan sát và phân tích bởi đội đứng đầu bởi Bruno Sicardy ở Đài quan sát Paris,[46] James L. Elliot ở MIT,[47] và Jay Pasachoff ở Williams College.[48] Kết quả họ thu được thật ngạc nhiên, áp suất khí quyển ước tính bằng 0,3 pascal, cho dù thời điểm này Pluto nằm xa Mặt Trời hơn so với thời điểm năm 1988 và do đó bầu khí quyển phải lạnh và loãng hơn. Một cách giải thích cho sự khác biệt này là năm 1987, cực nam của Sao Diêm Vương bắt đầu đi ra khỏi bóng tối trong suốt 120 năm, gây ra hiện tượng nitơ thăng hoa từ băng ở cực nam. Phải mất hàng thập kỉ để khí nitơ dư thừa ngưng tụ lại trong bầu khí quyển khi nó bị đóng băng trên chỏm băng tối vĩnh cửu ở cực bắc.[49] Các đỉnh nhọn trong biểu đồ dữ liệu từ các nghiên cứu này cho thấy khả năng có gió thổi trong khí quyển của Sao Diêm Vương.[49] Đội MIT-Williams College gồm James Elliot, Jay Pasachoff, và đội do Leslie Young dẫn đầu từ Viện nghiên cứu Tây Nam Southwest Research Institute cũng quan sát sự che khuất của Pluto vào ngày 12 tháng 6 năm 2006 tại Australia.[50]

Tháng 10 năm 2006, Dale Cruikshank ở Trung tâm nghiên cứu Ames thuộc NASA (người đồng lãnh đạo dự án New Horizons) và các đồng nghiệp thông báo họ phát hiện ra dấu vết của êtan trong quang phổ trên bề mặt của Sao Diêm Vương. Lượng êtan này được sinh ra từ sự quang phân hay sự phân ly do bức xạ (sự chuyển đổi hợp chất hóa học do ánh sáng hay bức xạ) của mêtan đóng băng trên bề mặt Pluto hay lơ lửng trong bầu khí quyển của nó.[51]

Quỹ đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Quỹ đạo của Sao Diêm Vương khi nhìn hình chiếu đứng mặt phẳng hoàng đạo

Quỹ đạo của Sao Diêm Vương khác với các hành tinh khác do có độ nghiêng quỹ đạo >17° và tâm sai ~0,25.[52] Chỉ quỹ đạo của Sao Thủy có độ nghiêng đáng kể là ~7° và tâm sai là ~0,2; còn các hành tinh khác thì có quỹ đạo elip với tâm sai rất bé. Tâm sai lớn có nghĩa là một phần của quỹ đạo Sao Diêm Vương gần với Mặt Trời hơn quỹ đạo của Sao Hải Vương. Khi đến gần điểm cận nhật, Sao Diêm Vương ở gần Mặt Trời hơn Sao Hải Vương. Nhưng do độ nghiêng quỹ đạo, điểm cận nhật của nó ở phía bên trên (~8.0 AU) mặt phẳng hoàng đạo.[53][54][55] Các sơ đồ trên hai hình bên biểu diễn vị trí tương đối của quỹ đạo Sao Diêm Vương so với mặt phẳng hoàng đạo (mặt cắt vuông góc mặt phẳng hoàng đạo - ecliptic view), và hình chiếu từ trên xuống vuông góc với mặt phẳng hoàng đạo (polar view) với vị trí hiện hành của Sao Diêm Vương và Sao Hải Vương. Các đoạn quỹ đạo phía trên mặt phẳng hoàng đạo được tô màu sáng hơn, các đoạn nằm dưới thì có màu tối hơn; điểm cận nhật và điểm viễn nhật được đánh dấu lần lượt bằng các chữ q và Q.

Quỹ đạo tránh Sao Hải Vương[sửa | sửa mã nguồn]

Quỹ đạo Sao Diêm Vương — nhìn từ trên cực. Góc 'nhìn từ phía trên' này thể hiện cách quỹ đạo của Sao Diêm Vương (màu đỏ) không tròn bằng quỹ đạo Sao Hải Vương (màu xanh), và tại sao thỉnh thoảng Sao Diêm Vương ở gần Mặt Trời hơn Sao Hải Vương. Những nửa tối hơn của hai quỹ đạo thể hiện nơi chúng đi dưới mặt phẳng hoàng đạo. Các vị trí của hai vật thể trong ngày 16 tháng 4 năm 2006; tới tháng 4 năm 2007 chúng đã thay đổi vị trí khoảng 3 pixel (~1 AU).

Dù rõ ràng quỹ đạo của Sao Diêm Vương cắt quỹ đạo Sao Hải Vương khi quan sát trực tiếp từ phía trên hoàng đạo, hai vật thể này không thể va chạm. Điều này bởi các quỹ đạo của chúng được sắp thẳng hàng sao cho Sao Diêm Vương và Sao Hải Vương không bao giờ tiếp cận gần. Nhiều yếu tố tác động tới việc này.

Ở mức độ đơn giản nhất, một người có thể xem xét hai quỹ đạo và thấy rằng chúng không giao nhau. Khi Sao Diêm Vương ở vị trí cận nhật, và ví thế cũng ở điểm gần nhất với quỹ đạo của Sao Hải Vương như được quan sát ở hình chiếu từ trên xuống, nó cũng ở điểm xa nhất phía trên hoàng đạo. Điều này có nghĩa thực tế quỹ đạo Sao Diêm Vương chạy qua phía trên quỹ đạo Sao Hải Vương, khiến chúng không thể va chạm.[53] Quả vậy, phần quỹ đạo Sao Diêm Vương ở gần Mặt Trời hơn quỹ đạo Sao Hải Vương nằm khoảng 8 AU phía trên hoàng đạo,[54] và cũng cách một khoảng tương tự với quỹ đạo Sao Hải.[55] Giao điểm lên của quỹ đạo của Sao Diêm Vương, điểm tại đó quỹ đạo cắt ngang hoàng đạo, hiện cách khỏi quỹ đạo Sao Hải Vương hơn 21°;[56] các giao điểm xuống của chúng cũng cách nhau một khoảng cách góc tương tự (xem biểu đồ). Bởi quỹ đạo Sao Hải Vương hầu như phẳng so với mặt phẳng hoàng đạo, Sao Diêm Vương luôn cách xa phía trên khi hai hành tinh ở gần nhau trên quỹ đạo.

Chỉ riêng điều này không đủ để bảo vệ Sao Diêm Vương; các nhiễu loạn (ví dụ, tiến động quỹ đạo) từ các hành tinh, đặc biệt là Sao Hải Vương, sẽ làm thay đổi quỹ đạo Sao Diêm Vương, vì thế trong hàng triệu năm một vụ va chạm có thể xảy ra. Một số cơ cấu khác hay các cơ cấu sẽ hoạt động từ đó. Cơ cấu đáng chú ý nhất là một cộng hưởng chuyển động trung bình với Sao Hải Vương.

Biểu đồ này thể hiện các vị trí quan hệ của Sao Diêm Vương (màu đỏ) và Sao Hải Vương (màu xanh) tại các thời điểm được lựa chọn. Kích thước Sao Hải Vương và Sao Diêm Vương được thể hiện như nghịch đảo tỷ lệ với khoảng cách giữa chúng để nhấn mạnh lần tiếp cận gần nhất năm 1896.

Sao Diêm Vương nằm ở 3:2 cộng hưởng khoảng cách chuyển động trung bình với Sao Hải Vương: cứ ba lần Sao Hải Vương quay xung quanh Mặt Trời, Sao Diêm Vương thực hiện điều đó 2 lần. Hai vật thể sau đó sẽ quay trở lại các vị trí ban đầu của chúng và chu kỳ lặp lại, mỗi chu kỳ kéo dài 500 năm. Mô hình này được xác định sao cho, trong mỗi chu kỳ 500 năm, lần đầu tiên Sao Diêm Vương gần điểm cận nhật Sao Hải Vương ở hơn 50° phía sau Sao Diêm Vương. Ở lần cận nhật thứ hai của Sao Diêm Vương, Sao Hải Vương sẽ hoàn thành một vòng nữa và một nửa vòng riêng trên quỹ đạo của nó, và vì thế sẽ ở một khoảng cách tương tự phía trước Sao Diêm Vương. Trên thực tế, khoảng cách tối thiểu giữa Sao Diêm Vương và Sao Hải Vương là hơn 17 AU; Sao Diêm Vương thực tế có thời điểm ở gần (11 AU) Sao Thiên Vương hơn Sao Hải Vương.[55]

Sự cộng hưởng 3:2 giữa hai vật thể rất ổn định, và không thay đổi trong hàng triệu năm.[57] Điều này khiến quỹ đạo của chúng không thể thay đổi so với nhau— chu kỳ luôn lặp lại theo cùng cách— và hai vật thể không bao giờ đến được gần nhau. Vì thế, thậm chí khi quỹ đạo của Sao Diêm Vương không quá nghiêng, hai vật thể cũng không bao giờ va chạm nhau.[55]

Các yếu tố khác ảnh hưởng tới quỹ đạo Sao Diêm Vương[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu đồ của điểm cận nhật tranh cãi

Những nghiên cứu số đã cho thấy rằng sau những chu kỳ hàng triệu năm, hình thức tổng thể của sự thẳng hàng giữa quỹ đạo của Sao Diêm Vương và Sao Hải Vương không thay đổi.[53][58] Tuy nhiên, có nhiều sự cộng hưởng và tác động khác ảnh hưởng tới các chi tiết chuyển động tương đối của chúng, và tăng cường tính ổn định của Sao Diêm Vương. Chúng xuất hiện chủ yếu từ hai cơ cấu phụ trợ (ngoài sự cộng hưởng chuyển động trung bình 3:2).

Đầu tiên, cuộc tranh cãi về điểm cận nhật của Sao Diêm Vương, góc giữa điểm nơi nó cắt hoàng đạo và điểm nó ở gần Mặt Trời nhất, đu đưa quanh 90°.[58] Điều này có nghĩa khi Sao Diêm Vương ở gần Mặt Trời nhất, nó đang ở điểm xa nhất phía trên mặt phẳng hoàng đạo của Hệ Mặt Trời, ngăn cản va chạm với Sao Hải Vương. Đây là hậu quả trực tiếp của cơ cấu Kozai,[53] liên quan tới sự lệch tâm của một quỹ đạo với độ nghiêng của nó, liên hệ với một vật thể làm nhiễu động lớn hơn — trong trường hợp này là Sao Hải Vương. Liên quan tới Sao Hải Vương, biên độ dao động là 38°, và vì thế sự chia tách góc của điểm cận nhật của Sao Diêm Vương với quỹ đạo của Sao Hải Vương luôn lớn hơn 52° (= 90°–38°). Sự chia tách nhỏ nhất này diễn ra mối 10,000 năm.[57]

Thứ hai, các kinh độ của giao điểm lên của hai vật thể — các điểm khi chúng cắt mặt phẳng hoàng đạo - ở cộng hưởng gần với sự đu đưa bên trên. Khi hai kinh độ trùng nhau — có nghĩa, khi một kinh độ có thể vẽ một đường thẳng xuyên qua cả hai điểm giao và Mặt Trời — điểm cận nhật của Sao Diêm Vương nằm chính xác tại 90°, và nó ở gần Mặt Trời Nhật khi ở đỉnh phía trên quỹ đạo Sao Hải Vương. Nói cách khác, khi Sao Diêm Vương nằm gần nhất các giao điểm của mặt phẳng quỹ đạo Sao Hải Vương, nó cũng ở xa nhất phía trên nó. Điều này được gọi là siêu cộng hưởng 1:1.Để hiểu tình trạng của sự đu đưa, tưởng tượng một điểm quan sát phía trên cực, nhìn xuống đường hòng đạo từ một điểm ưu thế ở xa nơi các hành tinh chuyển động theo quỹ đạo ngược chiều kim đồng hồ. Sau khi vượt qua điểm giao lên, Sao Diêm Vương ở bên trong quỹ đạo Sao Hải Vương và chuyển động nhanh hơn, tiếp cận với Sao Hải Vương từ phía sau. Lực hút hấp dẫn mạnh giữa hai vật thể khiến động lượng góc từ Sao Hải Vương được chuyển sang Sao Diêm Vương. Điều này khiến Sao Diêm Vương đi vào một quỹ đạo hơi lớn hơn, nơi nó đi hơi chậm lại, tuân theo Định luật thứ ba của Kepler. Khi quỹ đạo thay đổi, nó dần tạo hiệu ứng thay đổi pericentre và các kinh độ của Sao Diêm Vương (và, ở mức độ nhỏ hơn, của Sao Hải Vương). Sau nhiều lần lặp lại như vậy, Sao Diêm Vương đã bị hãm lại ở mức đủ, và Sao Hải Vương cũng tăng tốc ở mức đỏ, khiến Sao Hải Vương bắt đầu bắt Sao Diêm Vương tại phía đối diện quỹ đạo của nó (gần điểm giao đối diện nơi chúng ta bắt đầu). Quá trình này sau đó lại đảo ngược, và Sao Diêm Vương mất động lượng góc cho Sao Hải Vương, cho tới khi Sao Diêm Vương tăng tốc đủ để nó bắt đầu bắt Sao Hải Vương một lần nữa ở điểm ban đầu. Toàn bộ quá trình hoàn thành trong khoảng 20,000 năm.[55][57]

Vệ tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Sao Diêm Vương và ba vệ tinh đã được khám phá của nó. Sao Diêm Vương và Charon là các vật thể sáng nhất ở giữa, hai vệ tinh nhỏ hơn ở phía phải và phía dưới xa hơn phía ngoài.

Sao Diêm Vương có năm vệ tinh tự nhiên đã được biết: Charon, lần đầu được xác định năm 1978 bởi nhà thiên văn học James Christy; và hai vệ tinh nhỏ hơn, NixHydra, cả hai cùng được phát hiện năm 2005.[59]

Các vệ tinh của Sao Diêm Vương luôn ở gần bề mặt của nó, so với các hệ khác đã được quan sát. Các vệ tinh có thể có tiềm năng quay quanh Sao Diêm Vương lên tới 53% (hay 69%, nếu đi ngược) của bán kính quyển Hill, vùng ảnh hưởng trọng lực ổn định của Sao Diêm Vương. Ví dụ, Psamathe quay quanh Sao Hải Vương ở 40% bán kính Hill. Trong trường hợp Sao Diêm Vương, chỉ 3% của vùng được biết có sự có mặt của các vệ tinh. Theo thuật ngữ của các nhà khoa học, hệ Sao Diêm Vương dường như "quá chật và hầu như trống rỗng."[60] Trong các bức ảnh thu được từ Hubble chụp Pluto trong các ngày 28 tháng 6, 2011 và 3 tháng 7, 2011 các nhà thiên văn học ở viện SETI ở California đã phát hiện ra thêm một vệ tinh mới thứ tư của Pluto. Vệ tinh được tạm thời gọi là P4 có đường kính từ 13 đến 34 km và quỹ đạo của nó nằm giữa quỹ đạo của Nix và Hydra.[5]

Tên Bán kính
(km)
Khối lượng
(kg)
Bán trục chính
(km)
Chu kỳ quỹ đạo
(ngày)
Khám phá
Charon ~603 1.6×1021 19.410 6,3872 1978
Nix 32-145 < 5×1018 49.400 ± 600 25,5 ± 0,5 2005
Hydra 52-160 < 5×1018 64.700 ± 850 38,2 ± 0,8 2005
S/2011 P 1 13-34 ~59.000 32,1 2011
S/2012 P 1 10-25 ~47.000 20,2 2012

Charon[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống Sao Diêm Vương-Charon rất đáng chú ý vì đây là hệ đôi lớn nhất trong một vài hệ đôi thuộc Hệ Mặt Trời, và được xác định là cặp đôi có trung tâm khối lượng nằm ngoài bề mặt hành tinh chính (617 Patroclus là một ví dụ nhỏ hơn khác).[61] Điều này và kích thước to lớn của Charon so với Sao Diêm Vương khiến một số nhà thiên văn gọi chúng là một hành tinh đôi lùn.[62] Hệ này cũng khác biệt so với các hệ hành tinh khác ở điểm mỗi vật thể đều khóa thủy triều vật thể kia: Charon luôn quay một phía bề mặt về Sao Diêm Vương, và Sao Diêm Vương cũng luôn quay một mặt về Charon. Nếu một người đứng ở phía bề mặt gần của Sao Diêm Vương, Charon sẽ lơ lửng trên bầu trời mà không chuyển động; nếu người này đi về phía bề mặt bên kia, anh ta sẽ không thể nhìn thấy Charon.[63] Năm 2007, những quan sát của Đài thiên văn Gemini về những dấu vết ammonia hydrate và tinh thể nước trên bề mặt Charon cho thấy sự hiện diện của các mạch nước phun hoạt động.[64]

Sao Diêm Vương và Charon, so với Mặt Trăng của Trái Đất[65]
Tên gọi

(Phát âm)

Đường kính (km) Khối lượng (kg) Bán kính quỹ đạo (km)
(khối tâm)
Chu kỳ quỹ đạo (ngày)
Sao Diêm Vương/Pluto /ˈpluːtəʊ/ 2.306
(65% Mặt Trăng)
1,305 (7)×1022
(18% Mặt Trăng)
2.040 (100)
(0,6% Mặt Trăng)
6,3872
(25% Mặt Trăng)
Charon /ˈʃɛərən, ˈkɛərən/ 1.205
(35% Mặt Trăng)
1,52 (7)×1021
(2% Mặt Trăng)
17.530 (90)
(5% Mặt Trăng)

Nix và Hydra[sửa | sửa mã nguồn]

Hình vẽ của nghệ sĩ về bề mặt Hydra. Sao Diêm Vương và Charon (bên phải) và Nix (chấm sáng bên trái).
Sơ đồ hệ Sao Diêm Vương. P 1 là Hydra, và P 2 là Nix.

Hai vệ tinh khác của Sao Diêm Vương đã được các nhà khoa học sử dụng Kính viễn vọng không gian Hubble chụp ngày 15 tháng 5 năm 2005, và chúng đã nhận được tên định danh tạm thời là S/2005 P 1 và S/2005 P 2. Liên đoàn Thiên văn Quốc tế đã chính thức đặt tên cho các vệ tinh mới nhất của Sao Diêm Vương là Nix (hay Pluto II, vệ tinh phía bên trong, trước kia là P 2) và Hydra (Pluto III, vệ tinh phía ngoài, trước kia là P 1), ngày 21 tháng 6 năm 2006.[66]

Những vệ tinh nhỏ này quay quanh Sao Diêm Vương ở khoảng cách gấp hai và ba lần Charon: Nix ở 48,700 kilômét và Hydra ở 64,800 kilômét từ tâm khối lượng chung của hệ. Chúng có quỹ đạo cùng hướng trên cùng mặt phẳng quỹ đạo như Charon, và rất gần (nhưng không phải ở trong) chuyển động trung bình cộng hưởng quỹ đạo 4:1 và 6:1 với Charon.[67]

Những quan sát Nix và Hydra để xác định các tính chất riêng của chúng đang được tiến hành. Thỉnh thoảng Hydra sáng hơn Nix, cho thấy hoặc nó lớn hơn hoặc những phần khác nhau trên bề mặt của nó có thể có độ sáng khác nhau. Các kích thước được ước tính từ các suất phân chiếu. Quang phổ của hai vệ tinh này tương tự quang phổ của Charon cho thấy một suất phân chiếu 35% như của Charon; các giá trị này khiến Nix được ước tính có đường kính 46 km còn Hydra lớn hơn và có đường kính 61 km. Những giới hạn trên của đường kính của chúng có thể được ước tính khi lấy suất phân chiếu 4% của các vật thể tối nhất trong Vành đai Kuiper; những giới hạn đó là 137 ± 11 km và 167 ± 10 km. Ở phía cuối của dãy này, các khối lượng được suy luận chưa tới 0.3% khối lượng Charon, hay 0.03% của Sao Diêm Vương.[68]

Sự khám phá hai vệ tinh nhở hơn cho thấy Sao Diêm Vương có thể có một hệ vành đai biến đổi. Các vụ va chạm của các vật thể nhỏ có thể tạo ra rác hình thành nên các vành đai hành tinh. Dữ liệu từ một cuộc khảo sát quang học kỹ lưỡng của Advanced Camera for Surveys trên Kính viễn vọng vũ trụ Hubble cho thấy không có hệ vành đai nào. Nếu một hệ như vậy tồn tại, hoặc nó mỏng manh như các vành đai Sao Mộc hoặc nó chỉ hạn chế ở chiều rộng chưa tới 1,000 km.[69]

Khi chụp ảnh hệ Sao Diêm Vương, những quan sát từ Huble đặt ra các giới hạn với bất kỳ một vệ tinh có thể nào khác. Với độ tin cậy lên tới 90%, không thể có thêm một vệ tinh khác lớn hơn 12 km (hay tối đa 37 km với suất phân chiếu 0.041) tồn tại bên ngoài ánh chói của Sao Diêm Vương năm giây cung từ hành tinh lùn này. Điều này giả định rằng một vật thể kiểu Charon có suất phân chiếu 0.38; ở mức độ tin cậy 50% giới hạn là 8.[70]

Kerberos và Styx[sửa | sửa mã nguồn]

Vành đai Kuiper[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Vành đai Kuiper
Chấm của tất cả các vật thể đã được biết tới trong Vành đai Kuiper, tương phản với bốn hành tinh phía ngoài

Nguồn gốc và đặc điểm của Sao Diêm Vương từ lâu đã là câu hỏi khó đối với các nhà thiên văn học. Trong thập niên 1950 có ý kiến cho rằng Sao Diêm Vương là một vệ tinh đã thoát khỏi Sao Hải Vương, bị vệ tinh lớn nhất hiện nay của ngôi sao này là Triton đẩy bắn ra khỏi quỹ đạo. Ý kiến này đã bị chỉ trích nhiều bởi, như được giải thích ở trên, thực tế Sao Diêm Vương không bao giờ tới gần hành tinh.[71]

Từ năm 1992, các nhà thiên văn học đã bắt đầu khám phá ra nhiều vật thể băng nhỏ phía ngoài Sao Hải Vương tương tự như Sao Diêm Vương không chỉ ở quỹ đạo mà cả ở kích thước và thành phần. Vành đai này, được gọi là Vành đai Kuiper theo một trong những nhà thiên văn học người lần đầu tiên xác định tính chất của các vật thể bên ngoài Sao Hải Vương, được tin là nguồn gốc của nhiều sao chổi chu kỳ ngắn. Các nhà thiên văn học hiện tin rằng Sao Diêm Vương là vật thể lớn nhất[1] đã biết trong các vật thể thuộc vành đai Kuiper (KBOs). Giống như các vật thể KBOs khác, Sao Diêm Vương có các đặc điểm chung với các sao chổi; ví dụ, gió mặt trời dần thổi bay bề mặt Sao Diêm Vương vào vũ trụ, theo cách một sao chổi.[72] Nếu Sao Diêm Vương bị đặt ở gần Mặt Trời như Trái Đất, nó cũng sẽ có một cái đuôi như các sao chổi.[73]

Dù Sao Diêm Vương là vật thể lớn nhất trong vành đai Kuper đã được phát hiện, Triton, hơi lớn hơn Sao Diêm Vương lại có nhiều đặc điểm khí quyển và thành phần địa chất giống với Sao Diêm Vương và được tin rằng cũng là một vật thể bị bắt khỏi Vành đai Kuiper.[74] Eris (xem bên dưới) cũng lớn hơn Sao Diêm Vương nhưng không bị coi hoàn toàn là một thành viên của Vành đai Kuiper. Thay vào đó, nó được coi là một thành viên của đám vật thể được gọi là đĩa phân tán.

Một số lượng lớn vật thể trong Vành đai Kuiper, như Sao Diêm Vương, có cộng hưởng quỹ đạo 3:2 với Sao Hải Vương. Các vật thể vành đai Kuiper có cộng hưởng quỹ đạo kiểu này được gọi là "plutino", theo tên Pluto.[75]

Thám hiểm Sao Diêm Vương[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: New Horizons

Sao Diêm Vương đặt ra những thách thức to lớn cho con tàu vũ trụ bởi khối lượng nhỏ và khoảng cách xa từ Trái Đất. Voyager 1 đáng nhẽ đã có thể tới Sao Diêm Vương, nhưng những người điều khiển thay vào đó đã chọn một chuyến bay ngang qua vệ tinh Titan của Sao Thổ khiến nó không thể có quỹ đạo ngang qua Sao Diêm Vương. Voyager 2 cũng không thể có quỹ đạo hợp lý để tới Sao Diêm Vương.[76] Trước thập kỷ cuối cùng của thế kỷ 20 chưa hề có một nỗ lực thực sự nào nhằm thám hiểm Sao Diêm Vương. Tháng 8 năm 1992, nhà khoa học Robert Staehle của JPL đã gọi điện cho người phát hiện Sao Diêm Vương, Clyde Tombaugh, yêu cầu cho phép viếng thăm hành tinh của ông. "Tôi đã nói rằng ông ta được chào đón ở đó," Tombaugh sau này nhớ lại, "dù ông ta sẽ phải có một chuyến bay dài và lạnh giá."[77] Dù đã có khoảnh khắc sớm này, năm 2000, NASA đã hủy bỏ phi vụ Pluto Kuiper Express, với các lý do chi phí gia tăng và những chậm trễ trong việc chế tạo phương tiện phóng.[78]

Lần đầu tiên Sao Diêm Vương được nhìn thấy từ tàu New Horizons

Sau một cuộc chiến chính trị căng thẳng, một phi vụ mới tới Sao Diêm Vương, với cái tên New Horizons, đã được chính phủ Hoa Kỳ cung cấp chi phí năm 2003.[79] New Horizons được phóng thành công ngày 19 tháng 1 năm 2006. Lãnh đạo sứ mệnh, S. Alan Stern, xác nhận rằng một số tro từ thi hài Clyde Tombaugh, đã mất năm 1997, đã được đặt trên con tàu.[80]

Đầu năm 2007 lợi dụng hỗ trợ hấp dẫn từ Sao Mộc. Lần tiếp cận gần nhất của nó tới Sao Diêm Vương sẽ diễn ra ngày 14 tháng 7 năm 2015; những quan sát khoa học với Sao Diêm Vương sẽ bắt đầu từ năm tháng trước cuộc tiếp cận gần và sẽ tiếp tục ít nhất một tháng sau lần gặp mặt. New Horizons đã chụp những bức ảnh đầu tiên (từ xa) về Sao Diêm Vương hồi cuối tháng 9 năm 2006, trong cuộc thử nghiệm thiết bị Long Range Reconnaissance Imager (LORRI).[81] Các bức ảnh, được chụp từ khoảng cách xấp xỉ 4.2 tỷ km, xác nhận khả năng thám sát các mục tiêu xa của tàu vũ trụ, khả năng cần thiết để tiến tới gần Sao Diêm Vương và các vật thể khác trong Vành đai Kuiper.

New Horizons sẽ sử dụng một gói cảm biến từ xa gồm các thiết bị hình ảnh và thiết bị radio khảo sát khoa học, cũng như máy quang phổ và các thiết bị khác, để xác định địa chất và hình thái của Sao Diêm Vương cùng vệ tinh Charon của nó, vẽ bản đồ thành phần bề mặt hai vật thể và phân tích khí quyển trung tính của Sao Diêm Vương cùng tỷ lệ tốc độ thoát của nó. New Horizons cũng sẽ chụp ảnh bề mặt Sao Diêm Vương và Charon.

Sự khám phá các vệ tinh Nix và Hydra có thể đặt ra những thách thức chưa được dự tính với tàu vụ trụ. Những vụn rác từ các vụ va chạm giữa các vật thể trong Vành đai Kuiper và các vệ tinh nhỏ hơn, với tốc độ thoát khá nhỏ của chúng, có thể tạo ra một vòng đai rác mảnh. Nếu New Horizons phải bay qua một vòng đai như vậy, nhiều khả năng vi thiên thạch có thể gây hư hại cho con tàu.[69]

Tranh cãi tình trạng hành tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Tình trạng chính thức của Sao Diêm Vương với tư cách một hành tinh đã là một chủ đề tranh cãi ít nhất từ năm 1992, khi Vật thể Vành đai Kuiper đầu tiên, (15760) 1992 QB1, được phát hiện. Kể từ đó, các khám phá mới càng làm cuộc tranh cãi thêm căng thẳng.

Tưởng nhớ tư cách một hành tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Sao Diêm Vương được thể hiện như một hành tinh trên Đĩa Pioneer, một bản khắc được đặt trên các con tàu vũ trụ Pioneer 10Pioneer 11, phóng đi hồi đầu thập niên 1970. Tấm đĩa này được dự định cung cấp thông tin về nguồn gốc tàu vũ trụ cho bất kỳ một nền văn minh nào ngoài Trái Đất có thể gặp chúng trong tương lai, gồm cả một giản đồ về Hệ Mặt Trời, với chín hành tinh.[82] Tương tự, một hình ảnh analogue chứa bên trong thiết bị Voyager Golden Record được đặt trong tàu vũ trụ Voyager 1Voyager 2 (cũng được phóng hồi thập niên 1970) có bao gồm dữ liệu về Sao Diêm Vương và cũng thể hiện nó như hành tinh thứ chín.[83] Nhân vật Pluto trong các bộ phim hoạt hình của Disney, xuất hiện năm 1930, cũng được đặt tên đó để kỷ niệm hành tinh này.[84] Năm 1941, Glenn T. Seaborg đã đặt tên cho nguyên tố mới được tạo ra là plutonium để vinh danh Sao Diêm Vương, và cũng để giữ truyền thống đặt tên các nguyên tố theo các hành tinh mới được tìm ra (uranium theo Sao Thiên Vương (Uranus), neptunium theo Sao Hải Vương (Nepturne), dù truyền thống này cũng được sử dụng đối với một số vật thể không phải hành tinh: cerium được đặt theo tên Cerespalladium theo tên Pallas).[85]

Những khám phá mới dẫn tới tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

Trái Đất Dysnomia (136199) Eris Charon (134340) Pluto (136472) 2005 FY9 (136108) 2003 EL61 (90377) Sedna (90482) Orcus (50000) Quaoar (20000) Varuna
Sao Diêm Vương so sánh với Eris, (136472) 2005 FY9, (136108) 2003 EL61, Sedna, Orcus, Quaoar, và Varuna so với Trái Đất (vẽ theo quan niệm; không có những bức ảnh chi tiết thật sự).

Sự khám phá Vành đai Kuiper và mối quan hệ của Sao Diêm Vương với vành đai này khiến nhiều người đặt câu hỏi liệu Sao Diêm Vương có nên được coi là một vật thể riêng biệt khỏi vành đai hay không. Năm 2002, vật thể 50000 Quaoar thuộc vành đai được phát hiện, với đường kính khoảng 1,280 kilômét, bằng một nửa Sao Diêm Vương.[86] Năm 2004, những người khám phá 90377 Sedna đã đặt một giới hạn trên là 1,800 kilômét đường kính, gần bằng đường kính Sao Diêm Vương 2,320 kilômét.[87] Giống như Ceres cuối cùng bị mất tư cách hành tinh sau sự khám phá các tiểu hành tinh khác, vì thế, vấn đề được đặt ra, Sao Diêm Vương phải được xếp hạng lại như một trong những vật thể thuộc vành đai Kuiper.

Ngày 29 tháng 7 năm 2005, sự khám phá một vật thể ngoài Sao Hải Vương được thông báo. Được đặt tên Eris, hiện nó được biết hơi lớn hơn Sao Diêm Vương.[88] Đây là vật thể lớn nhất được phát hiện trong Hệ Mặt Trời từ khi phát hiện Triton năm 1846. Những người phát hiện ra nó và báo chí ban đầu gọi nó là "hành tinh thứ mười", dù không có sự đồng thuật chính thức ở thời điểm đó về việc có nên gọi nó là một hành tinh hay không.[89] Những người khác trong giới thiên văn học coi sự khám phá là lý lẽ mạnh mẽ nhất đòi hỏi xếp hạng lại Sao Diêm Vương như một tiểu hành tinh.[90]

Những đặc tính gây tranh cãi khác của Sao Diêm Vương là vệ tinh lớn, Charon, và khí quyển của nó. Những đặc tính này có lẽ không phải duy nhất của Sao Diêm Vương: nhiều vật thể ngoài Sao Hải Vương khác cũng có vệ tinh, và quang phổ của Eris cho thấy bề mặt nó có thành phần tương tự Sao Diêm Vương.[91] Nó cũng có một vệ tinh, Dysnomia, được phát hiện tháng 9 năm 2005.

Giám đốc các viện bảo tàng và cung thiên văn thỉnh thoảng gây ra tranh cãi khi bỏ Sao Diêm Vương khỏi các mô hình hành tinh của Hệ Mặt Trời. Một số lần hành động đó là có chủ ý; Cung thiên văn Hayden mở cửa trở lại sau khi được sửa chữa năm 2000 với một mô hình chỉ gồm tám hành tinh. Cuộc tranh cãi đã được đưa lên trang đầu các báo ở thời điểm đó.[92]

Đại hội Hiệp hội Thiên văn Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Từ 16 đến 24 tháng 8 năm 2006, 3.000 nhà thiên văn học và nhà khoa học thuộc Hiệp hội Thiên văn Quốc tế (IAU) đã gặp nhau tại Praha, Cộng hòa Séc để thảo luận về định nghĩa hành tinh. Tổ chức này có kế hoạch chính thức đưa ra định nghĩa hành tinh, và từ đó để xác định Sao Diêm Vương là hành tinh, hành tinh lùn (dwarf planet) hay là một thiên thể vành đai Kuiper (KBO).[93][94] Ban đầu, tổ chức này có ý định phân loại Sao Diêm Vương cùng với 2003 UB313 và các thiên thể hình cầu thuộc loại thiên thể ngoài Sao Hải Vương mà có thể sẽ được phát hiện ra, là các hành tinh, mặc dù chúng rất "gần gũi" với Sao Diêm Vương. Ceresvệ tinh tự nhiên Charon của Sao Diêm Vương, cũng được xem như là các hành tinh lùn.

Tuy nhiên, đến ngày 24 tháng 8 năm 2006, dự định ban đầu đã có thay đổi. Theo nghị quyết 5A được thông qua, 3 tiêu chí để một thiên thể được coi là hành tinh trong Hệ Mặt Trời như sau [95][96]:

  1. Thiên thể phải có quỹ đạo quanh Mặt Trời và bản thân nó không phải là một ngôi sao.
  2. Thiên thể phải có khối lượng đủ lớn để lực hấp dẫn của chính nó tạo cho nó dạng cân bằng thuỷ tĩnh (gần như hình cầu).
  3. Thiên thể phải có khối lượng vượt trội so với các thiên thể khác quanh vùng quỹ đạo của mình.

Sao Diêm Vương không đáp ứng được tiêu chí thứ ba, vì quỹ đạo rất dẹt của nó cắt quỹ đạo Sao Hải Vương, là hành tinh lớn hơn nó nhiều.[97]

Theo nghị quyết 6A, Sao Diêm Vương được phân loại là hành tinh lùn (cùng loại với nó là Ceres và 2003 UB313). Ngày 7 tháng 9 năm 2006, Sao Diêm Vương đã được ấn định số tiểu hành tinh 134340, do Trung tâm Minor Planet, cơ quan chính thức chịu trách nhiệm thu thập dữ liệu về các tiểu hành tinh và sao chổi trong hệ mặt trời, đưa ra. Nó được công nhận là hình mẫu cho một loại thiên thể mới gồm các thiên thể phía ngoài Sao Hải Vương[98].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Sao Diêm Vương là vật thể lớn nhất của Vành đai Kuiper (KBO); Theo thoả thuận của Wikipedia, vốn coi Đĩa phân tán là riêng biệt, Eris, dù lớn hơn Sao Diêm Vương, không phải là một vật thể thuộc Vành đai Kuiper.
  2. ^ C.B. Olkin, L.H. Wasserman, O.G. Franz (2003). “The mass ratio of Charon to Pluto from Hubble Space Telescope astrometry with the fine guidance sensors-”. Icarus 164. Lowell Observatory. tr. 254–259. doi:10.1016/S0019-1035(03)00136-2. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007. 
  3. ^ O. Gingerich (2006). “The Path to Defining Planets”. Harvard-Smithsonian Center for Astrophysics and IAU EC Planet Definition Committee chair. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007. 
  4. ^ B. Sicardy, W. Beisker et al. (2006). “Observing Two Pluto Stellar Approaches In 2006: Results On Pluto's Atmosphere And Detection Of Hydra”. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2007. 
  5. ^ a ă NASA's Hubble Discovers Another Moon Around Pluto
  6. ^ “Astronomers Measure Mass of Largest Dwarf Planet”. hubblesite. 2007. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2007. 
  7. ^ A. Akwagyiram (2005-08-02). “Farewell Pluto?”. BBC News. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2006. 
  8. ^ T. B. Spahr (2006-09-07). “MPEC 2006-R19: EDITORIAL NOTICE”. Minor Planet Center. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2006. 
  9. ^ D. Shiga (2006-09-07). “Pluto added to official "minor planet" list”. NewScientist. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2006. 
  10. ^ Richard Gray (10 tháng 8 năm 2008). “Pluto should get back planet status, say astronomers”. The Telegraph. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2008. 
  11. ^ K. Croswell (1997). Planet Quest: The Epic Discovery of Alien Solar Systems. The Free Press. tr. 43. ISBN 978-0684832524. 
  12. ^ K. Croswell (1997). Planet Quest: The Epic Discovery of Alien Solar Systems. The Free Press. tr. 43. ISBN 978-0-684-83252-4. 
  13. ^ Tombaugh, C. W. (1946). “The Search for the Ninth Planet, Pluto”. Astronomical Society of the Pacific Leaflets 5: 73–80. 
  14. ^ a ă â W. G. Hoyt (1976). “W. H. Pickering's Planetary Predictions and the Discovery of Pluto”. Isis 67 (4): 551–564. doi:10.1086/351668. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2007. 
  15. ^ Mark Littman (1990). Planets Beyond: Discovering the Outer Solar System. Wiley. tr. 70. ISBN 047151053X. 
  16. ^ a ă Croswell, p. 50
  17. ^ a ă J. Rao (11 tháng 3 năm 2005). “Finding Pluto: Tough Task, Even 75 Years Later”. SPACE.com. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2006. 
  18. ^ B. Mager. “The Search Continues”. Pluto: The Discovery of Planet X. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2007. 
  19. ^ a ă â P. Rincon (2006-01-13). “The girl who named a planet”. Pluto: The Discovery of Planet X. BBC News. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007. 
  20. ^ K. M. Claxton. “The Planet 'Pluto'”. Parents' Union School Diamond Jubilee Magazine, 1891–1951 (Ambleside: PUS, 1951), p. 30–32. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2007. 
  21. ^ “The Trans-Neptunian Body: Decision to call it Pluto”. The Times. 27 tháng 5 năm 1930. tr. 15. 
  22. ^ “Name Pluto Given to Body Believed to Be Planet X”. The New York Times (New York City). The Associated Press. 25 tháng 5 năm 1930. tr. 1. ISSN 1556067. “Pluto, the title of the Roman gods of the region of darkness, was announced tonight at Lowell Observatory here as the name chosen for the recently discovered trans-Neptunian body, which is believed to be the long-sought Planet X.” 
  23. ^ Croswell pp. 54–55
  24. ^ “NASA's Solar System Exploration: Multimedia: Gallery: Pluto's Symbol”. NASA. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2007. 
  25. ^ P. K. Seidelmann and R. S. Harrington (1987). “Planet X — The current status”. U. S. Naval Observatory. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2007. 
  26. ^ Ken Croswell (1993). “Hopes Fade in hunt for Planet X”. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2007. 
  27. ^ Tom Standage (2000). The Neptune File. Penguin. tr. 168. 
  28. ^ “History I: The Lowell Observatory in 20th century Astronomy”. The Astronomical Society of the Pacific. 1994-06-28. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2006. 
  29. ^ “Space Probe Heads To Pluto - Finally”. CBS News. 19 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2007. 
  30. ^ D. R. Williams (7 tháng 9 năm 2006). “Pluto Fact Sheet”. NASA. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2007. 
  31. ^ “This month Pluto's apparent magnitude is m=14.1. Could we see it with an 11" reflector of focal length 3400 mm?”. Singapore Science Centre. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2007. 
  32. ^ M. Cuk (tháng 9 năm 2002). “What color is each planet?”. Curious about Astronomy?. Cornell University. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2007. 
  33. ^ Tobias C. Owen, Ted L. Roush et al. (6 August năm 1993). “Surface Ices and the Atmospheric Composition of Pluto”. Science 261 (5122): 745–748. doi:10.1126/science.261.5122.745. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2007. 
  34. ^ a ă “Pluto”. SolStation. 2006. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2007. 
  35. ^ “Hubble Reveals Surface of Pluto for First Time”. Hubblesite. 1996. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  36. ^ E. F. Young; R. P. Binzel; K. Crane (2000). “A Two-Color Map of Pluto Based on Mutual Event Lightcurves”. Bulletin of the American Astronomical Society (AA(SwRI), AB(M.I.T.), AC (Boulder High School)) 32: 1083. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  37. ^ Alan Boyle (1999-02-11). “Pluto regains its place on the fringe”. MSNBC. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2007. 
  38. ^ “The Inside Story”. New Horizons. 2007. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2007. 
  39. ^ 17. Pluto,Charon & the Kuiper Belt
  40. ^ Ken Croswell (1992). “Nitrogen in Pluto's Atmosphere”. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2007. 
  41. ^ Lellouch, E.; Sicardy, B.; de Bergh, C.; Käufl, H. -U.; Kassi, S.; Campargue, A. (2009). "Pluto's lower atmosphere structure and methane abundance from high-resolution spectroscopy and stellar occultations". arΧiv:0901.4882 [astro-ph.EP]. 
  42. ^ T. Ker (2006). “Astronomers: Pluto colder than expected”. Space.com (via CNN.com). Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2006. 
  43. ^ a ă E. Lellouch, B. Sicardy, C. de Bergh (2009). "Pluto's lower atmosphere structure and methane abundance from high-resolution spectroscopy and stellar occultations" (in press). Astronomy & Astrophysics.
  44. ^ “IAUC 4097”. 1985. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  45. ^ R. Johnston (2006). “The atmospheres of Pluto and other trans-Neptunian objects”. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  46. ^ B. Sicardy; T. Widemann, et al. (10 tháng 7 năm 2003). “Large changes in Pluto's atmosphere as revealed by recent stellar occultations”. Nature (Nature) 424 (6945): 168. doi:10.1038/nature01766. PMID 12853950. 
  47. ^ “Pluto is undergoing global warming, researchers find”. Massachusetts Institute of Technology. 9 tháng 10 năm 2002. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2007. 
  48. ^ “Williams Scientists Contribute to New Finding About Pluto”. Williams College. 9 tháng 7 năm 2003. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2007. 
  49. ^ a ă R. R. Britt (2003). “Puzzling Seasons and Signs of Wind Found on Pluto”. Space.com. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2003. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  50. ^ J. L. Elliot et al. (2006). “The Size of Pluto's Atmosphere As Revealed by the 2006 June 12 Occultation”. Bulletin of the American Astronomical Society 38: 541. Bibcode:2006DPS....38.3102. 
  51. ^ A. Stern (1 tháng 11 năm 2006). “Making Old Horizons New”. The PI's Perspective. Johns Hopkins University Applied Physics Laboratory. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2007. 
  52. ^ NASA (2011). “Pluto: Facts & Figures”. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2011. 
  53. ^ a ă â b X.-S. Wan, T.-Y. Huang, and K. A. Innanen (2001). “The 1: 1 Superresonance in Pluto's Motion”. The Astronomical Journal 121 (2): 1155–1162. doi:10.1086/318733. 
  54. ^ a ă Maxwell W. Hunter (2004). “Unmanned scientific exploration throughout the Solar System”. Space Science Reviews 6: 501. doi:10.1007/BF00168793. 
  55. ^ a ă â b c Renu Malhotra (1997). “Pluto's Orbit”. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  56. ^ David R. Williams. “Planetary Fact Sheet”. NASA. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2007. 
  57. ^ a ă â Hannes Alfvén and Gustaf Arrhenius (1976). “SP-345 Evolution of the Solar System”. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2007. 
  58. ^ a ă J. G. Williams; G. S. Benson (1971). “Resonances in the Neptune-Pluto System”. Astronomical Journal 76: 167. doi:10.1086/111100. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2007. 
  59. ^ Guy Gugliotta. "Possible New Moons for Pluto." Washington Post. November 1, 2005. Retrieved on October 10, 2006.
  60. ^ S.A. Stern, H.A. Weaver, A.J. Steffl, M.J. Mutchler, W.J. Merline, M.W. Buie, E.F. Young, L.A. Young, J.R. Spencer (2006). “Characteristics and Origin of the Quadruple System at Pluto” (PDF). Nature 439: 946–948. 
  61. ^ Derek C. Richardson & Kevin J. Walsh (2005). “Binary Minor Planets”. Department of Astronomy, University of Maryland. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  62. ^ B. Sicardy et al. (2006). “Charon's size and an upper limit on its atmosphere from a stellar occultation”. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  63. ^ Leslie Young (1997). “The Once and Future Pluto”. Southwest Research Institute, Boulder, Colorado. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  64. ^ “Charon: An ice machine in the ultimate deep freeze”. Gemini Observatory. 2007. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2007. 
  65. ^ Marc W. Buie, William M. Grundy, Eliot F. Young, Leslie A. Young, S. Alan Stern (2006). Orbits and photometry of Pluto's satellites: Charon, S/2005 P1, and S/2005 P2. Astronomical Journal 132: 290. doi:10.1086/504422. arΧiv:astro-ph/0512491. 
  66. ^ “IAU Circular No. 8723 - Satellites of Pluto” (Thông cáo báo chí). International Astronomical Union. 21 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2007. 
  67. ^ F. R. Ward; RM Canup (25 August năm 2006). “Forced Resonant Migration of Pluto's Outer Satellites by Charon”. Science 313 (5790): 1107–1109. doi:10.1126/science.1127293. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2007. 
  68. ^ H. A. Weaver; S. A. Stern, M. J. Mutchler, A. J. Steffl, M. W. Buie, W. J. Merline, J. R. Spencer, E. F. Young and L. A. Young (23 February năm 2006). “Discovery of two new satellites of Pluto” (subscription required). Nature 439 (7079): 943–945. doi:10.1038/nature04547. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2007. 
  69. ^ a ă Andrew J. Steffl; S. Alan Stern (2007). “First Constraints on Rings in the Pluto System”. The Astronomical Journal (subscription required) 133 (4): 1485–1489. arXiv:astro-ph/0608036. doi:10.1086/511770. 
  70. ^ A.J. Steffl; M.J. Mutchler, H.A. Weaver, S.A.Stern, D.D. Durda, D. Terrell, W.J. Merline, L.A. Young, E.F. Young, M.W. Buie, J.R. Spencer (2006). “New Constraints on Additional Satellites of the Pluto System” (subscription required). The Astronomical Journal 132: 614–619. doi:10.1086/505424. 
  71. ^ “Pluto's Orbit”. NASA New Horizons. 2007. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  72. ^ “Colossal Cousin to a Comet?”. New Horizons. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2006. [liên kết hỏng]
  73. ^ Neil deGrasse Tyson (1999). “Space Topics: Pluto Top Ten: Pluto Is Not a Planet”. The Planetary Society. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2006. 
  74. ^ “Neptune's Moon Triton”. The Planetary Society. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  75. ^ David Jewitt (2004). “The Plutinos”. University of Hawaii. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  76. ^ “Voyager Frequently Asked Questions”. Jet Propulsion Laboratory. 14 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2006. 
  77. ^ Dava Sobel (1993). “The last world”. Discover magazine. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2007. 
  78. ^ Dr. David R. Williams (2005). “Pluto Kuiper Express”. NASA Goddard Space Flight Center. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  79. ^ Robert Roy Britt (2003). “Pluto Mission a Go! Initial Funding Secured”. space.com. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2007. 
  80. ^ Dr. Alan Stern (2006). “Happy 100th Birthday, Clyde Tombaugh”. Southwest Research Institute. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2007. 
  81. ^ “New Horizons, Not Quite to Jupiter, Makes First Pluto Sighting”. The Johns Hopkins University Applied Physics Laboratory. 2006-11-28. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2007. 
  82. ^ R.W. Robinett (2001). “Spacecraft Artifacts as Physics Teaching Resources”. Department of Physics, The Pennsylvania State University. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  83. ^ “Space Topics: Voyager- The Golden Record”. Planetary Society. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  84. ^ Allison M. Heinrichs (2006). “Dwarfed by comparison”. Pittsburgh Tribune-Review. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  85. ^ David L. Clark and David E. Hobart (2000). “Reflections on the Legacy of a Legend”. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2007. 
  86. ^ Michael E. Brown and Chadwick A. Trujillo (2006). “Direct Measurement of the Size of the Large Kuiper Belt Object (50000) Quaoar”. The American Astronomical Society. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. doi:10.1086/382513
  87. ^ W. M. Grundy, K. S. Noll, D. C. Stephens. “DDiverse Albedos of Small Trans-Neptunian Objects”. Lowell Observatory, Space Telescope Science Institute. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  88. ^ “Hubble Finds 'Tenth Planet' Slightly Larger Than Pluto”. Hubblesite. 2006. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  89. ^ “NASA-Funded Scientists Discover Tenth Planet”. Jet Propulsion Laboratory. 29/7/2005. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2007. 
  90. ^ Steven Soter (16 tháng 8 năm 2006). “What is a Planet?” (PDF). Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2006.  submitted to The Astronomical Journal, 16 August 2006
  91. ^ Mike Brown (2006). “The discovery of 2003 UB313, the 10th planet.”. California Institute of Technology. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2006. 
  92. ^ “Astronomer Responds to Pluto-Not-a-Planet Claim”. Niel deGrasse Tyson. Space.com. 2 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2006. 
  93. ^ Cull, Selby (23 tháng 6, 2006). “Naming Pluto's Moons”. SkyTonight. Truy cập 24 tháng 8, 2006. 
  94. ^ “Experts meet to decide Pluto fate”. BBC News. 14 tháng 8, 2006. Truy cập 24 tháng 8, 2006. 
  95. ^ “IAU 2006 General Assembly: Resolutions 5 and 6”. IAU. 24 tháng 8, 2006. 
  96. ^ “IAU 2006 General Assembly: Result of the IAU Resolution votes”. International Astronomical Union (News Release—IAU0603). 24 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2008. 
  97. ^ Q&A: Pluto's planetary demotion, BBC Science/Nature News
  98. ^ Central Bureau for Astronomical Telegrams, International Astronomical Union (2006). “Circular No. 8747”. Bản gốc lưu trữ 5 tháng 2, 2007. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2007. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

(tiếng Anh)

(tiếng Việt)