Amazon (công ty)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Amazon.ca)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Amazon.com, Inc.
Loại hình
Đại chúng
Mã niêm yếtNASDAQAMZN
NASDAQ-100 Component
S&P 100 Component
S&P 500 Component
Ngành nghềBán lẻ
Thành lập1994
Người sáng lậpJeffrey P. Bezos
Trụ sở chínhSeattle, Washington, Hoa Kỳ
Khu vực hoạt độngToàn cầu
Nhân viên chủ chốt
Jeffrey P. Bezos
(Chairman, CEO, & President), Tom Szkutak
(CFO)
Sản phẩmAmazon.com
A9.com
Alexa Internet
IMDb
Kindle
Audible
Amazon Web Services
amazon.com
Javari.co.uk
A2Z Development
Alexa.com
Doanh thuIncrease 24,509 tỷ USD (2009)
Increase 1,129 tỷ USD (2009)
Increase 902 triệu USD (2009)
Tổng tài sảnIncrease 13,8 tỷ USD (FY 2009)[1]
Tổng vốn chủ sở hữuIncreaseUS$5.26 tỉ USD (FY 2009)[1]
Số nhân viên
26.100 (2010)[2]
Websitewww.amazon.com

Amazon.com, Inc. [3] ( /ˈæməzɒn/), là một công ty công nghệ đa quốc gia của Mỹ có trụ sở tại Seattle, Washington tập trung vào thương mại điện tử, điện toán đám mây, phát trực tuyến kỹ thuật số, và trí tuệ nhân tạo. Công ty này được coi là một trong những công ty công nghệ Big Four cùng với Google, AppleFacebook.[4][5][6]

Amazon được biết đến với việc làm thay đổi tư duy của các ngành công nghiệp đã được thiết lập thông qua đổi mới công nghệ và phát triển quy mô lớn.[7][8][9] Công ty này là thị trường thương mại điện tử lớn nhất thế giới, nhà cung cấp trợ lý AI và nền tảng điện toán đám mây [10] được đo bằng doanh thuvốn hóa thị trường.[11] Amazon là công ty Internet lớn nhất tính theo doanh thu trên thế giới.[12] Đây là công ty tư nhân lớn thứ hai ở Hoa Kỳ [13] và là một trong những công ty có giá trị nhất thế giới. Amazon là công ty công nghệ lớn thứ hai tính theo doanh thu.

Amazon được Jeff Bezos thành lập vào ngày 5 tháng 7 năm 1994, tại Bellevue, Washington. Công ty ban đầu kinh doanh như một chợ trực tuyến bán sách nhưng sau đó mở rộng thêm để bán đồ điện tử, phần mềm, trò chơi video, may mặc, đồ nội thất, thực phẩm, đồ chơitrang sức. Năm 2015, Amazon đã vượt qua Walmart trở thành nhà bán lẻ có giá trị nhất tại Hoa Kỳ tính theo giá trị vốn hóa thị trường.[14] Vào năm 2017, Amazon đã mua lại Whole Foods Market với giá 13,4 tỷ đô la, điều này đã làm tăng đáng kể sự hiện diện của Amazon với tư cách là một nhà bán lẻ truyền thống.[15] Năm 2018, Bezos tuyên bố rằng dịch vụ giao hàng trong hai ngày của họ, Amazon Prime, đã có trên 100 triệu người đăng ký trên toàn thế giới.[16][17]

Amazon phân phối tải xuống và phát trực tuyến video, âm nhạc, audiobook thông qua các công ty con Amazon Prime Video, Amazon Music và Audible. Amazon cũng có một chi nhánh xuất bản, Amazon Publishing, một hãng phim và truyền hình, Amazon Studios và một công ty con về điện toán đám mây, Amazon Web Services. Công ty cũng sản xuất hàng điện tử tiêu dùng bao gồm Kindle e-reader, máy tính bảng Fire, Fire TV, và thiết bị. Ngoài ra, các công ty con của Amazon cũng bao gồm Ring, Twitch.tv, Whole Foods MarketIMDb. Amazon cũng đã dính vào nhiều scandal, nhất là bị chỉ trích vì vi phạm giám sát công nghệ,[18] văn hóa làm việc siêu cạnh tranh và đòi hỏi cao,[19] tránh thuế,[20] và thực hành chống cạnh tranh.[21]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1994, Jeff Bezos thành lập Amazon. Ông chọn địa điểm tại Seattle vì tài năng kỹ thuật do Microsoft cũng nằm ở đó.[22] Vào tháng 5 năm 1997, Amazon đã trở thành công ty đại chúng. Công ty bắt đầu bán nhạc và video vào năm 1998, lúc đó nó bắt đầu hoạt động trên phạm vi quốc tế bằng cách mua lại những công ty bán sách trực tuyến ở Vương quốc AnhĐức. Năm sau, công ty cũng bắt đầu bán các trò chơi video, đồ điện tử tiêu dùng, đồ gia dụng, phần mềm, trò chơi và đồ chơi ngoài các mặt hàng khác.

Năm 2002, tập đoàn này thành lập Amazon Web Services (AWS), nơi cung cấp dữ liệu về mức độ phổ biến của trang web, mô hình lưu lượng truy cập Internet và các số liệu thống kê khác cho các nhà tiếp thị và nhà phát triển. Vào năm 2006, tổ chức này đã phát triển danh mục AWS của mình khi Elastic Compute Cloud (EC2), cho thuê sức mạnh xử lý máy tính cũng như Dịch vụ lưu trữ đơn giản (S3), cho thuê lưu trữ dữ liệu qua Internet, được cung cấp. Cùng năm đó, công ty thành lập Fulfillment by Amazon, nơi quản lý tài sản của các cá nhân và công ty nhỏ, và bán đồ đạc của họ thông qua trang web của công ty. Năm 2012, Amazon đã mua Kiva Systems để tự động hóa hoạt động kinh doanh quản lý hàng tồn kho, mua chuỗi siêu thị Whole Food Market 5 năm sau vào năm 2017.[23]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Amazon.com (AMZN) annual SEC balance sheet filing via Wikinvest.
  2. ^ “Company Profile for Amazon.com Inc (AMZN)”. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2010. 
  3. ^ “Amazon.com, Inc. - Form-10K”. NASDAQ. 31 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2019. 
  4. ^ Lotz, Amanda. 'Big Tech' isn't one big monopoly – it's 5 companies all in different businesses”. The Conversation (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  5. ^ “The Big Four of Technology” (bằng tiếng Anh). 31 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  6. ^ Rivas, Teresa. “Ranking The Big Four Tech Stocks: Google Is No. 1, Apple Comes In Last”. www.barrons.com (bằng tiếng en-US). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  7. ^ Furth, John F. (18 tháng 5 năm 2018). “Why Amazon and Jeff Bezos Are So Successful at Disruption”. Entrepreneur (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  8. ^ Bylund, Per (29 tháng 8 năm 2017). “Amazon's Lesson About Disruption: Rattle Any Market You Can”. Entrepreneur (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  9. ^ Newman, Daniel. “Alibaba vs. Amazon: The Battle Of Disruptive Innovation Beyond Traditional E-Commerce”. Forbes (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  10. ^ Synergy Research Group, Reno, NV. “Microsoft Cloud Revenues Leap; Amazon is Still Way Out in Front – Synergy Research Group”. srgresearch.com. 
  11. ^ Jopson, Barney (12 tháng 7 năm 2011). “Amazon urges California referendum on online tax”. Financial Times. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2011. 
  12. ^ “Fortune Global 500 List 2018: See Who Made It”. Fortune. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019. 
  13. ^ Cheng, Evelyn (23 tháng 9 năm 2016). “Amazon climbs into list of top five largest US stocks by market cap”. CNBC. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2019. 
  14. ^ Streitfeld, David; Kantor, Jodi (17 tháng 8 năm 2015). “Jeff Bezos and Amazon Employees Join Debate Over Its Culture”. The New York Times (bằng tiếng en-US). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2019. 
  15. ^ Wingfield, Nick; de la Merced, Michael J. (16 tháng 6 năm 2017). “Amazon to Buy Whole Foods for $13.4 Billion”. The New York Times (bằng tiếng en-US). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2019. 
  16. ^ “Jeff Bezos reveals Amazon has 100 million Prime members in letter to shareholders”. 18 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2019. 
  17. ^ “Amazon - Investor Relations - Annual Reports, Proxies and Shareholder Letters”. phx.corporate-ir.net. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2018. 
  18. ^ Harwell, Drew (30 tháng 4 năm 2019). “Amazon's facial-recognition AI is supercharging police in Oregon.”. The Washington Post. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2019. 
  19. ^ An Amazonian's response to "Inside Amazon: Wrestling Big Ideas in a Bruising Workplace" August 16, 2015
  20. ^ Stampler, Laura (14 tháng 2 năm 2019). “Amazon Will Pay a Whopping $0 in Federal Taxes on $11.2 Billion Profits”. Fortune (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2019. 
  21. ^ Baum, Andrew (23 tháng 10 năm 2015). “Amazon Wins Ruling on Results for Searches on Brands It Doesn't Sell”. The National Law Review (Foley & Lardner). Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2015. 
  22. ^ The David Rubenstein Show: Jeff Bezos, Bloomberg Markets and Finance, 2018-09-19
  23. ^ “Amazon.com - History & Facts”. Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2019. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]