Jerimalai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Jerimalai
Jerimalai in East Timor
Jerimalai in East Timor
Jerimalai
Vị trí ở Đông Timor
Vị trí gần Tutuala, Lautém
Vùng Đông Timor
Tọa độ 8°23′38″N 127°16′6″Đ / 8,39389°N 127,26833°Đ / -8.39389; 127.26833
Độ cao 75 m (246 ft)
Loại Hang động đá vôi

Jerimalai là một hang đá vôi nằm ở phía đông nam của Tutuala, phía đông của Đông Timor. Xương cá và mũi câu cá được khai quật ở Jerimalai cung cấp bằng chứng cho kỹ thuật đánh cá tiên tiến của cư dân ở Timor cách đây 42.000 năm.[1][2]

Jerimalai phát hiện lâu đời thứ hai được phát hiện ở Wallacea, sau động Laili gần Manatuto.[3]

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Hang động nằm ở độ cao 75 m, cách biển không đầy một cây số.[1]

Cách đây 42.000 năm, mực nước biển thấp hơn 55 m so với ngày hôm nay, và hang động cách biển 2,8 km. Cách đây 22.000 năm, trong thời kỳ cực đại băng hà cuối cùng, mực nước biển thấp hơn 121 m so với ngày nay và Jerimalai cách bờ biển 3,5 km. Trong thời đại băng hà, độ dốc từ hang động tới bờ biển tương đối cao, điều này lý giải tại sao hang động lại ít được sử dụng vào thời đó.[1]

Phát hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 2005, một số phát hiện khảo cổ có niên đại 42.000 năm đã được tìm thấy trong hang động. Niên đại của những phát hiện được xác định bằng cách sử dụng định tuổi bằng cacbon-14. Tuy nhiên, một số phát hiện có thể là lâu đời hơn.[1]

Những cư dân của hang động ăn rùa, cá ngừ đại dương và những con chuột khổng lồ (có lẽ là Coryphomys buehleri).[4] Các nhà khảo cổ học cũng tin rằng một số đá và vỏ đã được sử dụng làm đồ trang sức.[1]

Các công cụ tìm thấy ở Jerimalai tương tự như những phát hiện trong hang Liang Bua của người Homo floresiensis, những người sống trên đảo Flores gần đó từ 50.000 năm trước. Sự tương đồng cao đã đặt ra câu hỏi liệu phải chăng các dụng cụ ở Liang Bua có được tạo ra bởi chủng người Homo sapiens, chứ không phải bởi loài Homo floresiensis.[5]

Đánh bắt cá[sửa | sửa mã nguồn]

Xương cá được tìm thấy ở đây là bằng chứng cho nghề đánh bắt cá xa bờ cổ nhất từng tìm thấy.[6][7] Thêm vào đó, một chiếc lưỡi câu cá được cho là có độ tuổi từ 16.000 đến 23.000 năm đã được phát hiện. Chiếc móc dài bốn inch được làm từ vỏ ốc biển. Mũi câu này từng được sử dụng để đánh bắt cá trong vùng biển ven bờ, nơi có nhiều cá rạn san hô.[4]

Sự tiến bộ kỹ thuật đánh bắt cá cao trong thời gian này có thể giải thích được do thiếu động vật trên đất liền ở Timor trong thời đại đó. Cách đây 40.000 năm, động vật gặm nhấm và động vật bò sát là loài những loài duy nhất có mặt trên đất liền đảo Timor.[4]

Đồ trang sức[sửa | sửa mã nguồn]

Năm mảnh đồ trang sức cũng được tìm thấy, được làm từ vỏ ốc anh vũ và được nhuộm màu thổ hoàng. Chúng có những gạch nhỏ và các lỗ khoan. Vì ốc anh vũ thường được bắt gặp ở độ sâu 150 m hoặc hơn,[8] người ta tin rằng vỏ ốc đã được thu gom khi chúng trôi dạt trên bãi biển. Điều này cũng giải thích tại sao trong số hàng nghìn mảnh vỏ (khoảng 50 kg vật liệu được thu thập trong quá trình đào) chỉ có 268 mảnh thuộc về loài ốc anh vũ. Người ta tin rằng đồ trang sức làm từ vỏ ốc anh vũ có ý nghĩa văn hoá lớn.[1]

Di cư đến Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Các phát hiện này củng cố thêm cho giả thuyết con người đã di cư từ châu Á đến Úc theo đường phía nam đi qua quần đảo Sunda nhỏ chứ không phải theo đường phía bắc qua Borneo, SulawesiNew Guinea. Các phát hiện trước đây trên các hòn đảo của đường phía nam còn quá mới để chứng minh rằng tuyến phía nam là con đường di cư chính.[9]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d Langley, Michelle C.; O'Connor, Sue; Piotto, Elena (tháng 8 năm 2016). “42,000-year-old worked and pigment-stained Nautilus shell from Jerimalai (Timor-Leste): Evidence for an early coastal adaptation in ISEA”. Journal of Human Evolution 97: 1–16. doi:10.1016/j.jhevol.2016.04.005. 
  2. ^ Lưu trữ 2009-02-14 tại Wayback Machine.
  3. ^ Hawkins, Stuart; O'Connor, Sue; Maloney, Tim; Litster, Mirani; Kealy, Shimona; N. Fenner, Jack; Aplin, Ken; Boulanger, Clara; Brockwell, Sally; Willan, Richard; Piotto, Elena; Louys, Julien (ngày 1 tháng 9 năm 2017). “Oldest human occupation of Wallacea at Laili Cave, Timor-Leste, shows broad-spectrum foraging responses to late Pleistocene environments”. Quaternary Science Reviews 171: 58–72. doi:10.1016/j.quascirev.2017.07.008. 
  4. ^ a ă â O’Connor, Sue; Ono, Rintaro; Clarkson, Chris (ngày 25 tháng 11 năm 2011). “Pelagic Fishing at 42,000 Years Before the Present and the Maritime Skills of Modern Humans”. Science (bằng tiếng Anh) (ấn bản 6059) 334: 1117–1121. ISSN 0036-8075. doi:10.1126/science.1207703. 
  5. ^ Marwick, Ben; Clarkson, Chris; O'Connor, Sue; Collins, Sophie (tháng 12 năm 2016). “Early modern human lithic technology from Jerimalai, East Timor”. Journal of Human Evolution 101: 45–64. doi:10.1016/j.jhevol.2016.09.004. 
  6. ^ Corbyn, Zoë. “Archaeologists land world's oldest fish hook”. Nature (bằng tiếng Anh). doi:10.1038/nature.2011.9461. 
  7. ^ “Deep sea fishing for tuna began 42,000 years ago”. New Scientist. 
  8. ^ Ward, Peter Douglas (1988). In search of nautilus: three centuries of scientific adventures in the deep Pacific to capture a prehistoric, living fossil. New York: Simon and Schuster. ISBN 0-671-61951-9. 
  9. ^ O'Connor, Sue (2007). “New evidence from East Timor contributes to our understanding of earliest modern human colonisation east of the Sunda Shelf”. Antiquity (ấn bản 313) 81: 523–535. ISSN 0003-598X. doi:10.1017/S0003598X00095569.