Lệ Thủy (nghệ sĩ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Lệ Thủy (nghệ sỹ))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lệ Thủy
Lệ Thủy
Tên khai sinh Trần Thị Lệ Thủy
Nghệ danh Lệ Thủy
Sinh 20 tháng 5, 1948 (69 tuổi)
Vĩnh Long, Liên bang Đông Dương
Quốc tịch  Việt Nam
Lĩnh vực hoạt động Cải lương
Giải thưởng Giải Thanh Tâm (1964)
Giải Kim Khánh (1974)
Nghệ sĩ Ưu tú (1993)
Kỷ lục Guinness Việt Nam (2008)
Giải Mai Vàng (20082009)
Nghệ sĩ Nhân dân (2012)
HTV Awards (2013)

Lệ Thủy (sinh năm 1948) là nghệ sĩ cải lương Việt Nam.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bà tên thật là Dương Thị Lệ Thủy, về sau đổi thành Trần Thị Lệ Thủy, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1948 trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Đông Thành, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Gia đình bà có 8 chị em, trong đó bà là chị cả.

Do cuộc sống khó khăn, từ nhỏ, bà đã theo gia đình lên Sài Gòn để mưu sinh. Năm 10 tuổi, nghệ sĩ nghiệp dư là Tư Long làm ở ban văn nghệ xóm bên tình cờ nghe bà ca vọng cổ, đã mời bà tham gia và gửi theo học ca cổ với thầy Năm Truyền làm thợ hớt tóc ở Khánh Hội. Sau đó, Lệ Thủy được gửi sang học bài bản cải lương 3 Nam, 6 Bắc với nhạc sĩ Tám Đen. Lúc đó các em của Lệ Thủy liên tục đau ốm, gia đình nợ nần tứ phía. Không tiếp tục đến trường được do không có khai sinh, Lệ Thủy đã phải làm việc sớm để phụ giúp gia đình và quyết, Lệ Thủy đã phải làm việc sớm để phụ giúp gia đình và quyết định xin đi theo làm việc ở gánh Trâm Vàng (Biên Hòa, Đồng Nai) để đỡ gánh nặng cho ba má.

Với bài ca cổ Cô gái bán đèn hoa giấy, đầu tiên qua việc ngâm thơ hậu trường, đóng những vai kép con trên sân khấu... 13 tuổi, Lệ Thủy thế vai kép con trên đoàn Trâm Vàng, 14 tuổi, Lệ Thủy đóng các vai đào nhì. Một thời gian sau, Lệ Thủy rời Trâm Vàng để về Công ty Kim Chung của ông bầu Trần Viết Long, một đại bang có 7 đoàn hát. Tại sân khấu này Lệ Thủy đã được soạn giả Ngọc Văn nhận làm con nuôi, ông viết nhiều kịch bản đưa Lệ Thủy vào đóng từ vai phụ cho đến vai chính [1]..

Sau những bước đi đầu tiên tạo được ấn tượng, ông bầu Trần Viết Long lập đoàn Kim Chung 3. Lệ Thủy chuyển sang đây diễn chung với nghệ sĩ Thanh Hải trong vở "Bẽ bàng duyên mới" của soạn giả Ngọc Văn. Tên tuổi của Lệ Thủy bắt đầu nổi lên, trở thành cô đào chính sáng giá lúc vừa tròn 15 tuổi.

Sau đó, Lệ Thủy hát ở đoàn Kim Chung 5, tại đây Lệ Thủy đóng cặp với Minh Phụng tạo thành cặp đào – kép ăn ý, được báo chí thời đó phong tặng là cặp "Bão biển" vì mang lại doanh thu cao cho đoàn qua các vở Xin một lần yêu nhau, Đêm lạnh chùa hoang, Kiếp nào có yêu nhau...

Năm 1975, Lệ Thủy gắn bó với Đoàn văn công Thành phố Hồ Chí Minh qua các vở diễn Cây sầu riêng trổ bông, Tiếng sóng Rạch Gầm, Khi bình minh trở lại...

Tháng 2 năm 1984, Lệ Thủy được vinh dự tham gia Đoàn nghệ sĩ lưu diễn Tây Âu cùng với nghệ sĩ Bạch Tuyết, Diệp Lang, Ngọc Giàu, Minh Vương... với các vở diễn Đời cô Lựu, Câu thơ yên ngựa... Báo chí thời đó gọi là "đem chuông đi đánh xứ người" đầu tiên sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975. Sau chuyến đi về, các nghệ sĩ trong đoàn đã hợp lại và thành lập nên Đoàn nghệ thuật 2-84. Vở Tô Ánh NguyệtĐời cô Lựu là hai vở tuồng khai trương cho đoàn 2-84. Ở sân khấu này, Lệ Thủy đã diễn các vở tuồng Tô Ánh Nguyệt, Áo cưới trước cổng chùa, Trắng hoa mai, Kiếp chồng chung, Lôi vũ...

Những năm đầu 1990 Lệ Thủy chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực video cải lương. Một số vở cải lương từng gắn với tên tuổi nghệ sĩ Lệ Thủy khi hát ở đoàn Kim Chung 5 trước năm 1975 cũng được quay video như Đêm lạnh chùa hoang, Tây Thi, Máu nhuộm sân chùa, Kiếp nào có yêu nhau, Băng Tuyền nữ chúa,.... Sau thập niên 1990, nghệ sĩ Lệ Thủy đi lưu diễn thường xuyên ở các tỉnh miền Tây, các vùng sâu, đem tiếng hát của mình gần hơn với khán giả nông thôn.

Sân khấu cải lương ngày càng gặp nhiều khó khăn. Bà cùng Diệp LangMinh Vương thành lập chương trình Những dấu ấn không phai trực thuộc Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang quy tụ các nghệ sĩ tham gia biểu diễn các vở tuồng kinh điển ngày xưa. Các vở diễn của chương trình như Giấc mộng đêm xuân, Tình mẫu tử, Một ngày làm vua, Đêm giao thừa... Năm 2008, chương trình được hoạt động với tên gọi là nhóm xã hội hóa "Sân khấu vàng" trực thuộc Nhà hát Trần Hữu Trang nhằm tập hợp các nghệ sĩ tham gia biểu diễn đồng thời doanh thu từ chương trình dành vào cho hoạt động xây tặng nhà tình thương. Đến nay, "Sân khấu vàng" do Lệ Thủy và Minh Vương thành lập đã dựng các vở diễn như Sông dài, Lá sầu riêng, Một ông hai bà, Đêm lạnh chùa hoang... và đã trao tặng hơn 30 căn nhà tình thương cho các gia đình khó khăn.

Hiện tại, Lệ Thủy vẫn cộng tác thường xuyên với Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang trong các chương trình biểu diễn phục vụ công chúng và tham gia đi show ở các tỉnh thành.

Các nam nữ nghệ sĩ mà Lệ Thủy đã hát, diễn chung: Minh Vương, Minh Phụng, Út Bạch Lan, Bạch Tuyết, Phượng Liên, Thanh Sang, Bảo Quốc, Thanh Ngân, Phượng Hằng, Trọng Hữu, Minh Cảnh, Tấn Tài, Huyền Trang, Phi Nhung, Diệp Lang, Thanh Kim Huệ, Ngọc Giàu, Trọng Phúc,...

Danh hiệu, giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giải Thanh Tâm (năm 1964) cùng với Thanh Sang, Lệ Thủy cũng là nữ nghệ sĩ trẻ nhất đoạt giải này sau 10 lần tổ chức.
  • Giải Kim Khánh (1974)
  • Giải A1 Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc (1980).
  • Nghệ sĩ được yêu thích nhất năm 1989, hạng nhất với 4565 phiếu bầu chọn của độc giả báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
  • Danh ca vọng cổ được yêu thích nhất năm 1990, hạng 2 (sau Minh Vương) do báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
  • Nghệ sĩ được yêu thích nhất năm 1990, hạng 4 với 2664 phiếu bầu chọn của độc giả báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
  • Giải Đôi nam – nữ diễn viên cải lương được yêu thích nhất năm 1992 (cùng Minh Vương), với 7993 phiếu bầu chọn do báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
  • Nghệ sĩ đóng Video cải lương được yêu thích nhất năm 1992, hạng nhì trong top 10 (xếp sau Vũ Linh) với 4286 phiếu bầu chọn của đọc giả báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
  • Danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú đợt 3 năm 1993.
  • Kỷ lục Guinness Việt Nam 2008 cho Đôi bạn diễn lâu năm và ưng ý nhất (cùng Minh Vương).
  • Giải Mai vàng cho hạng mục Nữ diễn viên cải lương được yêu thích nhất do báo Người lao động tổ chức năm 2008.
  • Giải Mai vàng cho hạng mục Nữ diễn viên cải lương được yêu thích nhất do báo Người lao động tổ chức năm 2009.
  • Danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân đợt 7 năm 2012[2].
  • Giải thưởng truyền hình HTV Awards 2013 cho Nữ nghệ sĩ cải lương được yêu thích nhất.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1973, Lệ Thủy lập gia đình với một cử nhân kinh tế và đến nay đã có ba con. Người con trai thứ hai của bà sau khi tốt nghiệp đại họcÚc đã về Việt Nam làm ca sĩ với nghệ danh Dương Đình Trí. Năm 2009, Dương Đình Trí tổ chức liveshow Bước chân hai thế hệ nhân dịp sinh nhật lần thứ 61 của mẹ mình.

Nhận xét[sửa | sửa mã nguồn]

Soạn giả Viễn Châu nhận xét: "Lệ Thủy có một giọng ca hiếm hoi trong làng cổ nhạc, với chất giọng kim pha thổ, đã từng được báo giới Sài Gòn trước đây phong tặng là giọng ca chuông ngân".[3] Năm 1964, khi soạn giả Viễn Châu kết hợp tân nhạccổ nhạc để tạo nên bản tân cổ giao duyên, ông đã chọn giọng ca Lệ Thủy thể hiện cho thử nghiệm này với bài hát Chàng là ai.

Diệp Lang nhận xét Lệ Thủy là "cô đào ngoại hạng" của sân khấu cải lương.[4]

Một số tác phẩm tân cổ nổi danh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Áo mới Cà Mau (Tân nhạc: Thanh Sơn; cổ nhạc: Viễn Châu)
  • Bạch Thu Hà (Tác giả: Viễn Châu)
  • Bìm bịp kêu
  • Cánh thiệp đầu xuân (Nhạc: Lê DinhMinh Kỳ; lời vọng cổ: Hoàng Song Việt)
  • Xe hoa cách biệt
  • Cô bán đèn hoa giấy (của Quy Sắc)
  • Đêm trao kỷ niệm
  • Duyên tình
  • Tình ca quê hương (Nhạc: Việt Lang; lời vọng cổ: Bạch Tuyết)
  • Cha ơi (Sáng tác: Dương Đình Trí)
  • Chuyện tình nàng Buram
  • Hát về sông Bé
  • Hái hoa
  • Gặp lại cố nhân
  • Mẹ tôi (Tân nhạc: Nhị Hà; cổ nhạc: Đình Trí)
  • Cơn mê tình ái
  • Lan và Điệp (của Viễn Châu)
  • Trên dòng sông Hậu
  • Giấc ngủ đầu nôi
  • Khổ tâm
  • Trăng tàn trên hè phố
  • Đường về hai thôn
  • Ước nguyện đầu xuân
  • Hoa trinh nữ
  • Em thương người nghệ sĩ
  • Trái tim Đồ Chiểu
  • Còn tìm đâu nữa
  • Ga chiều
  • Thành phố buồn
  • Ngợi ca quê hương em (Nhạc: Thanh Sơn; lời vọng cổ: Đình Trí)
  • Tình xuân (của Hoàng Song Việt)
  • Xin gọi nhau là cố nhân
  • Cô gái bán đèn hoa giấy
  • Thương hoài ngàn năm (của Dương Đình Trí)
  • Hành trình trên đất phù sa (Tân nhạc: Thanh Sơn; lời vọng cổ: Dương Đình Trí)
  • Cô gái bán sầu riêng (của Viễn Châu)
  • Chàng là ai? (của Viễn Châu)
  • Cô hàng chè tươi
  • Về chung một mái nhà (Nhạc: Xuân Tiên – Y Vân; lời vọng cổ: Nguyễn Thiên Đặng)
  • Nhất kiếm bá vương
  • Tấm ảnh không hồn
  • Tình đẹp mùa chôm chôm
  • Em bé đá
  • Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài
  • Bánh bông lan (của Quế Chi – Viết Chung)
  • Hương cau quê ngoại
  • Tiền và lá
  • Cau Hà Châu têm trầu Xuân Mỹ
  • Con gái của mẹ (Tân nhạc: Giao Tiên; cổ nhạc: Loan Thảo)
  • Còn tìm đâu nữa
  • Nấu bánh đêm xuân
  • Thương nhau lý tơ hồng (Nhạc: Trương Quang Tuấn; lời vọng cổ: Viễn Châu)
  • Lá sầu riêng (Nhạc: Hoàng Cầm – Nguyễn Chi; lời vọng cổ: Viễn Châu)
  • Cô gái Đồ Long
  • Lý ngựa ô
  • Mưa trên phố Huế
  • Mất nhau rồi
  • Xe hoa cách biệt
  • Em bé đánh giày
  • Ngày em về thăm quê tôi
  • Thương màu áo lam (Tân nhạc: Vũ Ngọc Toản; cổ nhạc: Bạch Tuyết)
  • Bông bí vàng (Nhạc: Bắc Sơn; lời vọng cổ: Dương Đình Trí)
  • Duyên quê
  • Lý chim quyên (của Loan Thảo)
  • Lá trầu xanh (của Viễn Châu)
  • Chuyến tàu hoàng hôn (Nhạc: Hoài LinhMinh Kỳ; lời vọng cổ: Loan Thảo)
  • Dòng sông quê em (Tân nhạc: Trương Quang Lục; cổ nhạc: Huyền Nhung)
  • Chiều lên bản Thượng

Ngoài ra, còn có các bài tân nhạc như

  • Miền Tây quê tôi (Cao Minh Thu)
  • Nỗi buồn mẹ tôi (Nhạc: Minh Vy)
  • Hồn quê
  • Thương lắm quê tôi
  • Tết miền Tây (Nhạc: Cao Minh Thu)

Các vai diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]