Nguyễn Văn Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
NGUYỄN VĂN ĐÔNG
Tiểu sử
Sinh 15 tháng 3 năm 1932 (85 tuổi)
Sài Gòn, Liên bang Đông Dương
Binh nghiệp
Phục vụ Flag of South Vietnam.svg
Thuộc Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Năm tại ngũ 1951-1975
Cấp bậc DaiTaQLVNCHlucquan.gif Đại tá Lục quân
Đơn vị Huy hiệu Lục quân Việt Nam Cộng hòa.png Đơn vị Bộ binh
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Chỉ huy Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the South Vietnamese Army.jpg Quân lực VNCH
Tham chiến Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởng B.Quốc H.Chương Đệ IV[1]
Nhạc sĩ
Tên khai sinh Nguyễn Văn Đông
Thể loại -Nhạc vàng
-Tình khúc 1954-1975
Nghề nghiệp -Nhạc sĩ
-Quân nhân
Ca khúc tiêu biểu - Chiều mưa biên giới
- Hải ngoại thương ca
- Nhớ một chiều xuân
- Sắc hoa màu nhớ
- Tình ca hàng hàng lớp lớp
Ca sĩ trình bày thành công Hà Thanh

Nguyễn Văn Đông (sinh 1932), nguyên là một sĩ quan Bộ binh cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Đại tá. Ông xuất thân từ trường Thiếu sinh quân Quốc gia Việt Nam và sau đó là trường Võ bị Địa phương do Chính phủ Quốc gia mở ra tại miền Nam Việt Nam vào cuối thập niên 40 của thế kỷ trước. Ông còn là một Nhạc sĩ nổi tiếng trước năm 1975. Một số bút danh khác của ông là Phượng Linh, Phương Hà, Vì DânĐông Phương Tử.

Tiểu sử và Binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 15 tháng 3 năm 1932 tại quận Nhất, Sài Gòn, miền Nam Việt Nam[2] trong một gia đình nguyên là một điền chủ lớn có nhiều ruộng đất ở Tây Ninh. Thiếu thời, do gia đình có điều kiện, ông học tại tư gia dưới sự hướng dẫn của thầy học. Sau ông theo học bậc Trung học tại trường Huỳnh Khương Ninh, Đa Kao.[3] Năm 1945, Chính quyền Pháp đóng cửa trường Huỳnh Khương Ninh. Năm 1946, gia đình gửi ông vào trường Thiếu sinh quân Việt Nam ở Vũng Tàu, khi ấy ông mới 14 tuổi.[4]

Thời gian tại trường Thiếu sinh quân Vũng Tàu, ông được học nhạc với các Giảng viên âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp sang giảng dạy. Chỉ sau một thời gian ngắn, ông trở thành một thành viên của ban Quân nhạc Thiếu sinh quân, học cách sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Năm 16 tuổi, ông đã có những sáng tác đầu tay như "Thiếu sinh quân hành khúc", "Tạm biệt mùa hè"...[3] Năm 19 tuổi, ông rời trường Thiếu sinh quân và được cấp Chứng chỉ tốt nghiệp tương đương với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1951, ông chính thức nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia, mang số quân: 52/120.117. Ông được theo học khóa 4 trường Võ bị Địa phương Nam Việt Vũng Tàu[5], Tháng 10 năm 1952, mãn khóa tốt nghiệp Thủ khoa với cấp bậc Thiếu úy. Qua năm 1953, ông được cử đi học khóa huấn luyện "Ðại đội trưởng" tại trường Võ bị Ðà Lạt. Năm 1954, ông được gửi ra Hà Nội theo học khóa "Tiểu đoàn trưởng" tại Trung tâm Chiến thuật Hà Nội[6]. Ra trường, ông được giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trọng pháo 553 và là Tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của Quân đội Quốc gia khi mới 22 tuổi.[4] Sau Hiệp định Genève 20/7/1954, di chuyển vào Nam ông được thăng cấp Trung úy, phục vụ tại Phân khu Đồng Tháp Mười với chức vụ Trưởng phòng Hành quân, dưới quyền Đại tá Nguyễn Văn Là.

Quân đội Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 11 năm 1955, ông chuyển biên chế sang Quân đội Việt Nam Cộng hòa, được cử kiêm nhiệm chức vụ Trưởng phòng 3 (Tác chiến) của Phân khu Đồng Tháp Mười. Năm 1956 ông tham gia Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu do tướng Dương Văn Minh làm Tư lệnh, tướng Minh từng đến bắt tay ông tỏ lòng ngưỡng mộ.[7] Cuối năm 1957, ông được cử đi du học khóa Chỉ huy tham mưu tại Tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ.[8] Ngày Quốc khánh Đệ Nhất Cộng hòa 26 tháng 10 năm 1959, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm.

Sau ngày Đảo chính 1/11/1963, ông được thăng cấp Thiếu tá và được chuyển về Bộ Tổng Tham mưu phục vụ ở Khối Lãnh thổ. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968, ông được thăng cấp Trung tá phụ trách một Phòng trong Khối Lãnh thổ. Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1972, ông được thăng cấp Đại tá chuyển sang làm Chánh Văn phòng cho Tổng Tham mưu Phó. Ông đã ở chức vụ này cho đến cuối tháng 4 năm 1975.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4, ông bị bắt đi Học tập cải tạo,[9] bắt đầu từ trại Suối Máu, một thời gian sau, ông bị đưa về giam ở trại tù Chí Hòa cho đến khi được trả tự do vào năm 1985. Kể từ đó ông đã ngừng sáng tác nhạc. Ông không xin đi xuất cảnh theo diện H.O. Hiện nay ông đang định cư tại Phú Nhuận, Tp HCM cùng với gia đình.

Hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ông đã từng nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc ở Sài Gòn trước 30 tháng 4 năm 1975. Trong thập niên 1950, ông nổi tiếng khi là Trưởng Đoàn văn nghệ Vì Dân với thành phần Ca nhạc sĩ tên tuổi như Mạnh Phát, Minh Kỳ, Hoài Linh, Thu Hồ, Quách Đàm, Minh Diệu, Khánh Ngọc và các nghệ sĩ danh tiếng như Kim Cương, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch, diễn viên điện ảnh Trang Thiên Kim... Ông đã tổ chức và điều khiển các chương trình Đại nhạc hội tại Sài Gòn và khắp các tỉnh của Việt Nam Cộng hòa.

Từ năm 1958, ông là Trưởng ban Ca nhạc Tiếng thời gian của Đài Phát thanh Sài Gòn, gồm những danh ca, nhạc sĩ danh tiếng như Lệ Thanh, Hà Thanh, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát, Thu Hồ, Quách Đàm, Anh Ngọc... Năm sau ông là Trưởng ban tổ chức Đại hội thi đua Văn nghệ toàn quốc ở cấp Quốc gia, đã quy tụ trên 40 Đoàn Văn nghệ đại diện cho cả Miền Nam cùng tranh giải suốt 15 ngày đêm tại Sài Gòn. Ông cũng từng nhận giải Âm nhạc Quốc gia, một giải thường do Đệ Nhất Phu nhân Trần Lệ Xuân trao tặng.

Ông còn là Giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, cộng tác với những nhạc sĩ tên tuổi như Lê Văn Thiện, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi, Y Vân... Hai cơ sở của ông cho ra đời nhiều chương trình tân nhạc cũng như cổ nhạc gồm các vở TuồngCải lương. Chính ông là người đã tiên phong thực hiện album riêng cho từng ca sĩ mà trước đó chưa từng ai làm. Ông đã thực hiện loạt băng nhạc Sơn Ca nổi tiếng trong đó có Khánh Ly với băng nhạc Sơn Ca 7, Thái ThanhBan Thăng Long - Sơn Ca 10, Lệ Thu - Sơn Ca 9, Phương Dung - Sơn Ca 5 và 11, Giao Linh - Sơn Ca 6, Sơn Ca - Sơn Ca 8... và một số album riêng cho Trịnh Công Sơn.

Nhiều sáng tác của ông viết về chủ đề người lính Miền Nam thời đó. Nhạc phẩm "Phiên gác đêm xuân" được ông viết vào đêm 30 Tết năm 1956 khi gác phiên ở khu 9 Đồng Tháp Mười. "Chiều mưa biên giới" ra đời năm 1956 và nổi tiếng qua tiếng hát của Trần Văn Trạch. "Chiều mưa biên giới" và "Mấy dặm sơn khê" đã từng gây cho ông nhiều khó khăn khi bị Bộ Thông tin Việt Nam Cộng hòa ra quyết định cấm phổ biến vì lý do phản chiến vào năm 1961. "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp" nổi tiếng qua tiếng hát của Hà Thanh nhưng thường bị nhầm với nhạc phẩm Khúc tình Kinh Kha của Phạm Duy. Hà Thanh cũng chính là ca sĩ trình bày thành công nhất các nhạc phẩm của ông.

Ông còn có nhiều bút danh khác như Phượng Linh, Phương Hà trên một số nhạc phẩm tình cảm như "Khi đã yêu", "Thầm kín", "Niềm đau dĩ vãng", "Nhớ một chiều xuân"... Với bút danh Đông Phương Tử và Phượng Linh, ông đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng, Cải lương nổi tiếng ở Miền Nam trước năm 1975 như Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng...

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

TT Tên Tác phẩm Bút hiệu Chú thích
1
Anh
Nguyễn Văn Đông
2
Anh trước, tôi sau
nt
3
Bà mẹ hai con
nt
4
Bài ca hạnh phúc
nt
5
Bến đò Biên giới
nt
6
Bông hồng cài áo trắng
nt
Khác với "Bông hồng cài áo" của NS Phạm Thế Mỹ
7
Chiều mưa Biên giới
nt
8
Chúc tết
Đông Phương Tử
9
Chuyện tình hoa Pensée
Nguyễn Văn Đông
10
Cuốn theo chiều gió
nt
11
Cung thương ngày cũ
nt
Đồng sáng tác với Nhạc sĩ Mạnh Phát
12
Dáng xuân xưa
nt
13
Đêm buồn
nt
Đồng sáng tác với Nhạc sĩ Lam Phương
14
Đêm thánh huy hoàng
nt
15
Đôi bờ thương nhớ
nt
16
Đồng Tháp duyên gì
Vì Dân
Viết chung với Nhạc sĩ Minh Kỳ
17
Hải ngoại thương ca
Nguyễn Văn Đông
18
Hiến dâng
nt
19
Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp
nt
20
Khúc xuân ca
nt
21
Lá thư người lính chiến
nt
22
Lời hứa ban đầu
Phương Hà
23
Màu xanh Noel
nt
24
Mấy dặm sơn khê
Nguyễn Văn Đông
25
Mùa sao sáng
nt
26
Ngày mai anh về
nt
27
Ngày vui pháo nhuộm đường
nt
28
Người tình yêu dấu
nt
29
Nguyện cầu trên bến ngàn năm
nt
30
Nếu có em bên anh
nt
31
Nhớ một chiều xuân
nt
32
Nhớ người viễn xứ
nt
Đồng sáng tác với Nhạc sĩ Lâm Tuyền
33
Núi và gió
nt
34
Phiên gác đêm xuân
nt
35
Sắc hoa màu nhớ
Vì Dân
36
Thu hoài cảm
Nguyễn Văn Đông
37
Tình cố hương
nt
38
Tình đầu xót xa
nt
39
Trái tim Việt Nam
nt
40
Truông mây
nt
41
Về mái nhà xưa
nt
42
Vô thường
nt
43
Việt Nam hôm nay
Phương Hà
44
Xa người mình yêu
nt
45
Xin chúa thấu lòng con
Nguyễn Văn Đông
46
Bóng nhỏ giáo đường
nt
47
Cay đắng tình đời
nt
48
Chiếc bóng công viên
nt
49
Cô nữ sinh Gia Long
nt
50
Dạ sầu
nt
51
Đoàn chim cánh sắt
nt
Đồng sáng tác với Ngọc Sơn
52
Đom đóm
nt
53
Đoạn tuyệt
nt
54
Giáo đường chiều chủ nhật
nt
55
Khi đã yêu
nt
56
Lời giã biệt
nt
57
Mây chiều
nt
Viết chung với Mây Tần
58
Nỗi buồn duyên kiếp
nt
59
Niềm đau dĩ vãng
nt
60
Thầm kín (Bẽ bàng)
nt
61
Thương muộn
nt
62
Thương về mùa đông biên giới
nt
63
Tình người ngoại đạo
nt
64
Xin đừng trách anh
nt
65
Ave Maria
Nguyên tác:
Franz Schubert
Nguyễn Văn Đông soạn lời Việt
66
Đêm thánh vô cùng
Stille Nacht
Nguyên tác:
Franz Xaver Gruber
nt
67
Hồi chuông nửa đêm
The One Horse Open Sleigh
(Jingle Bells)
Nguyên tác:
James Pierpont
nt

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đệ tứ đẳng Huân chương Bảo quốc
  2. ^ Nguyên quán của ông ở Lợi Thuận, Bến Cầu, Tây Ninh
  3. ^ a ă Trường Kỳ (26 tháng 11 năm 2008). “Nguyễn Văn Đông: Giữa binh nghiệp và âm nhạc”. TiVi Tuần-san. 
  4. ^ a ă Du Tử Lê. “Binh nghiệp và nhạc nghiệp của Nguyễn Văn Ðông”. Người Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2010. 
  5. ^ Còn gọi là trường Võ bị Cap Saint Jacques
  6. ^ Sau Hiệp định Genève, chuyển cơ sở vào Nam tọa lạc tại Sài Gòn cải danh thành trường Đại học Quân sự. Năm 1960 trường di chuyển lên Đà Lạt đổi tên thành trường Chỉ huy và Tham mưu. Năm 1971, một lần nữa trường lại di chuyển cơ sở về Long Bình, Biên Hòa
  7. ^ Bức ảnh chụp tướng Minh bắt tay ông đã được in trên trang nhất của báo Chiến sĩ Cộng hòa.
  8. ^ Trong thời gian này ông cho ra đời tác phẩm "Nhớ một chiều xuân"
  9. ^ Một hình thức đi tù khổ sai

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.