Nguyễn Văn Đông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nguyễn Văn Đông
Nguyen-van-dong3.jpg
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông trước năm 1975
Chức vụ
ARVN Joint General Staff Insignia.svg
Chánh Văn phòng Tổng Tham mưu phó
Nhiệm kỳ11/1972 – 4/1975
Cấp bậc-Đại tá (11/1972)
Vị tríBiệt khu Thủ đô
Tổng tham mưu trưởng
Tổng tham mưu phó
-Đại tướng Cao Văn Viên

-Trung tướng Nguyễn Văn Là
-Trung tướng Nguyễn Văn Mạnh
ARVN Joint General Staff Insignia.svg
Trưởng phòng nhân viên Khối Lãnh thổ
Bộ Tổng tham mưu
Nhiệm kỳ6/1968 – 11/1972
Cấp bậc-Trung tá (6/1968)
Vị tríBiệt khu Thủ đô
ARVN Joint General Staff Insignia.svg
Phó phòng Nhân viên Khối Lãnh thổ
Bộ Tổng tham mưu
Nhiệm kỳ11/1963 – 6/1968
Cấp bậc-Thiếu tá (11/1963)
Vị tríBiệt khu Thủ đô
ARVN Joint General Staff Insignia.svg
Phục vụ Khối Lãnh thổ
Bộ Tổng Tham mưu
Nhiệm kỳ11//1961 – 11/1963
Cấp bậc-Đại úy (10/1959)
Vị tríQuân khu Thủ đô
Tổng Tham mưu trưởng-Đại tướng Lê Văn Tỵ
Flag of South Vietnam.svg
Trưởng ban Ca nhạc Tiếng Thời gian
Đài Phát thanh Sài Gòn
Nhiệm kỳ6/1958 – 11/1961
Cấp bậc-Trung úy
Vị tríThủ đô Sài Gòn
Trưởng phòng 3 Tác chiến
Phân khu Đồng Tháp Mười
Nhiệm kỳ11/1955 – 12/1957
Cấp bậc-Trung úy (8/1954)
Vị tríĐệ ngũ Quân khu
Phân khu trưởng-Đại tá Nguyễn Văn Là
Trưởng phòng Hành quân
Phân khu Đồng Tháp Mười
Nhiệm kỳ8/1954 – 11/1955
Cấp bậc-Thiếu úy (10/1952)
Vị tríĐệ ngũ Quân khu
(Miền tây Nam Phần)
Phân khu trưởng-Đại tá Nguyễn Văn Là
Flag of the Vietnamese National Army.svg
Chỉ huy Tiểu đoàn Trọng pháo 553
Quân đội quốc gia Việt Nam
Nhiệm kỳ4/1954 – 8//1954
Cấp bậcThiếu úy (10/1952)
Vị tríĐệ tam Quân khu Bắc Việt
Thông tin chung
Quốc tịchFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh15 tháng 3 năm 1932
Sài Gòn, Đông Dương thuộc Pháp
Mất26 tháng 2 năm 2018
(86 tuổi)[1][2]
Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nơi ởPhú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Nghề nghiệpQuân nhân
Nhạc sĩ
Dân tộcKinh
Học vấnTú tài bán phần
Học trường–Trường Huỳnh Khương Ninh ở Đa Kao, Sài Gòn
–Trường Thiếu sinh quân Đông Dương ở Vũng Tàu
–Trường Võ bị Địa phương Vũng Tàu
–Trung tâm Chiến thuật Hà Nội
–Trường Võ bị Liên quân Ðà Lạt
trường Chỉ huy Tham mưu Sơ cấp Hawaii, Hoa Kỳ
Quê quánLợi Thuận, Bến Cầu, Tây Ninh
Binh nghiệp
Phục vụFlag of South Vietnam.svg Việt Nam Cộng hòa
ThuộcFlag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Năm tại ngũ19511975
Cấp bậcDaiTaQLVNCHlucquan.gif Đại tá
Đơn vịHuy hiệu Lục quân Việt Nam Cộng hòa.png Bộ binh
ARVN Joint General Staff Insignia.svg Bộ Tổng Tham mưu
Chỉ huyFlag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Flag of the Army of the Republic of Vietnam.jpg Quân lực Việt Nam Cộng hòa
Tham chiếnChiến tranh Đông Dương
Chiến tranh Việt Nam
Khen thưởngVPD National Order of Vietnam - Officer BAR.png Bảo quốc Huân chương đệ Tứ đẳng
Nguyễn Văn Đông
Nghệ danhPhượng Linh
Phương Hà
Hoài Phương
Vì Dân
Đông Phương Tử
Dòng nhạcNhạc vàng
Tình khúc 1954-1975
Hãng đĩaContinental
Sơn Ca
Hợp tác vớiMinh Kỳ
Mạnh Phát
Thu Hồ
Song Ngọc
Ngọc Sơn
Ca sĩ trình bày thành côngThanh Tuyền
Hà Thanh
Giao Linh

Nguyễn Văn Đông (1932–2018) nguyên là một sĩ quan Bộ binh cao cấp trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa, mang cấp bậc Đại tá. Xuất thân từ Trường Võ bị Địa phương do Quân đội Pháp đào tạo. Đồng thời ông được nhiều người biết đến với tư cách là một nhạc sĩ nổi tiếng qua các ca khúc như "Chiều mưa biên giới", "Sắc hoa màu nhớ",... Một số bút danh khác của ông là Phượng Linh, Phương Hà, Hoài Phương, Vì DânĐông Phương Tử.[1]

Tiểu sử và binh nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 15 tháng 3 năm 1932 tại quận 1, Sài Gòn, nguyên quán ở Lợi Thuận, Bến Cầu, Tây Ninh trong một gia đình nguyên là một điền chủ lớn có nhiều ruộng đất ở Tây Ninh. Thiếu thời, do gia đình có điều kiện nên ông học tại tư gia dưới sự hướng dẫn của thầy học. Sau đó ông theo học bậc Trung học tại trường Huỳnh Khương Ninh ở Đa Kao, Quận 1.[3] Năm 1945, nhà cầm quyền Pháp đóng cửa trường Huỳnh Khương Ninh; năm 1946, gia đình gửi ông vào trường Thiếu sinh quân Đông Dương ở Vũng Tàu khi ông 14 tuổi.[4] Thời gian tại đây, ông được học nhạc với các giảng viên âm nhạc của Học viện Âm nhạc Quốc gia Pháp sang giảng dạy. Chỉ sau một thời gian ngắn, ông trở thành một thành viên của ban quân nhạc thiếu sinh quân, học cách sử dụng nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Năm 16 tuổi, ông đã có những sáng tác đầu tay như "Thiếu sinh quân hành khúc", "Tạm biệt mùa hè"...[3] Năm 19 tuổi, ông rời trường Thiếu sinh quân và được cấp Chứng chỉ tốt nghiệp tương đương với văn bằng Tú tài bán phần (Part I).

Quân đội Quốc gia Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1951, ông nhập ngũ vào Quân đội Quốc gia Việt Nam, mang số quân 52/120.117, sau đó được cử theo học khóa 4 trường Võ bị Địa phương Vũng Tàu. Tháng 10 năm 1952, mãn khóa tốt nghiệp Thủ khoa với cấp bậc Thiếu úy phục vụ đơn vị Bộ binh. Đầu năm 1953, ông được cử đi học khóa huấn luyện "Ðại đội trưởng" tại trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Đầu năm 1954 ông được gửi ra Hà Nội theo học khóa "Tiểu đoàn trưởng" tại Trung tâm Chiến thuật Hà Nội.[5] Ra trường, ông được cử giữ chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trọng pháo 553 và là Tiểu đoàn trưởng trẻ nhất của Quân đội Quốc gia khi mới 22 tuổi.[4] Sau Hiệp định Genève (1954), đầu tháng 8 ông di chuyển vào Nam và được thăng cấp Trung úy, phục vụ tại Phân khu Đồng Tháp Mười với chức vụ Trưởng phòng Hành quân, dưới quyền Đại tá Nguyễn Văn Là.

Quân lực Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tháng 11 năm 1955, ông được chuyển biên chế sang Quân lực Việt Nam Cộng hòa, kiêm nhiệm chức vụ Trưởng phòng 3 (Tác chiến) của Phân khu Đồng Tháp Mười. Năm 1956 ông tham gia Chiến dịch Thoại Ngọc Hầu do tướng Dương Văn Minh làm Tư lệnh để đánh dẹp lực lượng quân sự Phật giáo Hòa Hảo, và tướng Minh từng đến bắt tay ông tỏ lòng ngưỡng mộ.[6]

Cuối năm 1957 ông được cử đi du học khóa Chỉ huy Tham mưu sơ cấp tại tiểu bang Hawaii, Hoa Kỳ.[7] Ngày Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa 26 tháng 10 năm 1959, ông được thăng cấp Đại úy tại nhiệm. Tháng 11 năm 1961, ông chuyển về Bộ Tổng tham mưu, phục vụ trong Khối Lãnh thổ (Thời điểm này Tổng Tham mưu trưởng là Đại tướng Lê Văn Tỵ).

Sau Đảo chính 1963 ông được thăng cấp Thiếu tá giữ chức vụ phó phòng Nhân viên ở Khối lãnh thổ. Ngày Quân lực 19 tháng 6 năm 1968 ông được thăng cấp Trung tá lên làm trưởng phòng Nhân viên trong khối Lãnh thổ. Ngày Quốc khánh Đệ nhị Cộng hòa 1 tháng 11 năm 1972 ông được thăng cấp Đại tá, chuyển sang làm Chánh Văn phòng cho Tổng Tham mưu phó. Ông giữ chức vụ này cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. (Thời gian giữ chức Chánh văn phòng, trải qua 2 vị Tổng Tham mưu phó là Trung tướng Nguyễn Văn Là (1968-1974) và Trung tướng Nguyễn Văn Mạnh (1974-1975), Tổng Tham mưu trưởng là Đại tướng Cao Văn Viên)

Huy chương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương (tặng thưởng)
  • Một số huy chương quân sự, dân sự khác (tặng thưởng)

Sau 1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, vì là một sĩ quan cao cấp của chính thể cũ nên ông bị chính quyền mới bắt đi học tập cải tạo, bắt đầu từ trại Suối Máu (Biên Hòa), một thời gian sau thì bị đưa về giam ở khám Chí Hòa cho đến khi được trả tự do vào năm 1985. Tuy nhiên, khi có Chương trình Ra đi Có trật tự (ODP), ông không xin đi xuất cảnh mà ở lại Việt Nam sống thầm lặng cùng gia đình tại quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông qua đời vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 26 tháng 2 năm 2018 tại Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh.[1]

Hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay từ thập niên 1950 ông đã nổi tiếng khi là Trưởng Đoàn văn nghệ Vì Dân với thành phần ca nhạc sĩ tên tuổi như Mạnh Phát, Minh Kỳ, Hoài Linh, Thu Hồ, Quách Đàm, Minh Diệu, Khánh Ngọc và các nghệ sĩ danh tiếng như Kim Cương, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch, diễn viên điện ảnh Trang Thiên Kim,... Ông đã tổ chức và điều khiển các chương trình đại nhạc hội tại Sài Gòn và khắp các tỉnh của Việt Nam Cộng hòa.

Từ năm 1958 ông là Trưởng ban Ca nhạc Tiếng thời gian của Đài Phát thanh Sài Gòn, gồm những danh ca, nhạc sĩ danh tiếng như Lệ Thanh, Hà Thanh, Minh Diệu, Khánh Ngọc, Mạnh Phát, Thu Hồ, Quách Đàm, Anh Ngọc... Năm sau ông là Trưởng ban tổ chức Đại hội thi đua Văn nghệ toàn quốc ở cấp Quốc gia, đã quy tụ trên 40 Đoàn Văn nghệ đại diện cho cả miền Nam cùng tranh giải suốt 15 ngày đêm tại Sài Gòn. Ông cũng từng nhận giải Âm nhạc Quốc gia, một giải thường do bà Trần Lệ Xuân trao tặng.

Ông còn là Giám đốc hãng băng đĩa nhạc Continental và Sơn Ca, cộng tác với những nhạc sĩ tên tuổi như Lê Văn Thiện, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi, Y Vân,... Hai cơ sở của ông cho ra đời nhiều chương trình tân nhạc cũng như cổ nhạc gồm các vở tuồngcải lương. Ngoài ra ông đã có công phát hiện và đào tạo ca sĩ Thanh Tuyền khi cô còn là nữ sinh Đà Lạt tạo ra sự nghiệp lừng lẫy cho nữ danh ca sau này.

Nguyễn Văn Đông là người đã tiên phong thực hiện album riêng cho từng ca sĩ mà trước đó chưa từng ai làm. Ông đã thực hiện loạt băng nhạc Sơn Ca nổi tiếng trong đó có Khánh Ly với băng nhạc Sơn Ca 7, Thái ThanhBan Thăng LongSơn Ca 10, Lệ ThuSơn Ca 9, Phương DungSơn Ca 5Sơn Ca 11, Giao LinhSơn Ca 6, Sơn CaSơn Ca 8,... và một số album riêng cho Trịnh Công Sơn.

Nhiều sáng tác của ông viết về chủ đề người lính miền Nam thời đó. Nhạc phẩm "Phiên gác đêm xuân" được ông viết vào đêm 30 Tết Nguyên Đán năm 1956 khi gác phiên ở khu 9 Đồng Tháp Mười. "Chiều mưa biên giới" ra đời năm 1956 và nổi tiếng qua tiếng hát của Trần Văn Trạch. "Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp" nổi tiếng qua tiếng hát của Hà Thanh nhưng thường bị nhầm với nhạc phẩm "Khúc tình Kinh Kha" của Phạm Duy.

Ông còn có nhiều bút danh khác như Phượng Linh, Phương Hà trên một số nhạc phẩm tình cảm như "Khi đã yêu", "Thầm kín", "Niềm đau dĩ vãng", "Nhớ một chiều xuân"... Với bút danh Đông Phương TửPhượng Linh, ông đã viết nhạc nền và đạo diễn cho trên 50 vở tuồng, cải lương nổi tiếng ở Miền Nam trước năm 1975 như Nửa đời hương phấn, Đoạn tuyệt, Tiếng hạc trong trăng, Mưa rừng...

Ca sĩ trình bày thành công: Thanh Tuyền, Hà Thanh, Giao Linh.

Sau khi ông qua đời, Trung tâm Thúy Nga thực hiện chương trình Paris By Night 125 - Chiều Mưa Biên Giới để vinh danh dòng nhạc và tưởng niệm ông.[8]

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên tác phẩm Bút hiệu Chú thích
1
Anh
Nguyễn Văn Đông
2
Anh trước tôi sau
3
Áo trắng người yêu
4
Bà mẹ hai con
5
Bài ca hạnh phúc
6
Bến đò biên giới
7
Bông hồng cài áo trắng Khác với "Bông hồng cài áo" của Phạm Thế Mỹ
8
Chiều mưa biên giới
9
Cuốn theo chiều gió Khác với bài cùng tên của Anh Việt Thu
10
Cung thương ngày cũ Đồng sáng tác với Mạnh Phát
11
Dáng xuân xưa
12
Dù biết thế
13
Đêm buồn Đồng sáng tác với Lam Phương
14
Đôi bờ thương nhớ[a]
15
Hải ngoại thương ca Kính tặng Việt Kiều bốn phương Hải Ngoại hẹn về góp sức xây dựng quê hương giữa mùa núi sông Đại Hội
16
Hiến dâng
17
Hoa đêm
18
Hồi chuông kỉ niệm Đồng sáng tác với Song Ngọc
19
Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp
20
Khúc xuân ca
21
Lá thư người lính chiến
22
Mấy dặm sơn khê
23
Mùa sao sáng
24
Ngày mai anh về
25
Người tình yêu dấu
26
Nguyện cầu trên bến ngàn năm
27
Nếu có em bên anh
28
Nhớ một chiều xuân
29
Nhớ người viễn xứ Đồng sáng tác với Lâm Tuyền
30
Núi và gió
31
Phiên gác đêm xuân
32
Thu hoài cảm
33
Tình cố hương
34
Tình đầu xót xa
35
Trái tim Việt Nam
36
Truông mây
37
Về mái nhà xưa
38
Vô thường
39
Xin chúa thấu lòng con
40
Xuân tha hương Đồng sáng tác với Lâm Tuyền
41
Bóng nhỏ giáo đường
Phượng Linh
42
Cay đắng tình đời
43
Chiếc bóng công viên
44
Chuyện tình hoa Pensée
45
Cô nữ sinh Gia Long
46
Dạ sầu (Nỗi buồn duyên kiếp)
47
Đoàn chim cánh sắt Đồng sáng tác với Ngọc Sơn
48
Đom đóm
49
Đoạn tuyệt
50
Em vẫn của anh
51
Em yêu người lính chiến Đồng sáng tác với Thu Hồ
52
Khi đã yêu
53
Lời cuối cùng cho nhau
54
Lời giã biệt[b]
55
Mây chiều Đồng sáng tác với Mây Tần
56
Niềm đau dĩ vãng
57
Thầm kín (Bẽ bàng) Đồng sáng tác với Tuấn Khanh
58
Thương muộn
59
Thương về mùa đông biên giới
60
Tình người ngoại đạo
61
Rồi một đêm đó
62
Xin đừng trách anh
63
Hẹn ước đêm xuân
Hoài Phương
64
Chuyện người miền xa
65
Duyên thắm mộng lành
66
Lời hứa ban đầu
67
Màu hoa kỷ niệm
68
Màu xanh Noel
69
Mỗi độ xuân về
70
Ngỏ ý
71
Nỗi buồn sân ga
72
Nhật ký chúng mình
73
Người mang kỷ niệm
74
Trăng sáng miền địa đầu
75
Viễn xứ ca
76
Việt Nam hôm nay
77
Đồng Tháp duyên gì
Vì Dân
Đồng sáng tác với Minh Kỳ
79
Sắc hoa màu nhớ [c]
80
Chúc tết
Đông Phương Tử
81
Một lần đến thăm anh Viết lời tân cổ cho bài của Tuấn Hải.
82
Hái lộc đầu năm Viết lời tân cổ cho bài của Ngọc SơnTriết Giang.
83
Ave Maria
Nhạc của Franz Schubert
Soạn lời Việt
84
Đêm thánh huy hoàng Khác với bài "Đêm thánh vô cùng" do Hùng Lân soạn lời Việt dựa theo nhạc của nguyên tác bài "Silent Night"
85
Hồi chuông nửa đêm
Nguyên tác Jingle Bells của James Lord Pierpont
Soạn lời Việt

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bản in tờ nhạc năm 1959 ký tên Vì Dân - Nguyễn Văn Đông.
  2. ^ Có bản tờ nhạc ký tên Nguyễn Văn Đông.
  3. ^ Bản in năm 1961 ký tên Nguyễn Văn Đông.
  1. ^ a b c Quỳnh Nguyễn (ngày 27 tháng 2 năm 2018). “Tác giả 'Chiều mưa biên giới' qua đời ở tuổi 86”. Tuổi trẻ. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2018.
  2. ^ “Tác giả ca khúc Chiều Mưa Biên Giới qua đời ở Sài Gòn”. BBC. ngày 27 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2018.
  3. ^ a b Trường Kỳ (26 tháng 11 năm 2008). “Nguyễn Văn Đông: Giữa binh nghiệp và âm nhạc”. TiVi Tuần-san. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2012.
  4. ^ a b Du Tử Lê. “Binh nghiệp và nhạc nghiệp của Nguyễn Văn Ðông”. Người Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2012.
  5. ^ Sau Hiệp định Genève, trường chuyển cơ sở vào Sài Gòn và cải danh thành Trường Đại học Quân sự. Năm 1960 trường di chuyển lên Đà Lạt đổi tên thành Trường Chỉ huy và Tham mưu. Năm 1971, một lần nữa trường lại di chuyển cơ sở về Long Bình, Biên Hòa.
  6. ^ Bức ảnh chụp tướng Minh bắt tay ông đã được in trên trang nhất của báo Chiến sĩ Cộng hòa.
  7. ^ Trong thời gian này ông cho ra đời tác phẩm "Nhớ một chiều xuân".
  8. ^ “XEM SHOW THU HÌNH CỦA TRUNG TÂM THÚY NGA: "CHIỀU MƯA BIÊN GIỚI" GẮN LIỀN CÙNG NHẠC SĨ NGUYỄN VĂN ĐÔNG NGƯỜI CỰU TÙ SUỐI MÁU”.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân lực Việt Nam Cộng hòa.