Quan hệ Việt Nam - Đài Loan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quan hệ Đài Loan - Việt Nam
Bản đồ cho thấy vị trí của Đài Loan và Việt Nam

Đài Loan

Việt Nam

Quan hệ Việt Nam - Đài Loan là một mối quan hệ ngoại giao phi chính thức vì chính quyền Hà Nội giữ vững quan điểm một Trung Quốc và chỉ chính thức công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc. Tuy vậy vẫn có những chuyến viếng thăm song phương và những luồng di cư và dòng vốn đầu tư đáng kể giữa Đài LoanViệt Nam.[1] Đài Loan đã trở thành nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam năm 2006[2].

Quan hệ trước đây giữa Đài Loan và Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian tồn tại của mình, Việt Nam Cộng hòa công nhận Trung Hoa Dân quốc bởi hai quốc gia này có cùng chung chính sách chống cộng sản[3]. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã thiết lập mối quan hệ chính thức với chính quyền Đài Bắc năm 1955. Mối quan hệ giữa hai chính thể này khá thân thiết, gần gũi hơn nhiều so với quan hệ của Đài Loan với các nước khác ở Đông Nam Á. Đài Bắc tiếp đón nhiều chuyến thăm cấp tổng thống từ miền nam Việt Nam hơn bất cứ quốc gia nào khác trong khu vực.[4]

Các sinh viên từ miền nam Việt Nam đã đến Đài Loan du học và chính quyền Đài Bắc cũng có nhiều hỗ trợ vật chất và hậu cần cho chính quyền Sài Gòn trong cuộc chiến tại Việt Nam.[5] Đài Loan đã nỗ lực truyền thụ cho các nước Đông Nam Á về những kinh nghiệm cay đắng và hiếm có trong vấn đề chống cộng, và Việt Nam Cộng hòa chính là người nhận được nhiều bài học nhất. Đại sứ Trung Hoa Dân Quốc tại Sài Gòn từ 1964 đến tận 1972 là Hồ Liên, tướng của Quốc quân Trung Hoa Dân quốc có nhiều kinh nghiệm quân sự từ cuộc Nội chiến Quốc-Cộng[6]. Đài BắcSài Gòn từng là hai thành phố kết nghĩa.[7] Tuy vậy mối quan hệ này đôi khi trở nên căng thẳng, đặc biệt là vấn đề Hoa kiều tại Việt Nam khi mà phần nhiều trong số họ vẫn giữ quốc tịch Trung Quốc; chính quyền Đài Bắc cảm thấy bị xúc phạm vì Việt Nam Cộng hòa ước tính dân số Hoa kiều thấp[8]. Ngay trước khi Sài Gòn thất thủ, tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu đã bỏ trốn đến Đài Bắc nơi anh trai ông đang làm đại sứ. Một máy bay của hãng hàng không miền nam Việt Nam Air Viet Nam đã bị bỏ lại sân bay Tùng Sơn Đài Bắc và rốt cuộc trở thành tài sản của hãng hàng không sở tại[5].

Đổ vỡ và xây dựng lại quan hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi đồng minh Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, chính quyền Đài Bắc ban đầu duy trì một chính sách không quan hệ với Việt Nam, thậm chí không có hoạt động thương mại tư nhân và liên lạc bưu chính. Đài Loan đã không tận dụng được lợi thế khi quan hệ giữa hai chính phủ Hà Nội và Bắc Kinh đã xấu đi nhanh chóng kể cả trong chiến tranh Việt-Trung lẫn giai đoạn hậu chiến. Về phần mình, Việt Nam cũng giống như các quốc gia xã hội chủ nghĩa khác, đã thể hiện sự không bằng lòng với Bắc Kinh trong quan hệ đối ngoại bằng cách đứng về phía Liên Xô, kình địch của Trung Quốc trong khối Cộng sản; đối với một quốc gia xã hội chủ nghĩa việc có liên lạc với Đài Loan tư bản là điều không tưởng. Tuy nhiên vào cuối những năm 1980, khi chiến tranh Lạnh tan băng, quan hệ giữa hai chính quyền Hà Nội và Đài Bắc dần dần được khôi phục; thực tế, các nhà quan sát xem đây là một trong những sự kiện quan trọng cho thấy dấu hiệu kết thúc chiến tranh Lạnh trong khu vực[9].

Viếng thăm song phương[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay Trương Trung Mưu bay đến Hà Nội

Năm 2006, chủ tịch công ty sản xuất chất bán dẫn Đài Loan Trương Trung Mưu tới Hà Nội với vai trò đại diện đặc biệt của Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc khi đó là Trần Thủy Biển tại Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương. Một cách bất thường, Trương Trung Mưu bay đến Hà Nội bằng máy bay riêng của Tổng thống Trần Thủy Biển, một chiếc Boeing 737-800 do Không quân Trung Hoa Dân Quốc điều khiển. Chiếc máy bay có sơn quốc huyquốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc vốn trước đó chưa bao giờ được phép hạ cánh xuống quốc gia mà Đài Loan không có quan hệ chính thức.[10]

Đầu tư[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một công cụ chính trị quan trọng của Đài Loan. Theo Samuel Ku, Đài Bắc sử dụng "những nguồn lực kinh tế của hòn đảo để đổi lấy lợi ích chính trị từ Việt Nam".[11]. Ngay từ ngày đầu Đổi Mới, Việt Nam đã rất quan tâm học hỏi kinh nghiệm của Đài Loan đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm làm giảm bớt sự thiếu hụt kinh niên hàng hóa tiêu dùng của chính Việt Nam[12]. Tính đến 2006, các nhà đầu tư đến từ Đài Loan đã đầu tư 8 tỷ Đô la Mỹ vào Việt Nam, đặc biệt là vào thiết bị và công trình phục vụ các ngành sản xuất thâm dụng lao động tại các khu chế xuất. Mức đầu tư này đã biến Đài Loan trở thành nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất của Việt Nam vào năm 2006.[5]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Dang 2011, tr. 32
  2. ^ Tran 2011, tr. 16
  3. ^ Ku 1999, tr. 406
  4. ^ Chen 2002, tr. 62
  5. ^ a ă â “Taiwan-Vietnam ties are looking better than ever”, China Post, 20 tháng 11 năm 2006, truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2011 
  6. ^ Chen 2002, tr. 60-61
  7. ^ Chen 2002, tr. 132
  8. ^ An 1967
  9. ^ Chen 2002, tr. 65
  10. ^ Engbarth, Dennis (17 tháng 11 năm 2006), “Morris Chang arrives in Hanoi for APEC”, Taiwan News, truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2011 
  11. ^ Ku 1999, tr. 405
  12. ^ Chen 2002, tr. 146

Sách báo[sửa | sửa mã nguồn]