Phế phi họ Doãn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Tề Hiến Vương hậu)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phế phi Doãn thị
Vương hậu Triều Tiên
Vương hậu nhà Triều Tiên
Tại vị 9 tháng 8, 1476 - 1 tháng 6, 1477
Thông tin chung
Phu quân Triều Tiên Thành Tông
Thân phụ Doãn Khởi Quyến (尹起畎)
Thân mẫu Cao Linh Thân thị
Sinh 15 tháng 7, 1455
Hàm An
Mất 16 tháng 8, 1482
Tư gia ở Hàm An
An táng Tây Tam lăng (西三陵), Goyang, tỉnh Gyeonggi.

Phế phi Doãn thị (chữ Hán: 废妃尹氏, Hangul: 폐비윤씨; 15 tháng 7, 1455 - 16 tháng 8, 1482), đôi khi còn gọi là Tề Hiến vương hậu (齊獻王后), là vị Vương phi tại vị thứ 2 của Triều Tiên Thành Tông Lý Huyện, mẹ ruột của Yên Sơn Quân.

Tuy nhiên về sau bà bị phế truất và lưu đày nên còn được gọi là Phế phi (废妃). Bà là vị Vương phi đầu tiên của nhà Triều Tiên bị phế truất. Cái chết của bà có ảnh hưởng rất lớn đến việc Yên Sơn Quân trở thành một bạo chúa.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Phế phi Doãn thị là người quận Hàm An, thuộc gia tộc Hàm An Doãn thị (咸安尹氏), hậu duệ đời thứ 11 của tướng quân Doãn Quán (尹瓘). Tuy nhiên, đến đời của bà thì gia cảnh sa sút bần cùng. Sau khi cha qua đời, mẹ bà đưa bà tiến cung, tham gia đợt Hậu cung giản trạch (後宮揀擇).

Năm 1473, bà được phong tước Thục nghi (淑儀), đứng hàng tòng nhị phẩm trong Nội mệnh phụ. Tương truyền, bà là người có nhan sắc diễm lệ nên rất được Thành Tông sủng ái. Năm 1474, Cung Huệ vương hậu Hàn thị qua đời, ngôi Chính phi bỏ trống, Thành Tông sủng ái Doãn thục nghi nên đợi sau khi quốc tang sẽ dự định sắc lập bà lên ngôi trung điện.

Năm 1476, ngày 9 tháng 8, Doãn Thục nghi được tấn phong Vương phi. Tháng 11 năm đó, bà hạ sanh Vương tử Lý Long (李㦕), về sau chính là Yên Sơn Quân. Ngay vừa khi sinh, Lý Long đã được chọn làm Nguyên tử (元子), dự định kế vị chức Vương thế tử.

Vương phi Doãn thị được lập làm Chánh thất nhờ vẻ đẹp của mình, tuy nhiên bà lại được lịch sử ghi chép là có tính hay ghen với các người thiếp khác của Thành Tông. Tương truyền bà thường hay mang theo người tì sương, một chất kịch độc nhằm sát hại phi tần, cung nhân của Thành Tông. Bên cạnh đó, bà còn xung khắc với Nhân Túy Đại phi Hàn thị, mẹ đẻ của nhà vua. Do nhà vua chịu ảnh hưởng rất lớn từ phía mẹ đẻ nên bà ngày càng bị ghẻ lạnh. Một vài tài liệu tham khảo, không thể kiểm chứng còn cho rằng bà đã đầu độc một hậu cung vào năm 1477 làm vị hậu cung này mất đi long thai và dùng bùa ếm cả Đại phi.

Tháng 3, năm 1477, với lý do tàng trữ độc dược và tà thư trong buồng ngủ nên bà bị Thành Tông giáng làm Tần (嬪)[1]. Mặc cho các đại thần như Lư Tư Thận (盧思慎), Nhậm Sĩ Hồng (任士洪), Thẩm Quái (沈澮), Lý Thừa Triệu (李承召)... v.v. ra sức can ngăn, vì có ảnh hưởng đến vị thế của Nguyên tử Lý Long[2]. Cuối cùng, nhà vua mới thu hồi mệnh lệnh này.

Ngày 1 tháng 6, năm 1479, nhân ngày sinh nhật của Vương phi Doãn thị, nhà vua ghé lại nơi bà ở. Khi cơn ghen tuông lên tới cực điểm, Doãn thị đã vô tình làm Thành Tông bị thương và để lại một vết sẹo trên má ông, mặc dù ông rất cố gắng che giấu, nhưng Đại phi vẫn phát hiện ra và ra lệnh điều tra. Ngày hôm sau, bà bị phế truất làm thứ nhân (dân thường)[3] và phải sống lưu đày. Tình hình còn trở nên tồi tệ hơn khi ngày 12 tháng 6 năm đó, người con trai bé do bà sinh hạ cũng chết[4]. Tháng 11 năm sau, Thành Tông lập người cùng nhập cung một ngày với bà là Thục nghi Doãn thị (tức Trinh Hiển Vương hậu) làm Vương phi. Như thế hy vọng phục vị của bà đã tan biến.

Mặc dù bà đã bị phế làm thứ nhân, nhưng Thành Tông vẫn lo sợ sau khi mình chết thì bà với tư cách là mẹ đẻ của vị vua mới sẽ gây ra nhiều điều nguy hại cho xã tắc. Ngày 16 tháng 8, năm 1482, nhà vua quyết định sai Tả thừa chỉ Lý Thế Tá (李世佐) tới nhà riêng của bà để ban chết cho bà bằng thuốc độc. Tuy vậy vào năm 1489, Thành Tông vẫn ban chiếu chỉ cho bà được hưởng các nghi lễ cúng tế dành cho phi tần[5]. Năm sau, con trai bà Lý Long được phong làm Thế tử.

Năm 1494, Thế tử Lý Long kế vị sau khi Thành Tông qua đời, tức Yên Sơn Quân. Nhà vua kế vị mà không biết bất cứ một chuyện gì về cái chết của mẹ mình. Sau này, một số đại thần thất đã cho ông biết sự thật. Vì căm hận những người gây nên cái chết của bà, Yên Sơn Quân trực tiếp ra lệnh thực hiện hai cuộc thanh trừng nho sĩ lớn nhất Mậu Ngọ sĩ họa (Muo Sahwa, 무오사화) và Giáp Tý sĩ họa (Kapcha Sahwa, 갑자사화), để trả thù cho mẹ mình. Ông sát hại 2 hậu cung của cha ông là Nghiêm quý nhân và Trịnh quý nhân, vì cho rằng 2 người là một trong những chủ mưu sát hại mẹ của mình, thậm chí ông còn cố ý xông vào nội điện của Nhân Túy đại vương đại phi, nói lời hỗn xược khiến Đại phi tức giận và trở bệnh, qua đời vào năm 1504. Đức vua còn có ý giết hại đích mẫu Trinh Hiển vương hậu, nhưng do Vương phi Thận thị, chính thất của ông, kịp thời ngăn cản. Việc ông trở thành một bạo chúa và cái chết của Phế chúa Yên Sơn phần lớn từ nguyên nhân cái chết của bà.

Năm 1504, Yên Sơn Quân truy phong Doãn thị là Tề Hiến vương hậu (齊獻王后). Năm 1506, đời vua Trung Tông, tước hiệu của bà bị phế bỏ. Mộ phần của bà hiện nay là Tây Tam lăng (西三陵), ở Goyang, tỉnh Gyeonggi.

Phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jang Seo Hee (장서희, Trương Thụy Hi) đóng trong phim "Hàn minh quái" (한명회, Han Myung Hoe), sản xuất năm 1994, trình chiếu trên KBS2.
  • Kim Seong-ryeong (김성령, Kim Thành Linh) đóng trong phim "Vương dữ phi" (왕과비, Wang Gwa Bi), sản xuất 1998, trình chiếu trên KBS1.
  • Park Bo-young (박보영, Phác Bảo Anh, vai thời niên thiếu) và Gu Hye-seon (구혜선, Cụ Huệ Thiện) trong phim "Bí mật nội phủ" (왕과나, Wang Gwa Na), sản xuất năm 2007, trình chiếu trên SBS, tên trong phim của nhân vật là Yun So-hwa (윤소화, Doãn Tố Hoa).
  • Ji Jin-hee (진지희, Trần Trí Hi, vai thời niên thiếu) và Jeon Hye-bin (전혜빈, Toàn Tuệ Bân) trong phim "Nhân Túy Đại phi" (인수대비, Insoo Dae-bi), sản xuất năm 2011, trình chiếu trên JTBC.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Triều Tiên vương triều thực lục - Thành Tông thực lục - quyển 78: Thành Tông năm thứ 8, ghi chép ngày 30 tháng 3, đoạn 1.
  2. ^ Triều Tiên vương triều thực lục - Thành Tông thực lục - quyển 78: Thành Tông năm thứ 8, ghi chép ngày 30 tháng 3, đoạn 3.
  3. ^ Triều Tiên vương triều thực lục - Thành Tông thực lục - quyển 105: Thành Tông năm thứ 10, ghi chép ngày 02 tháng 6, đoạn 1.
  4. ^ Triều Tiên vương triều thực lục - Thành Tông thực lục - quyển 105: Thành Tông năm thứ 10, ghi chép ngày 12 tháng 6, đoạn 3.
  5. ^ Triều Tiên vương triều thực lục - Thành Tông thực lục - quyển 228: Thành Tông năm thứ 20, ghi chép ngày 20 tháng 5, đoạn 7.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]