Vô thượng hoàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Thiên hoàng Shirakawa, vị Vô Thượng hoàng trong thời Thiên hoàng TobaThiên hoàng Sutoku.

Vô thượng hoàng (chữ Hán: 无上皇) là một danh xưng không chính thức cao nhất dành cho một vị vua trong lịch sử phong kiến các nước Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật BảnViệt Nam. Danh hiệu này được tôn phong khi Hoàng đế nhường ngôi cho Thái tử trong giai đoạn Thái thượng hoàng vẫn còn sống và đang trị vì, khi đó Thái thượng hoàng được tôn lên làm Vô Thượng hoàng.

Nói cách khác Vô Thượng Hoàng có thể là cha của Thái thượng hoàng, ông nội của Hoàng đế hoặc là bề trên của Thái thượng hoàng và Đương kim Hoàng đế. Trong lịch sử các quốc gia đồng văn Đông Á, ngoại trừ chế độ của Nhật Bản thì còn lại rất hiếm có trường hợp hi hữu này, nên danh vị Vô Thượng hoàng chỉ là một khái niệm, chứ không phải danh hiệu chính thức có quy định.

Danh sách Vô thượng hoàng[sửa | sửa mã nguồn]

Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 576, quân Bắc Chu công hãm kinh thành, Bắc Tề Hậu Chủ Cao Vĩ trên đường rút lui đã trao lại ngai vàng cho Thái tử Cao Hằng. Năm 577, Bắc Tề Thái thượng hoàng Cao Vĩ hạ lệnh cho Bắc Tề Ấu Chủ Cao Hằng nhường lại ngôi vị cho Nhiệm Thành Vương Cao Dai, sau đó ông cùng Cao Hằng bỏ chạy trước sự truy kích của đối phương.

Như vậy, Bắc Tề Hậu Chủ là vị Vô thượng hoàng duy nhất trong lịch sử các vương triều phong kiến Trung Quốc, tuy nhiên khi ấy thời loạn lạc, ông không hẳn có danh vị chính thức[1][2][3]

Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử Nhật Bản, do số lượng Thái thượng Thiên hoàng (còn gọi là Pháp Hoàng) truyền ngôi trong lúc còn rất trẻ trong khi vị Thái thượng Thiên hoàng trước đó vẫn còn tại vị rất nhiều. Thậm chí có một lúc là hai vị Vô Thượng hoàng, tức là một lúc đó có tới 4 vị Thiên Hoàng. Truyền thống hoàng gia Nhật Bản lại xưng Viện (院), do đó các Thái thượng Thiên hoàng được phân thành viện.

Khi có một lúc 3 vị tiền nhậm Thiên Hoàng:

  1. Tiên tiên tiên nhậm Thiên Hoàng: Nhất viện (一院; hoặc Bản viện; 本院), tức là Vô Thượng hoàng thứ hai.
  2. Tiền tiền nhiệm Thiên hoàng: Trung viện (中院), tức là Vô Thượng hoàng thứ nhất.
  3. Tiền nhiệm Thiên hoàng: Tân viện (新院), tức là Thái Thượng hoàng.

Khi có hai vị Thiên Hoàng:

  1. Tiền tiền nhiệm Thiên hoàng: Nhất viện (一院; hoặc Bản viện; 本院), tức là Vô thượng hoàng.
  2. Tiền nhiệm Thiên hoàng: Tân viện (新院), tức là Thái Thượng hoàng.
Danh sách các vị Vô Thượng hoàng
  1. Năm 1087, Thiên hoàng Shirakawa nhường ngôi cho con trai là Thân vương Taruhito, được tôn hiệu là Thái thượng Thiên hoàng. Năm 1096, ông xuất gia làm sư, được tôn xưng là Thái thượng Pháp hoàng.[4] Năm 1107, Thiên hoàng Horikawa băng hà, Pháp hoàng Shirakawa đưa cháu nội mới 5 tuổi lên kế vị, hiệu là Thiên hoàng Toba. Năm 1123, Pháp hoàng Shirakawa ép Thiên hoàng Toba phải nhường ngôi cho con trai mới 5 tuổi, Thân vương Akihito, hiệu là Thiên hoàng Sutoku. Như vậy, Pháp hoàng Shirakawa nghiễm nhiên đã trở thành Vô thượng hoàng cho đến lúc băng hà vào năm 1129[5].
  2. Năm 1158, Thiên hoàng Go-Shirakawa chưa đầy 4 năm đã thoái vị, nhường ngôi cho con trưởng là Thân vương Morihito rồi lui về làm Thái thượng Thiên hoàng. [6][7]Năm 1165, Thiên hoàng Nijō truyền ngôi vị cho con là Hoàng tử Yorihito rồi lui về hậu cung.[8][9][10] Như vậy, Thái thượng Thiên hoàng Go-Shirakawa nghiễm nhiên trở thành Vô thượng hoàng, tuy nhiên Thượng hoàng Morihito chỉ tại vị một tháng thì băng hà. Năm 1168, Vô thượng hoàng Go-Shirakawa ép Thiên hoàng Rokujō [11][12] nhường ngôi cho người con thứ 7 của mình là Thân vương Norihito[13] sau đó ông xuất gia nên được tôn xưng Vô thượng Pháp hoàng, Thượng hoàng Rokujō giữ ngôi được 8 năm thì tạ thế. Năm 1180, Thiên hoàng Takakura nhường ngôi lại cho Thân vương Tokihito rồi lui về là Thái thượng Thiên hoàng, một năm sau ông mất[14][15][16]Như vậy, Vô thượng Pháp hoàng duy trì ngôi vị suốt 2 đời Thái thượng Thiên hoàng nhưng 2 vị kia đều mất trước, ông được tôn là Bản viện Thái thượng Thiên hoàng.
  3. Năm 1274, Thiên hoàng Kameyama Tsunehito thoái vị nhường ngôi cho con trai thứ 2 là Thân vương Yohito để lên làm Thái thượng Thiên hoàng.[17][18] Năm 1287, Thiên hoàng Go-Uda, do áp lực của Mạc phủ Kamakura đành phải thoái vị nhường ngôi cho Thái tử, vốn thuộc dòng Jimyōin, là Thân vương Hirohito, để lên làm Thái thượng Thiên hoàng, như vậy Thượng hoàng Kameyama nghiễm nhiên trở thành Vô thượng hoàng.[19][20] Năm 1289, ông xuất gia được tôn làm Vô thượng Pháp hoàng. Năm 1298, Thiên hoàng Fushimi Hirohito thoái vị nhường ngôi cho cho con trai cả là Thái tử Thân vương Tanehito, để lên làm Thái thượng Thiên hoàng[21][22]. Vậy là Vô thượng Pháp hoàng Kameyama trở thành vị Vô thượng hoàng thứ hai tức Bản viện Thái thượng thiên hoàng, còn Thượng hoàng Go-Uda thì trở thành vị Vô thượng hoàng thứ nhất tức Trung viện Thái thượng thiên hoàng.[23][24] Năm 1301, thế lực của dòng Daikakuji trỗi dậy, gây áp lực cho cha con Thiên hoàng Go-Fushimi Tanehito, buộc phải thoái vị nhường ngôi cho Thân vương Kuniharu, một người thuộc dòng Daikakuji, trở thành Thái thượng Thiên hoàng. Như vậy Bản viện Thái thượng thiên hoàng Kameyama trở thành Tiền tiền tiên tiên nhiệm Thiên hoàng tức Vô thượng hoàng thứ ba cho đến lúc qua đời vào năm 1305, hưởng thọ 56 tuổi.[25]
  4. Năm 1301, sau khi Thiên hoàng Go-Fushimi Tanehito thoái vị trở thành Thái thượng Thiên hoàng thì Vô thượng hoàng thứ nhất Go-Uda nghiễm nhiên trở thành vị "Vô thượng hoàng thứ hai" tức Bản viện Thái thượng thiên hoàng, còn Thái thượng thiên hoàng Fushimi ngồi vào vị trí Vô thượng hoàng thứ nhất tức Trung viện Thái thượng thiên hoàng. Năm 1313, Trung viện Thái thượng thiên hoàng Fushimi xuất gia tu hành[26] nên còn gọi là Trung viện Vô thượng Pháp hoàng. Ông duy trì ngôi vị cho đến lúc qua đời năm 1317, thọ 52 tuổi.[27]
  5. Năm 1318, thế lực của dòng Daikakuji một lần nữa trỗi dậy, gây áp lực cho anh em Thiên hoàng Hanazono Tomihito, buộc phải thoái vị nhường ngôi cho Thân vương Takaharu[28][29], một người thuộc dòng Daikakuji, trở thành Thái thượng Thiên hoàng. Bấy giờ, Trung viện Vô thượng Pháp hoàng Fushimi đã viên tịch mà Bản viện Thái thượng thiên hoàng Go-Uda vẫn đang tại thế. Tuy Trung viện Thái thượng thiên hoàng không còn nhưng địa vị Bản viện Thái thượng thiên hoàng của ông vẫn được giữ nguyên cho đến lúc qua đời năm 1324, thọ 58 tuổi.[30][31]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử Việt Nam không có Vô thượng hoàng, theo chế độ nhà Trần khi Thái thượng hoàng mất thì đương kim hoàng thượng mới thực hiện việc nhường ngôi. Nhà Hồnhà Mạc còn chưa kịp ổn định tình hình chính trị đã tán vong, nhà Lê trung hưng bị quyền thần lấn lướt nên không thể tự quyết việc nhường ngôi khi Thái thượng hoàng đang tại vị.

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1408, Triều Tiên Thái Tổ Lý Thành Quế bị người con thứ 5 là Lý Phương Viễn ép phải nhường ngôi cho con trai thứ 2 là Lý Phương Quả, hai năm sau Lý Phương Quả tuyên bố nhượng vị cho Lý Phương Viễn, tức Triều Tiên Thái Tông. Triều Tiên bởi xưng thần với nhà Minh nên chỉ có tước Vương, do đó gọi là Triều Tiên Thái Tổ được tôn xưng là Vô thượng vương[32][33].
  • Năm 1418, sau cái chết của Vô thượng vương Lý Thành Quế, Triều Tiên Thái Tông Lý Phương Viễn tuyên bố nhường ngôi cho người con trai thứ ba là Lý Tạo để lui về làm Thái thượng vương, do đó đương kim Thái thượng vương Lý Phương Quả trở thành Vô thương vương thứ hai của nhà Triều Tiên[34][35].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bắc Tề thư, quyển 8
  2. ^ Thông giám, quyển 172
  3. ^ Kể chuyện Lưỡng Tấn Nam Bắc triều, mục 53
  4. ^ Quốc sử lược, đời 72
  5. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 44
  6. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 77
  7. ^ Quốc sử lược, đời 77
  8. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 78
  9. ^ Quốc sử lược, đời 78
  10. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 50
  11. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 79
  12. ^ Quốc sử lược, đời 79
  13. ^ Đại Nhật Bản sử, Bản kỷ quyển 51
  14. ^ Đại Nhật Bản sử, quyển 52
  15. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 80
  16. ^ Quốc sử lược, đời 80
  17. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 90
  18. ^ Quốc sử lược, đời 90
  19. ^ Đại Nhật Bản sử, Bản kỷ quyển 63
  20. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 91
  21. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 92
  22. ^ Quốc sử lược, đời 92
  23. ^ Ponsonby-Fane, sđd, tr.422
  24. ^ Varley, pp.232-233
  25. ^ Titsingh, pp.253-261
  26. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Titsingh279
  27. ^ Varley, sđd, tr.241
  28. ^ Đại Nhật Bản sử, Bản kỷ quyển 67
  29. ^ Nhật Bản quốc sử lược, đời 95
  30. ^ Varley, sđd, tr.237
  31. ^ Titsingh, pp.262-269
  32. ^ Triều Tiên sử, quyển 1 mục Thái Tổ
  33. ^ Trung Hoa võng luận vân, Triều Tiên Định Tông
  34. ^ Triều Tiên sử, quyển 1 mục Thái Tông
  35. ^ Trung Hoa võng luận vân, Triều Tiên Thái Tông

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]