Alexandr Isayevich Solzhenitsyn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

(đổi hướng từ Alexander Solzhenitsyn)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Aleksandr Solzhenitsyn

Aleksandr Solzhenitsyn
Sinh ngày: 11 tháng 12, 1918 (89 tuổi)
tại Kislovodsk, Nga
Nghề nghiệp: Nhà văn
Tác phẩm chính: Một ngày của Ivan Denisovich
Huy chương giải Nobel

Alexandr Isayevich Solzhenitsyn (tiếng Nga: Алекса́ндр Иса́евич Солжени́цын, sinh ngày 11 tháng 12 năm 1918) – nhà văn, nhà viết kịch người Nga đoạt giải Nobel Văn học năm 1970.

[sửa] Tiểu sử

Alexandr Isayevich Solzhenitsyn sinh ở Kislovodsk, vùng bắc Kakage. Bố mất khi Solzhenitsyn chưa sinh, mẹ đi làm nghề đánh máy để nuôi con. Năm 1925 hai mẹ con chuyển về thành phố Rostov trên sông Đông. Từ năm 1926 đến 1936 học ở trường phổ thông thường bị bạn bè chế diễu vì đeo thập tự và không muốn vào Đội thiếu niên Lenin. Sau đó, nghe theo lời khuyên của các thầy cô giáo, Solzhenitsyn đã tiếp nhận lý tưởng cách mạng, năm 1936 vào Đoàn thanh niên cộng sản Komsomol. Từ nhỏ Solzhenisyn đã muốn trở thành nhà văn nhưng có năng khiếu toán học nên năm 1936 ông theo học khoa Toán trường Đại học Rostov để sau này dễ kiếm việc làm. Những năm học ở Đại học Rostov, Solzhenitsyn luôn là sinh viên xuất sắc, được nhận học bổng Stalin.

Năm 1937 ông lý tưởng hóa cách mạng, đã từng dự định viết tiểu thuyết về Thế chiến I với tên Hãy yêu cách mạng. Năm 1939 ông tham gia lớp học hàm thụ ở Đại học Triết - Văn - Sử Moskva danh tiếng thời đó. Năm 1941 tốt nghiệp Đại học Rostov, nhập ngũ và được thưởng 2 huân chương với quân hàm đại úy. Thời gian này A. Solzhenisyn đã sáng tác một số tác phẩm, trong nhận thức và tư tưởng bắt đầu có những thay đổi. Tháng 7 năm 1945 ông bị kết án tù 8 năm vì một bức thư viết gửi bạn bày tỏ quan điểm chống lại chủ nghĩa Stalin. Những năm tháng tù đày, đi qua nhiều nơi trên đất nước đã giúp ông sau này có được chất liệu sống thực cho những tác phẩm của mình. Năm 1952 ông bị ung thư phải mổ nhưng nhờ điều thần kì đã qua khỏi. Stalin mất, ông được phục hồi, về sống ở Moskva đến năm 1957 rồi đi Riazan dạy học. Trong thời gian này ông bắt đầu viết tiểu thuyết Tầng đầu địa ngục (1955-1968) và in truyện vừa đầu tiên Một ngày trong đời của Ivan Denisovich (1958) cùng một số tác phẩm khác đã khiến ông rất nổi tiếng, đến mức được đề cử nhận giải thưởng Lenin.

Năm 1967, sau khi A. Solzhenisyn gửi một bức thư ngỏ đến Đại hội nhà văn Liên Xô phản đối chế độ kiểm duyệt, ông bị chính quyền và báo chí phê phán kịch liệt, bị khai trừ khỏi Hội nhà văn, bị cấm in sách. Một số tác phẩm của ông không được in ở trong nước nhưng có người đem in ở nước ngoài mà không xin phép ông như Tầng đầu địa ngục, Trại ung thư, Tháng 8 năm 1914, điều này càng khiến chính quyền Xô Viết phản ứng nhưng ông được nhiều người biết đến, nhất là những gì ông viết ra đã cho thấy ông là một nhà văn có cái nhìn sắc bén về thời đại ông đang sống.

Năm 1970, A. Solzhenisyn được tặng giải Nobel nhưng ông không đến Thụy Điển nhận lễ trao giải vì sợ sau đó không trở về nước được; hai năm sau ông mới đến nhận giải và đọc Diễn từ. Năm 1974, sau khi công bố bản tuyên ngôn Sống không dối trá và cho in tác phẩm Quần đảo GulagParis, A. Solzenitsyn bị bắt, bị nhà nước Liên Xô tước quyền công dân và bị trục xuất sang Tây Đức, sau đó ông định cư ở Mỹ. Năm 1991, sau thời cải tổ, chính quyền Liên Xô chính thức xóa án cho ông. Tháng 5 năm 1994 ông trở về sống ở Nga. Năm 2006 ông được tặng giải thưởng nhà nước của Liên bang Nga vì những đóng góp xuất sắc trong hoạt động nhân đạo.

[sửa] Tác phẩm

  • Viên trung úy (Лейтенант, 1945), truyện ngắn.
  • Ở thành phố M. (В городе М., 1945), truyện ngắn.
  • Bức thư số 254 (Письмо № 254, 1945), truyện ngắn.
  • Khóa 6 (Шестой курс, 1945), truyện vừa.
  • Một ngày của Ivan Denisovich (Один день Ивана Денисовича, 1958), truyện vừa
  • Chuyện ở ga Kotretovka (Случай на станции Кочетовка, 1963), truyện ngắn.
  • Ngôi nhà Matriona (Матренин двор, 1963), truyện ngắn.
  • Vì lợi ích công việc (Для пользы дела, 1963), truyện ngắn
  • Zakhar - Kalita (Захар-Калита, 1966), truyện ngắn
  • Xe tăng biết sự thật! (Знают истину танки!, 1963-1967), kịch.
  • Ngọn nến trước gió (Свеча на ветру, 1963-1967), kịch.
  • Ánh sáng ở trong ngươi (Свет, который в тебе, 1963-1967), kịch.
  • Vòng đầu (В круге первом, 1955-1968), tiểu thuyết
  • Khu ung thư (Раковый корпус, 1968), tiểu thuyết
  • Tháng 8 năm 1914 (Август четырнадцатого, 1971, Paris), truyện dài.
  • Quần đảo Gulag (Архипелаг ГУЛаг, in năm 1973, Paris, năm 1990 ở Nga), khảo cứu
  • Sống không dối trá (Жить не по лжи, 1975), tiểu luận.
  • Bánh xe đỏ (Красное колесо, 1971-1991), tiểu thuyết lịch sử, 10 tập
  • Bê con húc cây sồi (Бодался телёнок с дубом, in 1975, Paris, 1991 ở Nga), tự truyện

[sửa] Liên kết ngoài

Công cụ cá nhân