Bản danh sách của Schindler

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Schindler's List
Áp phích phim tại các rạp
Thông tin phim
Đạo diễn Steven Spielberg
Sản xuất
Kịch bản Steven Zaillian
Dựa trên Schindler's Ark  của
Thomas Keneally
Diễn viên
Âm nhạc John Williams
Quay phim Janusz Kamiński
Dựng phim Michael Kahn
Hãng sản xuất Amblin Entertainment
Phát hành Universal Pictures
Công chiếu 30 tháng 11, 1993 (1993-11-30) (Washington, D.C.)
15 tháng 12, 1993 (1993-12-15) (Hoa Kỳ)
Độ dài 197 phút[1]
Quốc gia
  • Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Kinh phí 22 triệu USD[2]
Doanh thu 321,2 triệu[3]

Bản danh sách của Schindler là một bộ phim chính kịch lịch sử của Hoa Kỳ, do Steven Spielberg làm đạo diễn kiêm đồng sản xuất và Steven Zaillian viết kịch bản. Phim dựa theo cuốn tiểu thuyết Schindler's Ark của Thomas Keneally, một tiểu thuyết gia người Úc. Bộ phim dựa trên cuộc đời của Oskar Schindler, một doanh nhân người Đức đã cứu sống hơn một nghìn người, trong đó phần lớn là người Do Thái gốc Ba Lan tị nạn trong thời kỳ phát xít Đức tàn sát người Do Thái bằng cách thuê họ vào làm trong các nhà máy của ông. Phim có sự tham gia của Liam Neeson trong vai Schindler, Ralph Fiennes trong vai sĩ quan Schutzstaffel (SS) Amon Goeth, và Ben Kingsley trong vai kế toán người Do Thái của Schindler Itzhak Stern.

Ý tưởng sản xuất một bộ phim nói về Schindlerjuden (những người Do Thái của Schindler) được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1963. Poldek Pfefferberg, một trong số những người Schindlerjuden, xác định rằng sứ mệnh của cuộc đời mình là phải kể lại câu chuyện của Schindler cho hậu thế. Spielberg tỏ ra hứng thú với kịch bản này sau khi nhà điều hành Sid Sheinberg gửi cho ông một bản nhận xét cuốn sách Schindler's Ark. Universal Studios mua bản quyền chuyển thể điện ảnh của cuốn tiểu thuyết, tuy nhiên Spielberg, ban đầu còn lo ngại ông chưa đủ tự tin để làm một bộ phim về thời kỳ tàn sát người Do Thái, tìm cách đẩy dự án sang cho một số đạo diễn khác trước khi quyết định tự tay đạo diễn bộ phim này.

Quay phim tiền kỳ diễn ra tại Kraków, Ba Lan trong vòng 72 ngày của năm 1993. Spielberg quay bộ phim dưới định dạng đen trắng và coi đó là một bộ phim tài liệu. Nhà quay phim Janusz Kamiński muốn mang lại cho tác phẩm điện ảnh này một cảm giác vượt thời gian. John Williams soạn nhạc cho phim, và nghệ sĩ vi-ô-lông Itzhak Perlman biểu diễn bản nhạc chủ đề của bộ phim.

Bản danh sách của Schindler ra mắt vào ngày 30 tháng 11 năm 1993 tại Washington, D.C. và được phát hành rộng rãi trên toàn nước Mỹ vào ngày 15 tháng 12 năm 1993. Thường được coi là một trong những bộ phim hay nhất mọi thời đại từng được sản xuất,[4][5][6] phim cũng thu được thành công thương mại, mang về 321,2 triệu USD trên toàn cầu so với 22 triệu ÚSD kinh phí. Phim giành được bảy giải Oscar (trong tổng số mười hai đề cử), trong đó có giải Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất, Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhấtNhạc phim hay nhất, cùng nhiều giải thưởng khác (trong đó có bảy giải BAFTA và ba giải Quả cầu vàng). Năm 2007, Viện phim Mỹ xếp bộ phim này đứng thứ 8 trong danh sách 100 phim Mỹ hay nhất mọi thời đại. Thư viện Quốc hội Mỹ đã lựa chọn bộ phim này để bảo tồn tại Viện lưu trữ phim Quốc gia Hoa Kỳ vào năm 2004.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1939, khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, người Đức tập trung những người Do Thái gốc Ba Lan về khu tập trung người Do Thái Kraków. Oskar Schindler, một doanh nhân người Đức tới thành phố này với hy vọng lập nghiệp. Là một thành viên của Đảng Quốc xã, Schindler đút lót bọn Wehrmacht (lực lượng vũ trang Đức) và các sĩ quan SS rất mát tay và mua lại một nhà máy để sản xuất đồ dùng gia đình bằng men. Để giúp ông quản lý doanh nghiệp, Schindler nhờ tới sự giúp đỡ của Itzhak Stern, một sĩ quan Do Thái địa phương có liên hệ với những người buôn bán ngoài chợ đen và cộng đồng kinh doanh của người Do Thái. Stern giúp Schindler phân phối các khoản vay để cung cấp kinh phí cho nhà máy hoạt động. Schindler vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp với bọn Đức Quốc xã và sống giàu sang với địa vị của một "Herr Direktor", còn Stern lo công việc quản lý. Schindler thuê công nhân người Do Thái vì đây là nguồn lao động rẻ mạt, còn Stern có nhiệm vụ đảm bảo rằng càng nhiều người được chứng nhận là "lao động thiết yếu" cho chiến tranh của người Đức càng tốt, bởi điều này sẽ giúp các công nhân Do Thái tránh khỏi việc bị chuyển tới các trại tập trung hoặc bị giết.

SS-Untersturmführer (thiếu uý) Amon Goeth đến Kraków để trông coi việc xây dựng trại tập trung Płaszów. Khi trại này được xây xong, hắn yêu cầu thanh lý toàn bộ khu tập trung người Do Thái cũ. Rất nhiều người đã bị bắn và bị giết trong quá trình di dời khu nhà ở. Schindler chứng kiến cảnh thảm sát và bị ảnh hưởng mạnh mẽ. Ông đặc biệt chú ý tới một bé gái mặc áo choàng đỏ – một trong những mảng màu hiếm hoi của bộ phim đen trắng – khi em chạy trốn khỏi bọn Đức Quốc xã. Sau này, khi nhìn thấy chiếc áo choàng đỏ trên chiếc xe bò chở xác người chết đem đi thiêu huỷ, ông mới biết là cô bé đã chết. Schindler rất cẩn trọng cố gắng giữ quan hệ với Goeth và, với những khoản đút lót và quà cáp hậu hĩnh, tiếp tục nhận được sự ủng hộ của bọn SS. Goeth đối xử tàn nhẫn với người hầu gái và đứng trên ban công bắn ngẫu nhiên những người lao động ở dưới, khiến cho những người tù ngày ngày luôn phải lo sợ tính mạng của mình. Thời gian trôi qua, mối quan tâm của Schindler dần chuyển từ kiếm tiền sang tìm cách cứu càng nhiều người càng tốt. Ông hối lộ Goeth để hắn cho phép ông lập một trại con cho những công nhân của ông để ông có thể bảo vệ họ tốt hơn.

Khi người Đức bắt đầu đối mặt với những thất bại từ chiến tranh, Goeth được lệnh đưa những người Do Thái còn lại ở Płaszów tới trại tập trung Auschwitz. Schindler xin Goeth cho phép ông đưa công nhân của mình tới một nhà máy đạn dược mới mà ông dự định xây dựng ở quê nhà Zwittau-Brinnlitz. Goeth đồng ý, nhưng đòi hỏi một khoản hối lộ lớn. Schindler và Stern cùng nhau lập ra "Bản danh sách của Schindler" – một danh sách những người sẽ được chuyển tới Brinnlitz và do đó thoát khỏi Auschwitz.

Khi chuyến tàu hoả chở phụ nữ và trẻ em vô tình bị chuyển hướng tới Auschwitz-Birkenau, Schindler hối lộ sĩ quan chỉ huy ở Auschwitz một túi kim cương để hắn thả người của ông. Tại nhà máy mới, Schindler cấm binh lính SS vào khu sản xuất và khuyến khích người Do Thái làm lễ Shabbat. Để đảm bảo cuộc sống cho các công nhân của mình, ông dành hầu hết tài sản hối lộ cho các sĩ quan Đức Quốc xã và mua vỏ đạn từ các công ty khác; bản thân công ty ông không sản xuất một thứ vũ khí nào dùng được trong suốt bảy tháng hoạt động. Schindler cạn kiệt gia sản vào năm 1945, cũng đúng lúc này quân Đức đầu hàng, kết thúc chiến tranh ở châu Âu.

Là một thành viên Đảng Quốc xã và một người hưởng lợi từ chiến tranh, Schindler phải chạy trốn để tránh bị Hồng Quân bắt giữ. Các binh lính SS được lệnh giết hết người Do Thái, nhưng Schindler thuyết phục chúng đừng làm vậy để chúng có thể "trở về gia đình với tư cách những người đàn ông, chứ không phải những kẻ giết người". Ông nói lời tạm biệt với các công nhân của mình và chuẩn bị đi về phía Tây, hy vọng được đầu hàng người Mỹ. Các công nhân đưa cho Schindler một tờ giấy xác nhận có chữ ký của tất cả họ, công nhận rằng ông là người đã cứu sống những người Do Thái, cùng với một chiếc nhẫn khắc câu nói của người Talmud: "Whoever saves one life saves the world entire." (Ai đã cứu sống một người thì người đó cũng đã cứu cả thế giới này). Schindler cảm động trước tấm lòng của họ nhưng cũng vô cùng xấu hổ, vì ông cho rằng đáng lẽ mình có thể làm được nhiều hơn thế. Khi những người Schindlerjuden (người Do Thái của Schindler) tỉnh dậy vào sáng hôm sau, một người lính Xô Viết xuất hiện thông báo rằng họ đã được phóng thích. Những người Do Thái rời nhà máy và tiến đến một thị trấn gần đó.

Sau một số cảnh miêu tả cuộc hành quyết Goeth và tóm tắt cuộc đời của Schindler sau chiến tranh, bộ phim đen trắng chuyển sang một cảnh có màu, quay những người Schindlerjuden thực sự tại ngôi mộ của Schindler ở Jerusalem. Với sự đồng hành của các diễn viên đóng vai họ, những người Schindlerjuden đặt các hòn đá lên nấm mộ. Trong cảnh cuối cùng của phim, Neeson đặt một đôi hoa hồng trên mộ Schindler.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Liam Neeson (ảnh năm 2012) thủ vai Oskar Schindler.

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Liam Neeson vai Oskar Schindler, một doanh nhân người Đức, cứu mạng sống của hơn 1.100 người Do Thái bằng cách nhận họ vào làm việc trong nhà máy của mình.
  • Ben Kingsley vai Itzhak Stern, kế toán của Schindler và các đối tác kinh doanh.
  • Ralph Fiennes vai Amon Göth, vai phản diện trong phim; Göth là một cán bộ được giao xây dựng và điều hành các trại tập trung ở Płaszów, và là bạn của Schindler.
  • Embeth Davidtz vai Helen Hirsch, một phụ nữ Do Thái trẻ, quyến rũ làm giúp việc nhà cho Göth.
  • Caroline Goodall vai Emilie Schindler, vợ của Schindler.
  • Jonathan Sagall vai Poldek Pfefferberg, một thanh niên sống sót với vợ của mình, và cung cấp hàng cho Schindler từ chợ đen.

Diễn viên phụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ezra Dagan vai Rabbi Lewartow, một giáo sĩ Do Thái làm công việc thợ hàn ở nhà máy Schindler.
  • Malgoscha Gebel vai Wiktoria Klonowska
  • Shmuel Levy vai Wilek Chilowicz
  • Mark Ivanir vai Marcel Goldberg
  • Béatrice Macola vai Ingrid
  • Andrzej Seweryn vai Julian Scherner
  • Friedrich von Thun vai Rolf Czurda
  • Krzysztof Luft vai Herman Toffel
  • Harry Nehring vai Leo John
  • Norbert Weisser vai Albert Hujar
  • Adi Nitzan vai Mila Pfefferberg
  • Michael Schneider vai Juda Dresner
  • Miri Fabian vai Chaja Dresner
  • Anna Mucha vai Danka Dresner
  • Albert Misak vai Mordecai Wulkan
  • Hans-Michael Rehberg vai Rudolf Höss
  • Daniel Del Ponte vai Bác sĩ Josef Mengele

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Poldek Pfefferberg là một trong những người Do Thái Schindler, và qua cuộc sống của ông để kể câu chuyện về một vị cứu tinh. Pfefferberg cố gắng để sản xuất một chân dung về Oskar Schindler, được nhà văn Howard Koch viết lại, nhưng lại thất bại. Năm 1982, Thomas Keneally xuất bản cuốn Schindler's Ark, mà ông đã viết sau khi gặp Pfefferberg. MCA Chủ tịch Sid Sheinberg gửi đạo diễn Steven Spielberg tờ báo New York Times đánh giá lại cuốn sách. Spielberg đã kinh ngạc qua những câu chuyện của Oskar Schindler, tự hỏi đùa nếu nó là đúng sự thật. Spielberg "đã bị cuốn vào bản tính tự nhiên ngược đời của Schindler... Đó là về một tên phát xít cứu người Do Thái... điều gì đã khiến một người đàn ông như thế này để đột nhiên đánh đổi tất cả những gì anh đã giành được và đặt trong đó tất cả để cứu những mạng sống này?" Spielberg đã bày tỏ quan tâm cho Universal Pictures để mua tác quyền đối với cuốn tiểu thuyết, và trong năm 1983 Spielberg đã gặp gỡ với Pfefferberg. Pfefferberg hỏi Spielberg, "Vui lòng, khi nào ông bắt đầu?" Spielberg phản hồi, "Mười năm kể từ bây giờ."

Spielberg đã không chắc chắn về sở trường riêng của mình trong việc thực hiện một bộ phim về Holocaust. Spielberg đã cố gắng để chuyển qua dự án cho đạo diễn Roman Polanski, người từ bỏ dự án bộ phim. Mẹ ông đã giết chết tại Auschwitz, và ông đã sống sót ở Kraków Ghetto. Polanski đạo diễn một phim Holocaust riêng cho mình, The Pianist vào năm 2002. Spielberg cũng chuyển dự án phim cho Sydney Pollack. Martin Scorsese đã được chỉ định trực tiếp đạo diễn Schindler's List năm 1988. Tuy nhiên, Spielberg không chắc chắn cho Scorsese đạo diễn Schindler's List, Spielberg tạo cơ hội cho riêng mình để làm một việc cho trẻ em và gia đình trong nạn diệt chủng Holocaust. Spielberg cũng muốn đạo diễn Cape Fear phiên bản làm lại. Billy Wilder cũng bày tỏ sự quan tâm chỉ đạo bộ phim, "như là một tưởng niệm với hầu hết [mình] trong gia đình, những người đã đi tới Auschwitz."

Cuối cùng Spielberg đã quyết định trực tiếp đạo diễn bộ phim, sau khi nghe buổi điều trần của nạn diệt chủng Bosnian và những người phủ nhận nạn diệt chủng Holocaust. Với sự phát triển của chủ nghĩa phát xít, sau sự sụp đổ của bức tường Berlin, ông lo lắng rằng mọi người đã chấp nhận khoan dung, như họ vào thập niên 1930. Ngoài ra, Spielberg đã trở thành chi tiết có liên quan với di sản của ông người Do Thái, trong khi nuôi con cái. Sid Sheinberg Greenlit còn yêu cầu một điều kiện rằng Spielberg phải làm Jurassic Park đầu tiên. Spielberg sau này nói, "Anh ta biết rằng một khi tôi đã đạo diễn Schindler, tôi vẫn có thể làm Jurassic Park."

Năm 1983 Thomas Keneally đã được thuê để điều chỉnh cuốn sách của ông, và ông chuyển sang một trang 220-tập lệnh. Keneally tập trung vào các mối quan hệ của Schindler, và ông đã không nhận những câu chuyện đủ. Spielberg cho thuê Kurt Luedtke, người viết kịch bản phim Out of Africa, để viết tiếp theo bản thảo. Luedtke đã đầu hàng sau khi bỏ ra gần bốn năm, để tìm ra lý do vì sao Schindler lại thay đổi một cách khó tin. Trong suốt thời gian của mình đạo diễn, Scorsese thuê Steve Zaillian để ghi các câu đối thoại. Khi ông được giao lại dự án, Spielberg được tìm thấy Zaillian của trang 115-dự thảo quá ngắn, và hỏi ông ấy để tăng lên 195 trang. Spielberg muốn tập trung vào người Do Thái trong câu chuyện. Ông đã mở rộng các chuỗi khu ổ chuột bị thanh lý, ông "cảm thấy rất mạnh mẽ từ các xâu chuỗi sự kiện." Ông cũng muốn chuyển đổi Schindler thành một người khó hiểu.

Chọn vai[sửa | sửa mã nguồn]

Liam Neeson thể hiện vai Oskar Schindler sớm trong quá trình chọn lọc và đã được chọn trong tháng mười hai năm 1992, sau khi Spielberg đã thấy anh diễn trong Anna Christie trên Broadway. Warren Beatty cũng tham gia vào đọc giai thoại, nhưng Spielberg đã lo ngại rằng ông không thể tự lừa dối mình, rằng ông sẽ đem theo "ngôi sao phim". Kevin CostnerMel Gibson cũng đã bày tỏ quan tâm tới hình ảnh của Schindler. Neeson cảm thấy "Schindler thích chơi đùa với phát xít". Trong cuốn sách của Keneally nói rằng Schindler không có được sự coi trọng của họ... nếu phát xít từ New York, thì ông từ Arkansas. Họ không làm nghiêm trọng vấn đề với ông, và ông đã sử dụng nó như một vũ khí. "Để chuẩn bị cho vai diễn, Neeson đã được gửi băng thu hình của mình cho Time Warner Giám đốc điều hành Steve Ross, những người đã có uy tín với Spielberg so với Schindler's.

Ralph Fiennes đã được chọn vai Amon Göth Spielberg sau khi xem biểu diễn của ông trong A Dangerous Man: Lawrence After ArabiaEmily Brontë's Wuthering Heights. Spielberg nói với sự thể hiện của Fiennes' và cho rằng, "Tôi đã thấy tình dục chứa đầy cái ác. Nó là tất cả về cái huyền ảo: đã có khoảnh khắc của lòng tốt mà có thể di chuyển trên đôi mắt của mình và sau đó ngay lập tức lạnh đi. Ông đã theo dõi lịch sử và nói chuyện với những người sống sót sau nạn diệt chủng Holocaust. Trong vai diễn, Fiennes nói: "Tôi đã nhận với đau khổ của mình. Bên trong anh ta là một sự đứt gãy, đáng thương của một con người. Tôi cảm thấy phân chia về anh ta, đau buồn cho anh ta. Anh ta thích sự bẩn thỉu". Fiennes được diễn tả giống như Göth trong vai diễn. Pfefferberg, một người sống sót, đã gặp Fiennes và cô ấy đã khóc vì sợ hãi.

Nói chung, có 126 phần nói trong phim. Ba mươi nghìn vật dụng đã được thuê trong thời gian quay phim. Spielberg chọn trẻ em của những người Do Thái Schindler cho chính vai người Do Thái, và thuê nhà thờ công giáo Ba Lan cho những người sống sót.

Quay phim[sửa | sửa mã nguồn]

Schindler's List đã bắt đầu quay vào ngày 1 tháng 3, 1993 tại Kraków (Cracow), Ba Lan, và tiếp tục cho một trong bảy mươi ngày. Các cảnh quay tại các địa điểm đời sống thực tế, mặc dù trại Płaszów đã được xây dựng lại hơi khác so với hồi xưa. Các cảnh quay cũng bị cấm quay ở Auschwitz, do đó, họ quay các cảnh bên ngoài trại. Những người dân địa phương Ba Lan hoan nghênh bộ phim. Một phụ nữ người cao tuổi đã lầm tưởng Fiennes cho một tên phát xít và nói với ông "Người Đức đang say mê mọi người. Họ đã không giết người những ai được cho là không đáng được hưởng". Spielberg nói rằng tại Passover, "Diễn viên Đức thể hiện lên. Họ đưa vào yarmulkes và" mở "Haggada s, Israel và các diễn viên phải di chuyển tiếp và đã bắt đầu giải thích cho họ. Và gia đình của các diễn viên ngồi xung quanh và sự xung khắc về văn hóa không còn nữa.

"Tôi bị đánh vào mặt với cuộc sống cá nhân của tôi. Đưa tôi lên. Dòng máu Do Thái trong người tôi. Những câu chuyện của ông bà đã nói với tôi về các Shoah. Mạng sống của những người Do Thái, rót vào tâm trái tim tôi. Tôi đã khóc."

Cảm xúc của Steven Spielberg trong thời gian quay phim

Quay Schindler's List là khoảng thời gian tình cảm sâu sắc cho Spielberg, như là chủ đề để ông diễn tả tuổi thơ ấu của mình, chẳng hạn như những kẻ bài trừ Do Thái mà ônh đã từng đối mặt. Ông giận dữ với mình khi ông đã không "khóc", trong khi thăm Auschwitz, và là một trong những thành viên của nhóm đã không nhìn vào trong quá trình ghi hình nơi người Do Thái buộc phải chạy trong cảnh trần truồng bị các bác sĩ chọn để đến trại tập trung Auschwitz. Một số diễn viên nữ khỏa thân khi quay những cảnh tắm trong phòng hơi ngạt, bao gồm cả những người được sinh ra trong một trại tập trung. Kate Capshaw và năm đứa con của ông đi kèm, và sau đó ông đã cảm ơn người vợ "giúp đỡ ông về mặt tinh thần khi công việc dậm chân tại chỗ." Spielberg không nhận tiền lương của bộ phim, vì ông cho rằng đó là tiền của máu.

Spielberg sử dụng ngôn ngữ Tiếng Đức và Ba Lan trong cảnh để trình bày các cảm giác trong hiện tại và quá khứ, và Tiếng Anh được sử dụng để nhấn mạnh mẽ quan điểm. Ông đã quan tâm trong việc thực hiện bộ phim hoàn toàn bằng tiếng Đức và Ba Lan, nhưng đã quyết định "có quá nhiều khó khăn trong việc đọc. Nó như là một xin lỗi để đưa đôi mắt của khán giả ra khỏi màn hình và xem cái gì khác."

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

John Williams viết bản nhạc nền cho bộ phim Schindler's List. Ông đã ngạc nhiên trước bộ phim, và cảm thấy là không đủ sức để đảm nhận trách nhiệm. Ông nói với Spielberg rằng, "Anh cần một người tốt hơn tôi cho bộ phim này." Spielberg phản hồi, "Tôi biết. Nhưng tất cả họ đã chết!" Williams chơi bản nhạc chính trên đàn piano, và làm theo đề nghị của Spielberg, ông cho thuê Itzhak Perlman để thực hiện nó trên violin. Trong những cảnh, nơi trẻ em được vận chuyển đi trên xe tải, trong khi các bà mẹ cho khóc thét đuổi theo, được chơi các bài hát dân gian "Oyf'n Pripetshok" (tiếng Yiddish: אויפן פריפעטשיק) được hát bởi trẻ em. Các bài hát đã được thường xuyên hát bởi bà của Spielberg cho, Becky, cháu của bà. Susan Goldman Rubin (2001). Harry N. Abrams, Inc. ISBN 0-8109-4492-8.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp) Các clarinet bản sô lô nghe trong phim được thâu của Klezmer virtuoso Giora Feidman.

Phản hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá của giới chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Bản danh sách của Schindler nhận được nhiều đánh giá tích cực rộng rãi của cả giới chuyên môn và khán giả, nhiều người đánh giá đây là một thành tựu điện ảnh xuất sắc.[7] Một số người Mỹ có tiếng như dẫn chương trình đàm thoại Oprah Winfrey và Tổng thống Bill Clinton đã khuyến khích người dân xem phim này.[3][8] Các nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã xem phim và một số người đã có các cuộc gặp riêng với đạo diễn Spielberg.[3] Trang web tổng hợp kết quả đánh giá Rotten Tomatoes cho biết có 97% các nhà phê bình đánh giá tích cực về bộ phim dựa trên 78 bài phê bình, với điểm số trung bình là 9/10. Lời nhận xét chung của trang này viết: "Bản danh sách của Schindler hòa quyện tội ác ghê rợn của chính sách tàn sát người Do Thái của Đức quốc xã với chủ nghĩa nhân đạo rất tế nhị của Steven Spielberg để tạo nên một kiệt tác gây xúc động."[9] Metacritic, trang chuyên đưa ra điểm số đánh giá trung bình cho các phim trên thang điểm 100 dựa trên các bình luận hàng đầu của những nhà phê bình chính thống, cho bộ phim 93 điểm dựa trên 23 đánh giá và kết luận "được hầu hết các nhà phê bình khen ngợi."[10] Stephen Schiff, nhà báo viết cho tờ The New Yorker gọi đây là bộ phim chính kịch lịch sử xuất sắc nhất về đề tài diệt chủng người Do Thái, một bộ phim sẽ "ghi dấu ấn trong lịch sử văn hóa và sẽ tồn tại mãi."[11] Roger Ebert gọi đây là tác phẩm điện ảnh xuất sắc nhất của Spielberg, "các giai đoạn diễn xuất, đạo diễn, biên kịch và thưởng thức đều rất tuyệt vời."[12] Terrence Rafferty, cũng viết cho tờ The New Yorker, ca ngợi "sự táo bạo trong cách kể chuyện cũng như hình ảnh, và sự thẳng thắn trong cảm xúc." Ông cũng nhắc đến diễn xuất của Neeson, Fiennes, Kingsley, và Davidtz với sự tán dương đặc biệt,[13] và gọi cảnh quay trong phòng tắm tập thể của trại tập trung Auschwitz "là cảnh phim ghê sợ nhất từng được thực hiện."[14] James Verniere của báo Boston Herald cho rằng bộ phim có phần dè dặt và thiếu yếu tố gây xúc động mạnh mẽ, như vẫn coi đây là một "bộ phim đáng giá thêm vào hàng ngũ những tác phẩm về thời kỳ diệt chủng người Do Thái."[15] Trong bài phê bình của mình cho tạp chí New York Review of Books, nhà phê bình người Anh John Gross bày tỏ thái độ lo ngại khi cốt truyện của phim đang bị mọi người đa cảm hóa quá mức và sự đa cảm hóa này "đang được đặt không đúng chỗ. Speilberg thểhh iện quan điểm đạo đức rõ ràng và nắm bắt cảm xúc đầy đủ trong tác phẩm của mình. Bộ phim là một thành công rực rỡ."[16] Mintz lưu ý rằng kể cả những nhà phê bình khó tính nhất cũng phải ca ngợi "những hình ảnh xuất sắc" trong mười lăm phút phim miêu tả lại cảnh di dời người Do Thái khỏi Kraków. Ông miêu tả cảnh phim này là rất "chân thực" và "tuyệ tvờii".[17] Ông chỉ ra rằng bộ phim đã góp phần quan trọng trong việc thức tỉnh mọi người nhớ về những tội ác của chế độ Holocaust cũng như nhận thức của các thế hệ sau về giai đoạn lịch sử này khi những nhân chứng sống sót đang lần lượt qua đời, cắt đứt dần sợi dây liên kết với thảm họa trước kia.[18] Khi phim được phát hành tại Đức đã gây ra những cuộc tranh luận rộng rãi về việc tại sao hầu hết người dân Đức hồi đó không làm gì để giúp người Do Thái.[19]

Cũng có nhiều lời chỉ trích bộ phim, hầu hết đến từ giới nghiên cứu chứ không phải truyền thông đại chúng.[20] Horowitz chỉ ra rằng hầu hết các hoạt động của người Do Thái trong khu tập trung chỉ đơn giản là cho vay tiền, giao dịch trên thị trường đen, hay cất giấu tài sản, từ đó tạo nên một cái nhìn "khuôn mẫu" về đời sống của người Do Thái thời kỳ này.[21] Horowitz cũng cho rằng mặc dù cách tái hiện phụ nữ trong bộ phim phản ánh chính xác tư tưởng của Đức quốc xã, song địa vị thấp kém của họ và sợi dây liên kết giữa bạo lực và tình dục chưa được đề cập đúng mức.[22] Giáo sư lịch sử Omer Bartov của Đại học Brown lưu ý rằng hình thể to lớn và tư tưởng mạnh mẽ của các nhân vật Schindler và Goeth đã làm lu mờ hình ảnh những nạn nhân Do Thái, vốn trong bộ phim là những con người nhỏ bé, chạy lon ton xung quanh và luôn trong trạng thái sợ hãi – nền tảng đơn thuần của cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác.[23] Các tiến sĩ Samuel J. Leistedt và Paul Linkowski công tác tại Đại học Université libre de Bruxelles gọi Goeth là một nhân vật loạn thần cổ điển trong điện ảnh.[24]

Horowitz chỉ ra rằng sự phân hóa giữa những người tốt "tuyệt đối" và những kẻ xấu "tuyệt đối" khiến người đọc bỏ qua sự thực rằng những kẻ thực thi dưới chế độ Holocaust thực chất cũng chỉ là những người bình thường; bộ phim không đào sâu vào cách hầu hết người Đức thời bấy giờ nhận thức hay ủng hộ/ phản đối chế độ Holocaust.[25] Tác giả Jason Epstein bình luận rằng bộ phim gây ra sự hiểu nhầm rằng nếu người ta thông minh hoặc may mắn thì có thể sống sót sau chế độ diệt chủng; trong khi đây không phải là nhân tố chính.[26] Spielberg đáp lại những người chỉ trích cảnh Schindler bật khóc khi ông tạm biệt công nhân của mình là quá uỷ mị bằng cách chỉ ra rằng cảnh quay đó được thực hiện để mang lại cảm giác về sự mất mát và cho người đọc cơ hội bày tỏ sự xót xa cùng các nhân vật trên màn ảnh.[27]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Freer 2001, tr. 220
  2. ^ McBride 1997, tr. 416
  3. ^ a ă â McBride 1997, tr. 435
  4. ^ Corliss & Schickel 2005
  5. ^ Maltin 1999
  6. ^ Channel 4 2008
  7. ^ Mintz 2001, tr. 126
  8. ^ Horowitz 1997, tr. 119
  9. ^ “Schindler's List (1993)”. Rotten Tomatoes. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2014. 
  10. ^ “Schindler's List Reviews”. Metacritic. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014. 
  11. ^ Schiff 1994, tr. 98
  12. ^ Ebert 1993
  13. ^ Rafferty 1993
  14. ^ Mintz 2001, tr. 132
  15. ^ Verniere 1993
  16. ^ Gross 1994
  17. ^ Mintz 2001, tr. 147
  18. ^ Mintz 2001, tr. 131
  19. ^ Houston Post 1994
  20. ^ Mintz 2001, tr. 134
  21. ^ Horowitz 1997, tr. 138–139
  22. ^ Horowitz 1997, tr. 130
  23. ^ Bartov 1997, tr. 49
  24. ^ Leistedt & Linkowski 2014
  25. ^ Horowitz 1997, tr. 137
  26. ^ Epstein 1994
  27. ^ McBride 1997, tr. 439

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng
Tiền vị:
Unforgiven
Giải Oscar cho phim hay nhất
1993
Kế vị
Forrest Gump
Tiền vị:
Scent of a Woman
Giải Quả cầu vàng cho phim chính kịch hay nhất
1993
Tiền vị:
Howards End
Giải BAFTA cho phim hay nhất
1993
Kế vị
Four Weddings and a Funeral

Bản mẫu:Giải Quả cầu vàng cho phim chính kịch hay nhất

Bản mẫu:Giải BAFTA cho phim hay nhất