Bản danh sách của Schindler

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Schindler's List
Áp phích phim tại các rạp
Thông tin phim
Đạo diễn Steven Spielberg
Sản xuất
Kịch bản Steven Zaillian
Dựa trên Schindler's Ark  của
Thomas Keneally
Diễn viên
Âm nhạc John Williams
Quay phim Janusz Kamiński
Dựng phim Michael Kahn
Hãng sản xuất Amblin Entertainment
Phát hành Universal Pictures
Công chiếu 30 tháng 11, 1993 (1993-11-30) (Washington, D.C.)
15 tháng 12, 1993 (1993-12-15) (Hoa Kỳ)
Độ dài 197 phút[1]
Quốc gia
  • Hoa Kỳ
Ngôn ngữ Tiếng Anh
Kinh phí 22 triệu USD[2]
Doanh thu 321,2 triệu USD[3]

Bản danh sách của Schindler là một bộ phim chính kịch lịch sử của Hoa Kỳ, do Steven Spielberg làm đạo diễn kiêm đồng sản xuất và Steven Zaillian viết kịch bản. Phim dựa theo cuốn tiểu thuyết Schindler's Ark của Thomas Keneally, một tiểu thuyết gia người Úc. Bộ phim dựa trên cuộc đời của Oskar Schindler, một doanh nhân người Đức đã cứu sống hơn một nghìn người, trong đó phần lớn là người Do Thái gốc Ba Lan tị nạn trong thời kỳ phát xít Đức tàn sát người Do Thái bằng cách thuê họ vào làm trong các nhà máy của ông. Phim có sự tham gia của Liam Neeson trong vai Schindler, Ralph Fiennes trong vai sĩ quan Schutzstaffel (SS) Amon Goeth, và Ben Kingsley trong vai kế toán người Do Thái của Schindler Itzhak Stern.

Ý tưởng sản xuất một bộ phim nói về Schindlerjuden (những người Do Thái của Schindler) được đề xuất lần đầu tiên vào năm 1963. Poldek Pfefferberg, một trong số những người Schindlerjuden, xác định rằng sứ mệnh của cuộc đời mình là phải kể lại câu chuyện của Schindler cho hậu thế. Spielberg tỏ ra hứng thú với kịch bản này sau khi nhà điều hành Sid Sheinberg gửi cho ông một bản nhận xét cuốn sách Schindler's Ark. Universal Studios mua bản quyền chuyển thể điện ảnh của cuốn tiểu thuyết, tuy nhiên Spielberg, ban đầu còn lo ngại ông chưa đủ tự tin để làm một bộ phim về thời kỳ tàn sát người Do Thái, tìm cách đẩy dự án sang cho một số đạo diễn khác trước khi quyết định tự tay đạo diễn bộ phim này.

Quay phim tiền kỳ diễn ra tại Kraków, Ba Lan trong vòng 72 ngày của năm 1993. Spielberg quay bộ phim dưới định dạng đen trắng và coi đó là một bộ phim tài liệu. Nhà quay phim Janusz Kamiński muốn mang lại cho tác phẩm điện ảnh này một cảm giác vượt thời gian. John Williams soạn nhạc cho phim, và nghệ sĩ vi-ô-lông Itzhak Perlman biểu diễn bản nhạc chủ đề của bộ phim.

Bản danh sách của Schindler ra mắt vào ngày 30 tháng 11 năm 1993 tại Washington, D.C. và được phát hành rộng rãi trên toàn nước Mỹ vào ngày 15 tháng 12 năm 1993. Thường được coi là một trong những bộ phim hay nhất mọi thời đại từng được sản xuất,[4][5][6] phim cũng thu được thành công thương mại, mang về 321,2 triệu USD trên toàn cầu so với 22 triệu ÚSD kinh phí. Phim giành được bảy giải Oscar (trong tổng số mười hai đề cử), trong đó có giải Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc nhất, Kịch bản chuyển thể xuất sắc nhấtNhạc phim hay nhất, cùng nhiều giải thưởng khác (trong đó có bảy giải BAFTA và ba giải Quả cầu vàng). Năm 2007, Viện phim Mỹ xếp bộ phim này đứng thứ 8 trong danh sách 100 phim Mỹ hay nhất mọi thời đại. Thư viện Quốc hội Mỹ đã lựa chọn bộ phim này để bảo tồn tại Viện lưu trữ phim Quốc gia Hoa Kỳ vào năm 2004.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1939, khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, người Đức tập trung những người Do Thái gốc Ba Lan về khu tập trung người Do Thái Kraków. Oskar Schindler, một doanh nhân người Đức tới thành phố này với hy vọng lập nghiệp. Là một thành viên của Đảng Quốc xã, Schindler đút lót bọn Wehrmacht (lực lượng vũ trang Đức) và các sĩ quan SS rất mát tay và mua lại một nhà máy để sản xuất đồ dùng gia đình bằng men. Để giúp ông quản lý doanh nghiệp, Schindler nhờ tới sự giúp đỡ của Itzhak Stern, một sĩ quan Do Thái địa phương có liên hệ với những người buôn bán ngoài chợ đen và cộng đồng kinh doanh của người Do Thái. Stern giúp Schindler phân phối các khoản vay để cung cấp kinh phí cho nhà máy hoạt động. Schindler vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp với bọn Đức Quốc xã và sống giàu sang với địa vị của một "Herr Direktor", còn Stern lo công việc quản lý. Schindler thuê công nhân người Do Thái vì đây là nguồn lao động rẻ mạt, còn Stern có nhiệm vụ đảm bảo rằng càng nhiều người được chứng nhận là "lao động thiết yếu" cho chiến tranh của người Đức càng tốt, bởi điều này sẽ giúp các công nhân Do Thái tránh khỏi việc bị chuyển tới các trại tập trung hoặc bị giết.

SS-Untersturmführer (thiếu uý) Amon Goeth đến Kraków để trông coi việc xây dựng trại tập trung Płaszów. Khi trại này được xây xong, hắn yêu cầu thanh lý toàn bộ khu tập trung người Do Thái cũ. Rất nhiều người đã bị bắn và bị giết trong quá trình di dời khu nhà ở. Schindler chứng kiến cảnh thảm sát và bị ảnh hưởng mạnh mẽ. Ông đặc biệt chú ý tới một bé gái mặc áo choàng đỏ – một trong những mảng màu hiếm hoi của bộ phim đen trắng – khi em chạy trốn khỏi bọn Đức Quốc xã. Sau này, khi nhìn thấy chiếc áo choàng đỏ trên chiếc xe bò chở xác người chết đem đi thiêu huỷ, ông mới biết là cô bé đã chết. Schindler rất cẩn trọng cố gắng giữ quan hệ với Goeth và, với những khoản đút lót và quà cáp hậu hĩnh, tiếp tục nhận được sự ủng hộ của bọn SS. Goeth đối xử tàn nhẫn với người hầu gái và đứng trên ban công bắn ngẫu nhiên những người lao động ở dưới, khiến cho những người tù ngày ngày luôn phải lo sợ tính mạng của mình. Thời gian trôi qua, mối quan tâm của Schindler dần chuyển từ kiếm tiền sang tìm cách cứu càng nhiều người càng tốt. Ông hối lộ Goeth để hắn cho phép ông lập một trại con cho những công nhân của ông để ông có thể bảo vệ họ tốt hơn.

Khi người Đức bắt đầu đối mặt với những thất bại từ chiến tranh, Goeth được lệnh đưa những người Do Thái còn lại ở Płaszów tới trại tập trung Auschwitz. Schindler xin Goeth cho phép ông đưa công nhân của mình tới một nhà máy đạn dược mới mà ông dự định xây dựng ở quê nhà Zwittau-Brinnlitz. Goeth đồng ý, nhưng đòi hỏi một khoản hối lộ lớn. Schindler và Stern cùng nhau lập ra "Bản danh sách của Schindler" – một danh sách những người sẽ được chuyển tới Brinnlitz và do đó thoát khỏi Auschwitz.

Khi chuyến tàu hoả chở phụ nữ và trẻ em vô tình bị chuyển hướng tới Auschwitz-Birkenau, Schindler hối lộ sĩ quan chỉ huy ở Auschwitz một túi kim cương để hắn thả người của ông. Tại nhà máy mới, Schindler cấm binh lính SS vào khu sản xuất và khuyến khích người Do Thái làm lễ Shabbat. Để đảm bảo cuộc sống cho các công nhân của mình, ông dành hầu hết tài sản hối lộ cho các sĩ quan Đức Quốc xã và mua vỏ đạn từ các công ty khác; bản thân công ty ông không sản xuất một thứ vũ khí nào dùng được trong suốt bảy tháng hoạt động. Schindler cạn kiệt gia sản vào năm 1945, cũng đúng lúc này quân Đức đầu hàng, kết thúc chiến tranh ở châu Âu.

Là một thành viên Đảng Quốc xã và một người hưởng lợi từ chiến tranh, Schindler phải chạy trốn để tránh bị Hồng Quân bắt giữ. Các binh lính SS được lệnh giết hết người Do Thái, nhưng Schindler thuyết phục chúng đừng làm vậy để chúng có thể "trở về gia đình với tư cách những người đàn ông, chứ không phải những kẻ giết người". Ông nói lời tạm biệt với các công nhân của mình và chuẩn bị đi về phía Tây, hy vọng được đầu hàng người Mỹ. Các công nhân đưa cho Schindler một tờ giấy xác nhận có chữ ký của tất cả họ, công nhận rằng ông là người đã cứu sống những người Do Thái, cùng với một chiếc nhẫn khắc câu nói của người Talmud: "Whoever saves one life saves the world entire." (Ai đã cứu sống một người thì người đó cũng đã cứu cả thế giới này). Schindler cảm động trước tấm lòng của họ nhưng cũng vô cùng xấu hổ, vì ông cho rằng đáng lẽ mình có thể làm được nhiều hơn thế. Khi những người Schindlerjuden (người Do Thái của Schindler) tỉnh dậy vào sáng hôm sau, một người lính Xô Viết xuất hiện thông báo rằng họ đã được phóng thích. Những người Do Thái rời nhà máy và tiến đến một thị trấn gần đó.

Sau một số cảnh miêu tả cuộc hành quyết Goeth và tóm tắt cuộc đời của Schindler sau chiến tranh, bộ phim đen trắng chuyển sang một cảnh có màu, quay những người Schindlerjuden thực sự tại ngôi mộ của Schindler ở Jerusalem. Với sự đồng hành của các diễn viên đóng vai họ, những người Schindlerjuden đặt các hòn đá lên nấm mộ. Trong cảnh cuối cùng của phim, Neeson đặt một đôi hoa hồng trên mộ Schindler.

Diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Liam Neeson (ảnh năm 2012) thủ vai Oskar Schindler.

Nhân vật chính[sửa | sửa mã nguồn]

  • Liam Neeson vai Oskar Schindler, một doanh nhân người Đức, cứu mạng sống của hơn 1.100 người Do Thái bằng cách nhận họ vào làm việc trong nhà máy của mình.
  • Ben Kingsley vai Itzhak Stern, kế toán của Schindler và các đối tác kinh doanh.
  • Ralph Fiennes vai Amon Göth, vai phản diện trong phim; Göth là một cán bộ được giao xây dựng và điều hành các trại tập trung ở Płaszów, và là bạn của Schindler.
  • Embeth Davidtz vai Helen Hirsch, một phụ nữ Do Thái trẻ, quyến rũ làm giúp việc nhà cho Göth.
  • Caroline Goodall vai Emilie Schindler, vợ của Schindler.
  • Jonathan Sagall vai Poldek Pfefferberg, một thanh niên sống sót với vợ của mình, và cung cấp hàng cho Schindler từ chợ đen.

Diễn viên phụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ezra Dagan vai Rabbi Lewartow, một giáo sĩ Do Thái làm công việc thợ hàn ở nhà máy Schindler.
  • Malgoscha Gebel vai Wiktoria Klonowska
  • Shmuel Levy vai Wilek Chilowicz
  • Mark Ivanir vai Marcel Goldberg
  • Béatrice Macola vai Ingrid
  • Andrzej Seweryn vai Julian Scherner
  • Friedrich von Thun vai Rolf Czurda
  • Krzysztof Luft vai Herman Toffel
  • Harry Nehring vai Leo John
  • Norbert Weisser vai Albert Hujar
  • Adi Nitzan vai Mila Pfefferberg
  • Michael Schneider vai Juda Dresner
  • Miri Fabian vai Chaja Dresner
  • Anna Mucha vai Danka Dresner
  • Albert Misak vai Mordecai Wulkan
  • Hans-Michael Rehberg vai Rudolf Höss
  • Daniel Del Ponte vai Bác sĩ Josef Mengele

Chủ đề[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim khai thác chủ đề về sự đối lập giữa cái thiện và cái ác, thông qua nhân vật chính là một "người Đức lương thiện", một cách xây dựng nhân vật phổ biến của điện ảnh Hoa Kỳ.[7][8] Trong khi Goeth là ột nhân vật gần như độc ác và đen tối hoàn toàn, Schindler đã phát triển từ một kẻ ủng hộ chủ nghĩa phát xít sang một vị cứu tinh và một anh hùng.[9] Từ đó một chủ đề thứ hai đó là sự chuộc lỗi đã nảy sinh trong con người Schindler, biến ông trở thành một người cha mang trọng trách cứu sống hơn một nghìn người.[10][11]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Pfefferberg, một trong những Schindlerjuden sống sót, đã đặt mục tiêu trong cuộc đời mình phải kể lại câu chuyện về vị ân nhân cứu mạng. Năm 1963, Pfefferberg tìm cách thuyết phục hãng MGM sản xuất một bộ phim tiểu sử dựa trên cuộc đời thật của Oskar Schindler, với kịch bản của Howard Koch, tuy nhiên không thành công.[12][13] Năm 1982, Thomas Keneally xuất bản cuốn tiểu thuyết lịch sử Schindler's Ark, ông viết cuốn sách này sau khi có dịp gặp gỡ Pfefferberg ở Los Angeles vào năm 1980.[14] Chủ tịch MCASid Sheinberg đã gửi cho đạo diễn Steven Spielberg một bài bình luận của thời báo New York Times về cuốn sách này. Spielberg, kinh ngạc khi biết câu chuyện về Schindler, đã hỏi đùa rằng đây có phải là truyện thật không. "Tôi bị thu hút bởi tính nghịch lý bên trong nhân vật này," ông nói. "Điều gì đã xui khiến một người đàn ông đột nhiên mang tất cả những gì ông kiếm được ra để cứu lấy những sinh mạng này?"[15] Spielberg bày tỏ mong muốn với hãng Universal Pictures để mua bản quyền cuốn tiểu thuyết này.[15] Trong buổi gặp mặt đầu tiên vào mùa xuân năm 1983, ông nói với Pfefferberg rằng ông sẽ bắt đầu khởi quay bộ phim này trong mười năm nữa.[16] Trong phần đề tựa cuối phim, Pfefferberg được ghi công là cố vấn của phim dưới biệt danh Leopold Page.[1]

Vụ di dời người Do Thái ở quận Kraków vào tháng 3 năm 1943 là bối cảnh của một đoạn 15 phút trong phim.

Spielberg không dám chắc liệu ông đã đủ chín chắn để làm một bộ phim về thời kỳ Holocaust.[16] Ông từng tìm cách đẩy dự án này sang cho đạo diễn Roman Polanski, nhưng bị từ chối. Mẹ của Polanski bị giết ở Auschwitz, còn bản thân ông cũng từng phải chịu đựng và sống sót khỏi quận Kraków.[16] Polanski sau này đã đạo diễn bộ phim chính kịch riêng của mình về thời kỳ Holocaust, The Pianist, phát hành năm 2002. Spielberg cũng từng mời Sydney PollackMartin Scorsese tham gia, đây là những người từng bày tỏ mong muốn đạo diễn Bản danh sách của Schindler vào năm 1988. Tuy nhiên, Spielberg lại cũng không chắc chắn khi để Scorsese làm đạo diễn, bởi nếu thế thì "Tôi đã bỏ lỡ cơ hội để làm một điều gì đó về Holocaust cho con cái và gia đình tôi."[17] Do đó, Spielberg để cho Scorsese đạo diễn phiên bản làm lại năm 1991 của bộ phim Cape Fear.[18] Billy Wilder cũng đã bày tỏ mong muốn được đạo diễn bộ phim, xem như một sự tưởng niệm tới gia đình ông, bởi nhiều người đã từng bỏ mạng trong thời kỳ Holocaust.[8]

Spielberg cuối cùng quyết định sẽ gắn bó với dự án khi ông để ý rằng những người bài trừ Holocaust đang nhận được sự chú ý đáng kể từ giới truyền thông. Với sự trỗi dậy của chủ nghĩa Quốc xã mới sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, ông lọ ngại rằng mọi người đang tỏ ra quá chịu đựng giống như những năm của thập niên 1930.[8] Sid Sheinberg bật đèn xanh cho dự án với điều kiện trước tiên Spielberg phải làm phim Công viên kỷ Jura đã. Spielberg sau này phát biểu rằng, "Ông ấy biết một khi tôi đã đạo diễn Schindler thì tôi sẽ không thể làm Công viên kỷ Jura được nữa."[2] Bộ phim được cung cấp một kinh phí hạn hẹp là 22 triệu USD, bởi phim về đề tài Holocaust thường không lãi lăm.[19][2] Spielberg chấp nhận không lấy lương và gọi đó là "đồng tiền máu",[2] và tin rằng tác phẩm sẽ thất bại về doanh thu.[2]

Năm 1983, Keneally được mời chuyển thể cuốn sách của mình, và ông đã biến nó thành 220 trang kịch bản. Phiên bản chuyển thể của ông tập trung vào một số mối quan hệ của Schindler, và Keneally thừa nhận ông đã không thu gọn được cốt truyện là mấy. Spielberg mời tiếp Kurt Luedtke, người chuyển thể kịch bản cho phim Out of Africa, viết bản nháp mới. Bốn năm sau Luedtke bỏ cuộc bởi ông cảm thấy sự thay đổi trong trái tim của Schindler quá khó tin.[17] Trong thời kỳ làm đạo diễn, Scorsese đã thuê Steven Zaillian viết kịch bản. Khi tiếp quản trở lại dự án, Spielberg cảm thấy bản nháp dài 115 trang của Zaillian là quá ngắn, và yêu cầu ông kéo dài ra thành 195 trang. Spielberg muốn cốt truyện tập trung hơn nữa vào những người Do Thái, và ông muốn sự thay đổi trong Schindler phải từ từ và không quá rõ ràng, không phải là một sự chuyển biến đột ngột hay bất thình lình. Ông kéo dài phân cảnh giải tán khu quận, bởi ông "thực sự cảm thấy cần phải làm cho cảnh này gần như không thể xem được."[17]

Tuyển diễn viên[sửa | sửa mã nguồn]

Neeson thử vai Schindler từ rất sớm và chính thức được lựa chọn vào tháng 12 năm 1992, sau khi Spielberg thấy ông biểu diễn trong vở nhạc kịch Anna ChristieBroadway.[20] Warren Beatty cũng tới một buổi đọc thử, nhưng Spielberg e ngại rằng ông không thể bỏ được giọng địa phương và rằng ông sẽ mang tới "hiệu ứng ngôi sao điện ảnh".[21] Kevin CostnerMel Gibson bày tỏ mong muốn đảm nhiệm vai Schindler, nhưng Spielberg quyết định chọn một người ít được biết đến hơn là Neeson, để sức mạnh ngôi sao của diễn viên sẽ không lấn át nhân vật.[22] Neeson cảm thấy Schindler ưa tỏ ra thông minh hơn Đức Quốc xã, những kẻ coi ông như thằng hề. "Họ không coi ông ra gì mấy, và ông đã lợi dụng điều đó hết mức."[23] Để giúp ông chuẩn bị cho vai diễn, Spielberg đã cho Neeson xem các đoạn phim của Steve Ross, CEO của Time Warner, người có ảnh hưởng được Spielberg so sánh với Schindler.[24]Ông cũng mang tới một băng thu âm lời nói của Schindler, để Neeson luyện tập ngữ điệu của mình.[25]

Fiennes được tuyển vào vai Amon Goeth sau khi Spielberg xem diễn xuất của anh trong A Dangerous Man: Lawrence After ArabiaEmily Brontë's Wuthering Heights. Spielberg nói về buổi thử vai của Fiennes rằng "Tôi thấy sự độc ác một cách khêu gợi. Đó đều là những thứ tỉ mỉ nhất: có giây phút sự nhân từ rẽ ngang qua đôi mắt của anh ấy rồi ngay lập tức vụt biến."[26] Fiennes đã tăng 28 pound (13 kg) để vào vai này. Anh xem lại các phim thời sự lịch sử và nói chuyện với những người sống sót đã gặp Goeth. Để có thể đảm nhận vai này, Fiennes nói "Tôi tiến gần hơn tới nỗi đau của anh ta. Ẩn sâu trong đó là một con người nứt vỡ khốn khổ. Tôi cảm thấy mâu thuẫn về con người anh ta, thấy tiếc cho anh ta. Anh ta như một con búp bê bẩn thỉu, méo mó được đưa cho tôi và rồi tôi gắn bó với anh ta một cách khác thường."[26] Trang phục của Fiennes trông giống Goeth đến mức khi Mila Pfefferberg (một người sống sót sau Holocaust) gặp anh, bà đã run lên vì sợ hãi.[26]

Vai diễn Itzhak Stern (Ben Kingsley thủ vai) là sự kết hợp giữa nhân viên kế toán Stern, quản lý nhà máy Abraham Bankier, và thư ký riêng của Goeth, Mietek Pemper.[27] Nhân vật này có vai trò như nhận thức và cái tôi thay đổi của Schindler.[28] Kingsley được biết đến với diễn xuất giành giải Oscar, vai Gandhi trong bộ phim tiểu sử năm 1982.[29]

Tóm lại, có 126 vai có lời thoại trong phim. Hàng nghìn diễn viên quần chúng được thuê vào trong quá trình quay phim.[17] Spielberg tuyển các diễn viên người Israel và Ba Lan cho những vai diễn người Đông Âu.[30] Nhiều diễn viên châu Âu tỏ ra miễn cưỡng khi phải mặc quân phục của SS, nhưng sau này một số người đã cảm ơn Spielberg về trải nghiệm khi được đóng bộ phim này.[21] Khi quay được một nửa bộ phim, Spielberg đã nghĩ ra cái kết cho tác phẩm, trong đó 128 người sống sót đã tới thể hiện sự kính trọng trước nấm mồ của Schindler ở Jerusalem. Các nhà sản xuất đã đi tìm những người Schindlerjuden và đưa họ đến hiện trường để quay cảnh này.[17]

Quay phim[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình quay phim chính bắt đầu vào ngày 1 tháng 3 năm 1993 ở Kraków, Poland, với kế hoạch dự kiến kéo dài trong 75 ngày.[31] Đoàn làm phim đã tới quay ở những địa điểm thực hoặc gần những địa điểm có thực trong lịch sử, mặc dù họ phải phục dựng lại trại Płaszów ở một mỏ đá bỏ hoang, bởi ở vị trí của trại hiện nay có thể nhìn thấy những tòa nhà cao tầng.[32][33] Các cảnh quay trong nhà ở nhà máy đồ tráng men tại Kraków được quay ở một khu xưởng tương tự tại Olkusz, còn những cảnh quay ngoại thất và các cảnh quay trên bậc cầu thang của nhà máy thì được quay tại nhà máy thật.[34] Đoàn làm phim không được phép quay rộng hoặc dựng bối cảnh trên nền trại Auschwitz, do đó họ đã quay với một bản sao của trại này ở ngay trước cổng trại thật.[35] Có những vụ việc thể hiện sự bài Do Thái đã diễn ra. Một phụ nữ vô tình gặp Fiennes trong bộ quân phục Đức Quốc xã đã nói rằng "người Đức là những con người tuyệt đẹp. Họ không giết những ai không đáng giết".[26] Những biểu tượng bài Do Thái được vẽ trên những bảng yết thị gần địa điểm quay phim,[17] trong khi suýt cãi lộn với một nữ doanh nhân lớn tuổi nói tiếng Đức cố tình xúc phạm diễn viên người Israel Michael Schneider.[36] Tuy vậy, Spielberg phát biểu rằng vào Lễ Vượt Qua, "tất cả các diễn viên người Đức đã có mặt. Họ đội Mũ Sợ Chúa và đọc Haggadas, còn các diễn viên người Israel đã tới cạnh họ và giải thích với họ về nghi lễ. Thế là đại gia đình các diễn viên đã quây quần cùng nhau, bỏ lại đằng sau những khác biệt về chủng tộc và văn hóa."[36]

"Tôi như bị cuộc đời riêng tát vào mặt. Sự lớn lên của tôi. Sự Do Thái của tôi. Câu chuyện ông bà tôi thường kể về Shoah. Và cuộc đời Do Thái của tôi như rót ngược vào trái tim tôi. Tôi đã khóc suốt."

—Steven Spielberg kể về trạng thái tình cảm của mình trong lúc quay phim[37]

Quay phim Bản danh sách của Schindler là một trải nghiệm đầy cảm xúc với Speiberg, đó là đề tài đã buộc ông phải gặp lại những gì đã chứng kiến trong tuổi thơ của vị đạo diễn, ví dụ như chủ nghĩa bài Do Thái mà ông từng gặp. Ông tỏ ra ngạc nhiên khi bản thân không khóc lúc tới thăm trại Auschwitz; ngược lại ông cảm thấy giận dữ và xúc phạm. Ông là một trong những thành viên đoàn làm phim không dám ép mình chứng kiến khung cảnh lúc quay cảnh những người Do Thái lớn tuổi bị buộc phải khỏa thân và chạy loanh quanh để các bác sĩ Đức Quốc xã lựa chọn đưa đi Auschwitz.[38] Spielberg bình luận rằng ông thấy mình giống như một phòng viên hơn là một nhà làm phim – ông chỉ đạo thiết lập cảnh quay và rồi nhìn các sự việc diễn ra, như thể ông đang chứng kiến chúng hơn là làm một bộ phim.[32] Một số nữ diễn viên đã bật khóc khi quay cảnh trong phòng tắm, trong đó có một người được sinh ra trong trại tập trung.[39] Spielberg, vợ ông Kate Capshaw, và năm đứa con của họ thuê một căn nhà ở ngoại ô Kraków trong thời gian quay phim.[40] Ông sau này đã cảm ơn vợ mình "vì đã cứu ông trong suốt chín mươi hai ngày liên tục... khi mọi thứ trở nên không chịu đựng nổi."[41] Robin Williams gọi Spielberg đến để làm ông tươi tỉnh lên, bởi trên hiện trường không hề có yếu tố hài hước nào.[41] Mỗi tối Spielberg dành ra vài giờ biên tập phim Công viên kỷ Jura được dự kiến công chiếu vào tháng 6 năm 1993.[42]

Spielberg thỉnh thoảng sử dụng tiếng Đức và tiếng Ba Lan trong các cảnh quay để tái tạo lại cảm giác của quá khứ. Ban đầu ông định làm phim bằng hai ngôn ngữ này, nhưng sau đó cho rằng "nếu chỉ bắt người xem đọc [phụ đề] thì an toàn quá. Sẽ thật là có lỗi nếu bắt họ rời mắt khỏi màn hình để chú tâm vào một cái gì khác."[21]

Chi tiết biểu tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Cô bé mặc áo choàng đỏ[sửa | sửa mã nguồn]

Schindler nhìn thấy một cô bé mặc áo choàng đỏ trong lúc quận Kraków đang bị giải tán. Chiếc áo choàng đỏ là một trong những trường hợp hiếm hoi sử dụng màu trong bộ phim chủ yếu là đen trắng.

Mặc dù bộ phim được quay đen trắng, một chiếc áo choàng màu đỏ đã được sử dụng để phân biệt một cô bé trong sự hỗn loạn khi quận Kraków bị giải tán. Sau đó, Schindler nhận ra xác của cô bé đang bị mang đi thiêu hủy nhờ chiếc áo choàng đỏ mà cô bé mặc. Spielberg nói rằng cảnh này tượng trưng cho việc những nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất của chính phủ Hoa Kỳ tuy biết đến chế độ Holocaust nhưng không làm gì để ngăn chặn. "Hình ảnh cô bé mặc áo choàng đỏ đi xuống phố cũng rõ ràng không kém gì việc không có động thái nào được đưa ra để đánh bom những tuyến đường sắt của Đức. Không có động thái nào được thực thi để làm chậm lại... sự hủy diệt của cộng đồng người Do Thái ở châu Âu," ông nói. "Đó là thông điệp của tôi khi để cảnh đó có màu."[43] Cây bút Andy Patrizio của IGN lưu ý rằng thời điểm Schindler nhìn thấy xác chết của bé gái cũng chính là thời điểm ông thay đổi, không còn coi "tro tàn và bồ hóng của những xác chết đang bốc cháy chất đầy trên chiếc ô tô như một sự khó chịu."[44] Giáo sư André H. Caron của Đại học Montréal tự hỏi phải chăng màu đỏ tượng trưng cho "sự vô tội, hy vọng hay máu đỏ của những người Do Thái đang bị hy sinh trong nỗi kinh hoàng của thời kỳ Holocaust."[45]

Cô bé này do diễn viên nhí Oliwia Dąbrowska, lúc quay phim mới ba tuổi. Spielberg đề nghị Dąbrowska đừng xem bộ phim này cho tới khi cô mười tám tuổi, nhưng năm mười một tuổi cô đã xem và đã rất "sợ hãi".[46] Khi đã là người lớn và xem lại tác phẩm điện ảnh, cô tỏ ra tự hào với vai diễn mình thể hiện.[46] Vô tình, có một sự trùng hợp là nhân vật này cũng khá giống trường hợp của Roma Ligocka, người được biết đến ở quận Kraków với chiếc áo choàng đỏ của mình. Ligocka, khác với nhân vật hư cấu trên là bà đã sống sót qua thời kỳ Holocaust. Sau khi bộ phim được phát hành, bà đã viết và xuất bản cuốn truyện của riêng mình, The Girl in the Red Coat: Hồi ký (bản dịch năm 2002).[47] Theo một cuộc phỏng ván các thành viên trong gia đình diễn ra vào năm 2014, cô bé mặc áo choàng đỏ lấy cảm hứng từ một người dân ở Kraków tên là Genya Gitel Chil.[48]

Những cây nến[sửa | sửa mã nguồn]

Cảnh quay mở đầu của bộ phim là hình ảnh một gia đình đang làm lễ Shabbat. Spielberg nói rằng "mở đầu bộ phim với những cây nến đang được thắp ... mở đầu bộ phim với một buổi lễ Shabbat bình thường trước khi sự tàn sát người Do Thái khởi đầu."[17] Khi màu của phim mờ dần, nó mở đường cho một thế giới đầy khói tượng trưng cho những xác người bị đốt ở trại Auschwitz. Chỉ khi đến cuối phim, khi Schindler cho phép các công nhân của mình làm lễ Shabbat, hình ảnh ánh lửa trên cây nến mới khôi phục lại sự ấm áp. Theo Spielberg, chúng tượng trưng cho "chỉ một tia màu, và một tia hy vọng."[17] Sara Horowitz, giám đốc Trung tâm Koschitzky về nghiên cứu Do Thái của Đại học York, coi những cây nến là biểu tượng của người Do Thái ở châu Âu, bị giết rồi thiêu ở bãi đốt. Hai cảnh này đánh dấu sự mở đầu và kết thúc thời kỳ của Đức Quốc xã.[49] Cô chỉ ra rằng thông thường người phụ nữ trong gia đình sẽ thắp cây nến Sabbath và ngâm nga Kiddush. Trong phim đàn ông lại là những người thực hiện nghi lễ này, thể hiện không chỉ sự yếu thế của phụ nữ, mà còn là sự yếu thế của cả đàn ông Do Thái khi so với đàn ông Aryan, đặc biệt là Goeth và Schindler.[50]

Các chi tiết khác[sửa | sửa mã nguồn]

Với Spielberg, bản thân việc bộ phim sử dụng hình ảnh đen trắng cũng đã tượng trưng cho Holocaust rồi: "Holocaust giống như cuộc đời không có ánh sáng. Với tôi biểu tượng của sức sống là màu sắc. Đó là lý do vì sao một bộ phim về đề tài Holocaust phải là phim đen trắng."[51] Robert Gellately lưu ý rằng về tổng thể bộ phim đã có thể được coi như phép ẩn dụ cho Holocaust, ban đầu những chi tiết bạo lực còn lác đác để rồi dày đặc dần và cuối cùng lên đến đỉnh điểm của cái chết và sự hủy diệt. Ông cũng lưu ý sự tương đồng giữa hoàn cảnh của những người Do Thái trong phim và cuộc tranh luận của Đức Quốc Xã giữa hai lựa chọn: một là dùng người Do Thái như những lao động nô lệ hay tiêu diệt họ ngay tức khắc.[52] Theo Alan Mintz, giáo sư nghiên cứu Holocaust tại Trường dòng Thần học Do Thái Hoa Kỳ ở New York, nước cứu sống con người. Ông nhắc đến chi tiết Schindler sắp xếp để phun vòi nước vào một đoàn tàu Holocaust chở đầy những nạn nhân đang chờ chuyển đi, và cảnh ở Auschwitz, nơi phụ nữ được cho tắm rửa thực sự thay vì chỉ cho bơm khí vào.[53]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ phim khởi chiếu ngày 15 tháng 12 năm 1993. Tính đến thời điểm phim ngừng chiếu tại các rạp vào ngày 29 tháng 9 năm 1994, nó đã thu về 96,1 triệu USD (ứng với155 triệu USD vào năm 2015)[54] ở Hoa Kỳ và trên 321,2 triệu USD trên toàn cầu.[55] Ở Đức, phim được công chiếu tại 500 rạp và thu hút trên 100.000 người tới xem chỉ riêng trong tuần đầu tiên[56] và tổng cộng đã có sáu triệu khán giả.[57] Phim khá phổ biến tại Đức và là một thành công trên toàn cầu.[58]

Bản danh sách của Schindler bắt đầu chiếu trên mạng lưới truyền hình Mỹ trên kênh NBC vào ngày 23 tháng 2 năm 1997. Không chiếu kèm quảng cáo, bộ phim đứng thứ ba trong tuần đầu tiên với tỷ lệ xem/chia sẻ đạt 20,9/31,[59] chỉ số Nielsen phim cao nhất kể từ khi NBC phát sóng Công viên kỷ Jura vào tháng 5 năm 1995. Bộ phim bắt đầu chiếu trên hệ thống truyền hình công ở Israel vào Ngày tưởng niệm Holocaust năm 1998.[60]

Đĩa DVD phim được ra mắt vào ngày 9 tháng 3 năm 2004 với hai phiên bản màn ảnh rộng và màn ảnh đầy đủ, loại đĩa sử dụng là đĩa hai mặt, bộ phim được ghi trên mặt A và tiếp tục ở mặt B. Các tính năng đặc biệt của đĩa bao gồm một bộ phim tài liệu do Spielberg giới thiệu.[61] Ngoài ra với hai định dạng trên còn có một bộ quà tặng phiên bản hạn chế, bao gồm: phiên bản màn ảnh rộng của phim, tiểu thuyết của Keneally, nhạc phim trên đĩa CD, một tấm thẻ senitype, và một cuốn sách ảnh nhỏ có tiêu đề Schindler's List: Images of the Steven Spielberg Film (Bản danh sách của Schindler: Hình ảnh từ bộ phim của Steven Spielberg), tất cả được đóng gói trong một cái hộp bằng nhựa trong suốt.[62] Bộ quà tặng đĩa laze là một phiên bản hạn chế khác gồm có nhạc phim, cuốn tiểu thuyết gốc và một quyển sách ảnh đặc biệt.[63] Để kỷ niệm 20 năm ra mắt, bộ phim được phát hành trên đĩa Blu-ray vào ngày 5 tháng 3 năm 2013.[64]

Sau thành công của bộ phim, Spielberg thành lập Quỹ Lịch sử Trực quan của các nạn nhân sống sót thời kỳ Shoah, một tổ chức phi lợi nhuận nhằm mục đích cung cấp kho lưu trữ những câu chuyện của nhiều người sống sót kể lại nhất có thể, để bảo tồn chúng lâu dài. Ông vẫn tiếp tục duy trì kinh phí cho công việc này.[65] Spielberg dùng lợi nhuận của bộ phim để sản xuất một số phim tài liệu có liên quan, bao gồm Anne Frank Remembered (1995), The Lost Children of Berlin (1996), và The Last Days (1998).[66]

Phản hồi[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá của giới chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Bản danh sách của Schindler nhận được nhiều đánh giá tích cực rộng rãi của cả giới chuyên môn và khán giả, nhiều người đánh giá đây là một thành tựu điện ảnh xuất sắc.[67] Một số người Mỹ có tiếng như dẫn chương trình đàm thoại Oprah Winfrey và Tổng thống Bill Clinton đã khuyến khích người dân xem phim này.[3][68] Các nhà lãnh đạo của nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã xem phim và một số người đã có các cuộc gặp riêng với đạo diễn Spielberg.[3] Trang web tổng hợp kết quả đánh giá Rotten Tomatoes cho biết có 97% các nhà phê bình đánh giá tích cực về bộ phim dựa trên 78 bài phê bình, với điểm số trung bình là 9/10. Lời nhận xét chung của trang này viết: "Bản danh sách của Schindler hòa quyện tội ác ghê rợn của chính sách tàn sát người Do Thái của Đức quốc xã với chủ nghĩa nhân đạo rất tế nhị của Steven Spielberg để tạo nên một kiệt tác gây xúc động."[69] Metacritic, trang chuyên đưa ra điểm số đánh giá trung bình cho các phim trên thang điểm 100 dựa trên các bình luận hàng đầu của những nhà phê bình chính thống, cho bộ phim 93 điểm dựa trên 23 đánh giá và kết luận "được hầu hết các nhà phê bình khen ngợi."[70] Stephen Schiff, nhà báo viết cho tờ The New Yorker gọi đây là bộ phim chính kịch lịch sử xuất sắc nhất về đề tài diệt chủng người Do Thái, một bộ phim sẽ "ghi dấu ấn trong lịch sử văn hóa và sẽ tồn tại mãi."[71] Roger Ebert gọi đây là tác phẩm điện ảnh xuất sắc nhất của Spielberg, "các giai đoạn diễn xuất, đạo diễn, biên kịch và thưởng thức đều rất tuyệt vời."[72] Terrence Rafferty, cũng viết cho tờ The New Yorker, ca ngợi "sự táo bạo trong cách kể chuyện cũng như hình ảnh, và sự thẳng thắn trong cảm xúc." Ông cũng nhắc đến diễn xuất của Neeson, Fiennes, Kingsley, và Davidtz với sự tán dương đặc biệt,[73] và gọi cảnh quay trong phòng tắm tập thể của trại tập trung Auschwitz "là cảnh phim ghê sợ nhất từng được thực hiện."[74] James Verniere của báo Boston Herald cho rằng bộ phim có phần dè dặt và thiếu yếu tố gây xúc động mạnh mẽ, như vẫn coi đây là một "bộ phim đáng giá thêm vào hàng ngũ những tác phẩm về thời kỳ diệt chủng người Do Thái."[75] Trong bài phê bình của mình cho tạp chí New York Review of Books, nhà phê bình người Anh John Gross bày tỏ thái độ lo ngại khi cốt truyện của phim đang bị mọi người đa cảm hóa quá mức và sự đa cảm hóa này "đang được đặt không đúng chỗ. Speilberg thểhh iện quan điểm đạo đức rõ ràng và nắm bắt cảm xúc đầy đủ trong tác phẩm của mình. Bộ phim là một thành công rực rỡ."[76] Mintz lưu ý rằng kể cả những nhà phê bình khó tính nhất cũng phải ca ngợi "những hình ảnh xuất sắc" trong mười lăm phút phim miêu tả lại cảnh di dời người Do Thái khỏi Kraków. Ông miêu tả cảnh phim này là rất "chân thực" và "tuyệ tvờii".[77] Ông chỉ ra rằng bộ phim đã góp phần quan trọng trong việc thức tỉnh mọi người nhớ về những tội ác của chế độ Holocaust cũng như nhận thức của các thế hệ sau về giai đoạn lịch sử này khi những nhân chứng sống sót đang lần lượt qua đời, cắt đứt dần sợi dây liên kết với thảm họa trước kia.[78] Khi phim được phát hành tại Đức đã gây ra những cuộc tranh luận rộng rãi về việc tại sao hầu hết người dân Đức hồi đó không làm gì để giúp người Do Thái.[79]

Cũng có nhiều lời chỉ trích bộ phim, hầu hết đến từ giới nghiên cứu chứ không phải truyền thông đại chúng.[80] Horowitz chỉ ra rằng hầu hết các hoạt động của người Do Thái trong khu tập trung chỉ đơn giản là cho vay tiền, giao dịch trên thị trường đen, hay cất giấu tài sản, từ đó tạo nên một cái nhìn "khuôn mẫu" về đời sống của người Do Thái thời kỳ này.[81] Horowitz cũng cho rằng mặc dù cách tái hiện phụ nữ trong bộ phim phản ánh chính xác tư tưởng của Đức quốc xã, song địa vị thấp kém của họ và sợi dây liên kết giữa bạo lực và tình dục chưa được đề cập đúng mức.[82] Giáo sư lịch sử Omer Bartov của Đại học Brown lưu ý rằng hình thể to lớn và tư tưởng mạnh mẽ của các nhân vật Schindler và Goeth đã làm lu mờ hình ảnh những nạn nhân Do Thái, vốn trong bộ phim là những con người nhỏ bé, chạy lon ton xung quanh và luôn trong trạng thái sợ hãi – nền tảng đơn thuần của cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác.[83] Các tiến sĩ Samuel J. Leistedt và Paul Linkowski công tác tại Đại học Université libre de Bruxelles gọi Goeth là một nhân vật loạn thần cổ điển trong điện ảnh.[84]

Horowitz chỉ ra rằng sự phân hóa giữa những người tốt "tuyệt đối" và những kẻ xấu "tuyệt đối" khiến người đọc bỏ qua sự thực rằng những kẻ thực thi dưới chế độ Holocaust thực chất cũng chỉ là những người bình thường; bộ phim không đào sâu vào cách hầu hết người Đức thời bấy giờ nhận thức hay ủng hộ/ phản đối chế độ Holocaust.[85] Tác giả Jason Epstein bình luận rằng bộ phim gây ra sự hiểu nhầm rằng nếu người ta thông minh hoặc may mắn thì có thể sống sót sau chế độ diệt chủng; trong khi đây không phải là nhân tố chính.[86] Spielberg đáp lại những người chỉ trích cảnh Schindler bật khóc khi ông tạm biệt công nhân của mình là quá uỷ mị bằng cách chỉ ra rằng cảnh quay đó được thực hiện để mang lại cảm giác về sự mất mát và cho người đọc cơ hội bày tỏ sự xót xa cùng các nhân vật trên màn ảnh.[87]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Freer 2001, tr. 220
  2. ^ a ă â b c McBride 1997, tr. 416
  3. ^ a ă â McBride 1997, tr. 435
  4. ^ Corliss & Schickel 2005
  5. ^ Maltin 1999
  6. ^ Channel 4 2008
  7. ^ Loshitsky 1997, tr. 5
  8. ^ a ă â McBride 1997, tr. 427
  9. ^ McBride 1997, tr. 428
  10. ^ Loshitsky 1997, tr. 43
  11. ^ McBride 1997, tr. 436
  12. ^ McBride 1997, tr. 425
  13. ^ Crowe 2004, tr. 557
  14. ^ Palowski 1998, tr. 6
  15. ^ a ă McBride 1997, tr. 424
  16. ^ a ă â McBride 1997, tr. 426
  17. ^ a ă â b c d đ e Thompson 1994
  18. ^ Crowe 2004, tr. 603
  19. ^ Palowski 1998, tr. 27
  20. ^ Palowski 1998, tr. 86–87
  21. ^ a ă â Phỏng vấn Susan Royal
  22. ^ Palowski 1998, tr. 86
  23. ^ Entertainment Weekly, 21 tháng 1 năm 1994
  24. ^ McBride 1997, tr. 429
  25. ^ Palowski 1998, tr. 87
  26. ^ a ă â b Corliss 1994
  27. ^ Crowe 2004, tr. 102
  28. ^ Freer 2001, tr. 225
  29. ^ Palowski 1998, tr. 87–88
  30. ^ Mintz 2001, tr. 128
  31. ^ Palowski 1998, tr. 48
  32. ^ a ă McBride 1997, tr. 431
  33. ^ Palowski 1998, tr. 14
  34. ^ Palowski 1998, tr. 109, 111
  35. ^ Palowski 1998, tr. 62
  36. ^ a ă Ansen & Kuflik 1993
  37. ^ McBride 1997, tr. 414
  38. ^ McBride 1997, tr. 433
  39. ^ Susan Royal interview
  40. ^ Palowski 1998, tr. 44
  41. ^ a ă McBride 1997, tr. 415
  42. ^ Palowski 1998, tr. 45
  43. ^ Schickel 2012, tr. 161–162
  44. ^ Patrizio 2004
  45. ^ Caron 2003
  46. ^ a ă Gilman 2013
  47. ^ Logocka 2002
  48. ^ Rosner 2014
  49. ^ Horowitz 1997, tr. 124
  50. ^ Horowitz 1997, tr. 126–127
  51. ^ Palowski 1998, tr. 112
  52. ^ Gellately 1993
  53. ^ Mintz 2001, tr. 154
  54. ^ Consumer Price Index (estimate) 1800–2014. Federal Reserve Bank of Minneapolis. Retrieved February 27, 2014.
  55. ^ Freer 2001, tr. 233
  56. ^ Loshitsky 1997, tr. 9, 14
  57. ^ Berliner Zeitung 1997
  58. ^ Loshitsky 1997, tr. 11, 14
  59. ^ Broadcasting & Cable 1997
  60. ^ Meyers, Zandberg & Neiger 2009, tr. 456
  61. ^ Amazon, DVD
  62. ^ Amazon, Bộ quà tặng
  63. ^ Amazon, Đĩa laser
  64. ^ Amazon, Blu-ray
  65. ^ Freer 2001, tr. 235
  66. ^ Freer 2001, tr. 235–236
  67. ^ Mintz 2001, tr. 126
  68. ^ Horowitz 1997, tr. 119
  69. ^ “Schindler's List (1993)”. Rotten Tomatoes. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2014. 
  70. ^ “Schindler's List Reviews”. Metacritic. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2014. 
  71. ^ Schiff 1994, tr. 98
  72. ^ Ebert 1993
  73. ^ Rafferty 1993
  74. ^ Mintz 2001, tr. 132
  75. ^ Verniere 1993
  76. ^ Gross 1994
  77. ^ Mintz 2001, tr. 147
  78. ^ Mintz 2001, tr. 131
  79. ^ Houston Post 1994
  80. ^ Mintz 2001, tr. 134
  81. ^ Horowitz 1997, tr. 138–139
  82. ^ Horowitz 1997, tr. 130
  83. ^ Bartov 1997, tr. 49
  84. ^ Leistedt & Linkowski 2014
  85. ^ Horowitz 1997, tr. 137
  86. ^ Epstein 1994
  87. ^ McBride 1997, tr. 439

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng
Tiền vị:
Unforgiven
Giải Oscar cho phim hay nhất
1993
Kế vị
Forrest Gump
Tiền vị:
Scent of a Woman
Giải Quả cầu vàng cho phim chính kịch hay nhất
1993
Tiền vị:
Howards End
Giải BAFTA cho phim hay nhất
1993
Kế vị
Four Weddings and a Funeral

Bản mẫu:Giải BAFTA cho phim hay nhất