Constantine I
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Constantine I | |
|---|---|
| Emperor of the Roman Empire | |
| Head of Constantine's colossal statue at the Capitoline Museums | |
| Trị vì | 306 - 312 (hailed as Augustus in the West, officially made Caesar by Galerius with Severus as Augustus, by agreement with Maximian, refused relegation to Caesar in 309); 312 - 324 (undisputed Augustus in the West); 324 - 22 May 337 (emperor of the whole empire) |
| Tên đầy đủ | Flavius Valerius Aurelius Constantinus |
| Sinh | 27 February c. 274[1] |
| Naissus (modern Niš, Serbia) | |
| Mất | 22 tháng 5, 337 |
| Chôn ở | Constantinople |
| Tiền nhiệm | Constantius Chlorus |
| Kế nhiệm | Constantine II, Constantius II and Constans |
| Vợ | Minervina, died or divorced before 307 |
| Fausta | |
| Con cái | Constantina, Helena, Crispus, Constantine II, Constantius II and Constans |
| Triều đại | Constantinian |
| Cha | Constantius Chlorus |
| Mẹ | Helena |
Flavius Valerius Aurelius Constantinus[2] (27 tháng 2 sinh khoảng 280[1] – 22 tháng 5 337 AD), thường được biết đến như là Constantine I, (giữa Giáo hội Công giáo La Mã) và Constantine Đại Đế, hay Thánh Constantine (giữa những người Thiên chúa giáo theo Chính thống giáo Đông phương (Eastern Orthodox Church), là một vị Hoàng đế La Mã, được tôn là Augustus bởi quân lính của ông năm 306, người trị vị phần Đế quốc La Mã mở rộng dần cho đến khi ông mất. Được biết đến như là Hoàng đế La Mã đầu tiên theo Thiên chúa giáo, Sắc lệnh Milan của ông đã chấm dứt thảm sát người theo Thiên chúa giáo trong toàn Đế quốc.
Lịch nghi lễ cúng tế Byzantine, được theo bởi Chính thống giáo Đông phương (Eastern Orthodox Church) và nhà thờ Catholic phía đông, liệt kê cả Constantine và mẹ ông ta Helena như là hai vị thánh. Mặc dù ông không được kể vào danh sách các vị thánh của Nhà thờ Latin, không công nhận Constantine như là thánh, ông vẫn được kính trọng dưới danh hiệu "Đại Đế" vì những đóng góp của ông cho Thiên chúa giáo.
Năm 324, Constantine tuyên bố quyết định biến Byzantium thành Nova Roma (Thành Rome mới) và vào 11 tháng 5, 330, ông chính thức tuyên bố thành phố này là thủ đô mới của Đế quốc La Mã. Thành phố được đặt tên lại là Constantinople, Thành phố của Constantine, sau khi Constantine mất năm 337. Nó vẫn là thủ đô của Đế quốc Byzantine trên hơn một ngàn năm, chỉ bị ngắt quãng tạm thời bởi sự đốt phá và chiếm đóng của quân Thập tự chinh lần 4 năm 1204, cho đến khi rơi vào Đế quốc Ottoman năm 1453.
Mục lục |
[sửa] Cuộc đời
[sửa] Đầu đời
Flavius Valerius Aurelius Constantinus được sinh ra ở Naissus (nay là Niš, Serbia) ở tỉnh Moesia Superior vào 27 tháng 2 khoảng 280, cha là tướng La Mã và sau này trở thành Hoàng đế La Mã phía Tây Constantius Chlorus, mẹ là St. Helena. Helena, người có ảnh hưởng to lớn xuyên suốt cuộc đời của con trai, xuất thân từ một gia đình khiêm tốn; Ambrose viết rằng bà làm việc trong một quán rượu. Cha ông rời bỏ mẹ ông khoảng năm 292 để thành hôn với Flavia Maximiana Theodora, con gái (hay con nuôi) của Hoàng đế Tây La Mã Maximian, mặc dù Constantine đã tái lập mẹ ông, St. Helena, như là "Augusta, mẹ của Caesar" sau khi cha ông qua đời. Theodora cho ra đời sáu người anh em kế của Constantine, trong đó có cả Julius Constantius.[3]
Cậu bé Constantine được giáo dục tốt, trở thành người nói thông thạo tiếng Hy Lạp, và rất am hiểu về triết học.[4] Ông phục vụ trong triều đình của Diocletian ở Nicomedia, sau khi cha ông được phong như là một trong hai caesares (hoàng đế trẻ) của Tetrarchy năm 293. Năm 305, cả augusti (hoàng đế cả), Diocletian và Maximian, thoái vị, và Constantius nối ngôi Maximian như là augustus phía tây. Mặc dù con trai hợp pháp của hai hoàng đế là có ở đó (Constantine và Maxentius, con của Maximian), cả hai đều không được để ý tới trong quá trình chuyển giao quyền lực. Thay vào đó, Severus và Maximinus Daia được phong hai vị caesar. Constantine sau đó rời khỏi Nicomedia để ở cùng cha ở xứ Gaul của La Mã; tuy vậy, Constantius lâm bệnh trong một cuộc viễn chinh tiến đánh người Pict của xứ Caledonia, và qua đời vào 25 tháng 7, 306 ở Eboracum (York). Tướng Chrocus, gốc người Alamanni, và quân lính trung thành với Constantius lập tức tôn Constantine lên làm augustus. Dưới Tetrarchy, sự kế ngôi của Constantine có vẻ không rõ ràng cho lắm. Trong khi Constantius với tư cách hoàng đế cả có thể "tạo ra" một caesar mới, tuyên bố của Constantine (hay, quân lính của ông ta) lên danh hiệu augustus đã mặc kệ hệ thống truyền ngôi thiết lập vào năm 305. Do đó, Constantine đã yêu cầu Galerius, vị augustus phía đông, công nhận ông là người thừa kế ngôi vị của cha để lại. Galerius đã phong Constantine danh hiệu caesar, khẳng định quyền cai trị của Constantine trên vùng lãnh thổ của cha ông, và phong chức cho Severus trở thành augustus của phía Tây.[5]
[sửa] Nhà cai trị phía Tây
Phần lãnh thổ của Constantine trong đế quốc bao gồm Britain, Gaul, các tỉnh Germanic, và Tây Ban Nha. Ông do đó nắm trong tay một trong những đội quân La Mã hùng mạnh nhất, đóng dọc theo biên giới Rhine quan trọng. Khi Gaul là một vùng giàu có của đế quốc, nó đã chịu đựng nhiều thứ trong Khủng hoảng ở Thế kỉ thứ 3. Trong những năm đóng tại Gaul, từ 306 đến 316, Constantine tiếp tục những cố gắng của cha mình để trấn giữ biên giới Rhine và xây dựng lại những tỉnh Gallic. Nơi cư ngụ chính của ông trong thời gian đó là Trier.[6]
Ngay sau khi được phong là hoàng đế, Constantine bỏ chiến dịch đánh Anh của cha ông và quay lại xứ Gaul để dập tắt cuộc khởi nghĩa của người Frank. Một cuộc viễn chinh càn quét các bộ tộc người Frank theo sau vào năm 308. Sau chiến thắng này, ông bắt đầu cho xây dựng một cây cầu bắt ngang sông Rhine tại Cologne để thiết lập một căn cứ vĩnh viễn ở phía phải của bờ sông. Một chiến dịch mới năm 310 đã bị bãi bỏ bởi sự nổi loạn của Maximian mô tả ở đoạn dưới. Những cuộc chiến cuối cùng của Constantine trên chiến tuyến sông Rhine diễn ra vào năm 313, sau khi ông quay lại từ Ý, và một lần nữa ông lại chiến thắng.[7]
Mục đích chính của Constantine là sự ổn định, mà ông cố gắng đạt được bằng những cuộc viễn chinh nhanh chóng, thường tàn bạo, trừng phạt các bộ tộc nổi loạn, phô diễn sức mạnh quân sự của ông bằng cách chinh phục kẻ thù trên phía bờ sông Rhine của họ, và thảm sát nhiều tù binh chiến tranh trong các trận đấu trong đấu trường (arena). Chiến thuật này chứng tỏ khá thành công, vì chiến tuyến Rhine khá là yên lặng trong phần còn lại của thời gian ông trị vì.
Trong những mâu thuẫn nội bộ của Tetrarchy, Constantine cố gắng giữ quan điểm trung lập. Năm 307, hoàng đế cả Maximian (vừa quay lại vũ đài chính trị sau khi thoái vị năm 305) ghé thăm Constantine để tranh thủ sự ủng hộ của ông trong chiến tranh của Maxentius, con trai ông ta, chống lại Severus và Galerius. Constantine thành hôn với con gái của Maximian tên là Fausta để kết mối liên minh và được phong lên chức Augustus bởi Maximian. Tuy nhiên ông không can thiệp chính trị cho danh nghĩa của Maxentius.[8]
Maximian quay lại năm 308 sau khi ông không lật đổ được con trai mình. Cuối năm đó, tại hội nghị Carnuntum giữa Diocletian, Galerius và Maximian, Maximian bị buộc thoái vị một lần nữa và Constantine giảm chức xuống caesar. Vào năm 310, Maximian có liên quan đến một âm mưu ám sát con rể của mình khi Constantine quay lại sau chiến dịch đánh người Frank. Cuộc mưu sát bị dập tắt nhanh chóng khi Constantine phát giác, và Maximian bị giết hay bị buộc phải tự tử. Cả Constantine và Maximinus Daia đều thất vọng vì thấy bị hạ chức xuống caesar và sự bổ nhiệm của Licinius, và sau đó đã chống lại sắc lệnh đó và tự phong là Augustus, vì đã được phong bởi Galerius vào năm 310, do đó chính thức tạo ra bốn Augusti. Khi Galerius mất năm 311, người cai trị với đủ quyền lực để tiếp tục hệ thống tetrarchy đã từ giã sân khấu, và do đó hệ thống nhanh chóng suy giảm. Trong cuộc tranh chấp quyền lực sau đó, Constantine liên minh với Licinius, trong khi Maximinus tiếp cận Maxentius, người vẫn chính thức được xem là có quyền cao hơn.[9]
[sửa] 312 đến 324
Đầu năm 312, Constantine vượt qua dãy núi Alps với quân đội của mình và tấn công Maxentius. Ông nhanh chóng chinh phục vùng bắc nước Ý trong những trận đánh Turin và Verona và sau đó tiến về Rome. Nơi đó Constantine với một đội quân gần 100,000 người (90,000 bộ binh và 8,000 kỵ binh)[10] đã đánh bại Maxentius trong trận đánh trên cầu Milvian, mà kết quả là ông trở thành Augustus phía Tây, hay là người cai trị toàn bộ Đế quốc La Mã phía Tây. Trong trận đánh đã đi vào lịch sử này Constantine đã cho quân lính mình khắc lên khiên của họ ký hiệu mà những người theo Thiên chúa giáo tin là ký hiệu labarum, mặc dù các sử gia vẫn còn tranh cãi rằng là liệu những kí hiệu đó có phải là Thiên chúa giáo rõ rệt, hay là kí hiệu cổ của thần mặt trời.[11]. Kí hiệu labarum và khẩu hiệu đi kèm theo In Hoc Signo Vinces (trong dấu hiệu này, bạn sẽ chinh phục) được kể là từ kết quả của hình ảnh hiện ra trước Constantine tại Saxa Rubra, là nguyên nhân mà cuối cùng ông thuận chuyển sang Thiên chúa giáo. Trong những năm kế tiếp đó, ông dần củng cố quân đội của mình mạnh hơn tất cả các đối thủ của mình trong hệ thống Tetrarchy đang suy yếu.
Năm 313, ông gặp Licinius ở Milan để kết chặt liên minh giữa họ bằng sự thành hôn của Licinius và em gái kế của Constantine là Constantia. Trong cuộc gặp gỡ này, hai vị hoàng đế đã đồng ý về sắc lệnh bây giờ gọi là Sắc lệnh Milan, chính thức cho phép tất cả mọi tôn giáo hoạt động tự do trong toàn đế quốc, đặc biệt là Thiên chúa giáo.[12] Tuy nhiên cuộc hội nghị đã bị cắt ngắn khi tin tức đến tai Licinius rằng đối thủ của ông ta là Maximinus Daia đã vượt qua Bosporus và xâm lược vào lãnh thổ thuộc Licinius. Licinius từ biệt và cuối cùng đã đánh bại Maximinus, nắm lại toàn quyền điều khiển phần phía đông của Đế quốc La Mã. Tuy nhiên những quan hệ giữa hai vị hoàng đế còn lại ngày càng xấu đi và hoặc là năm 314 hay 316, Constantine và Licinius đánh lẫn nhau trong chiến tranh Cibalae, với Constantine (với 30,000 quân) là người chiến thắng[13]. Họ đụng độ lần nữa ở trận Campus Ardiensis năm 317, và đi tới thỏa thuận rằng con trai của Constantine là Crispus và Constantine II, và con trai của Licinius là Licinianus được phong caesars.[14]
Vào năm 320, Licinius đã hạn chế tự do tôn giáo được hứa bởi Sắc lệnh Milan năm 313 và bắt đầu một cuộc giết hại những người theo Thiên chúa giáo.[15]. Điều đó đã thách thức Constantine ở phía tây, mà đỉnh cao là nội chiến lớn năm 324. Vào khoảng AD 323, Constantine I đánh bại đoàn chiến thuyền của Licinius với khoảng 200 tàu chiến.[13] Licinius, được giúp bởi lính đánh thuê người Goth, tượng trưng cho quá khứ và niềm tin cổ đại của Paganism. Constantine và người Frank của ông hành quân ngọn cờ Thiên chúa giáo của labarum, và cả hai đều nhìn những trận đánh dưới danh nghĩa tôn giáo. Dù là yếu hơn về lực lượng, nhưng được cổ vũ với niềm tin, đội quân của Constantine đã chiến thắng trong những trận đánh Adrianople, Hellespont, và Chrysopolis.[16]
Với thất bại và cái chết của Licinius một năm sau đó (ông bị kết tội mưu sát Constantine và bị xử tử), Constantine trở thành hoàng đế duy nhất của Đế quốc La Mã.[17]
[sửa] Thành lập La Mã mới
Thất bại của Licinius đại diện cho sự qua đi của Đế quốc La Mã cũ, và sự bắt đầu của vai trò của Đế quốc Đông La Mã như là trung tâm học tập, phát triển, và bảo toàn văn hóa. Constantine cho xây dựng lại thành phố Byzantium, và đặt tên lại thành Nova Roma (Rome mới) là cho ban hành những đồng xu kỉ niệm năm 330 để kỉ niệm sự kiện này. Ông cho xây ở Nova Roma với Nghị viện và các văn phòng dân sự giống như những văn phòng ở Rome. Thành phố mới này được bảo vệ với Thập Tự thật(True Cross), gậy của Moses và các thánh vật, dù cho một cameo bây giờ ở Bảo tàng Hermitage cũng minh họa việc Constantine được đội vương miện bởi tyche của thành phố mới [1]. Những hình ảnh của các vị thần cũ được thay thế và thường được hòa nhập vào các biểu tượng của Thiên chúa giáo. Nơi nền cũ của đền thờ của thần Aphrodite Nhà thờ của các Thánh tông đồ được xây lên. Nhiều thế hệ sau đó có một câu chuyện rằng một hình ảnh linh thiêng đã dẫn Constantine đến địa điểm này, và một vị thần mà không ai khác có thể nhìn thấy, đã dẫn ông tới địa điểm của những bức tường mới. Sau khi ông qua đời, thủ đô được đặt tên lại là Nova Roma Constantinopolitana (Constantinople trong tiếng Anh, "thành phố của Constantine").[17]
[sửa] 326–mất
Năm 326, Constantine cho tra khảo con trai cả là Crispus và ra lệnh xử tử, bởi vì ông tin vào các lời cáo buộc rằng Crispus đã tư tình với Fausta, vợ thứ hai của Constantine. Một vài tháng sau ông cũng ra lệnh xử tử Fausta vì bà ta là nguồn của những cáo buộc sai sự thật đó.
Eusebius viết rằng Constantine được rửa tội chỉ không lâu trước khi chết vào năm 337.[18] Ông di chuyển từ thủ đô đến nhà tắm nước nóng ở gần đó để lấy nước, và sau đó đến thành phố của mẹ ông là Helenopolis, nơi ông cầu nguyện trong một ngôi nhà thờ lớn bà đã cho xây để vinh danh thánh tông đồ Lucian. Với điều này, ông đã theo một phong tục thời đó là trì hoãn việc rửa tội tới tuổi già hay lúc gần chết.[19] Theo như Jerome, Constantine đã lựa chọn cha xứ Eusebius của Nicomedia làm lễ rửa tội cho ông. Sau khi ông mất, xác của ông được chuyển về lại Constantinople và được chôn trong Nhà thờ các Thánh tông đồ ở nơi đó.[20]
[sửa] Truyền ngôi
Ông được nối ngôi bởi 3 người con trai sinh bởi Fausta, Constantine II, Constantius II và Constans. Nhiều bà con của ông bị giết hại bởi những người theo Constantius. Ông cũng có hai cô con gái, Constantina và Helena, vợ của Hoàng đế Julian.[21]
[sửa] Constantine và Thiên chúa giáo
Constantine có lẽ được biết đến nhiều nhất như là Hoàng đế La Mã đầu tiên theo Thiên chúa giáo. Triều đại của ông là một bước ngoặt lịch sử của Giáo hội Thiên chúa giáo. Năm 313 Constantine công bố chấp nhận Thiên chúa giáo trong Sắc lệnh Milan, bãi bỏ những trừng phạt đối với những người theo Thiên chúa giáo (mà vì vậy nhiều người đã tử vì đạo trong các cuộc thảm sát người theo Thiên chúa giáo trước đây và trả lại các tài sản đã bị tịch thu của Giáo hội. Tuy một sắc lệnh tương tự đã được ban hành vào năm 311 bởi Galerius, lúc đó là hoàng đế cả của Tetrarchy,[22] triều đại lâu dài của Constantine, sự chuyển đổi của ông, và sự bảo trợ Giáo hội của ông đã thiết lập lại vị thế mới của Thiên chúa giáo trong toàn đế quốc.
Các học giả vẫn còn tranh cãi liệu là Constantine đã chuyển theo Thiên chúa giáo thời trẻ theo mẹ ông là St. Helena, hay là ông chuyển dần sang Thiên chúa giáo trong suốt cuộc đời.[23] Constantine trên 40 tuổi khi cuối cùng ông tuyên bố rằng mình theo Thiên chúa giáo.[24] Khi viết cho những người Thiên chúa giáo, Constantine nói rõ là ông tin là những sự thành công của ông là do sự bảo vệ của Christian High God.[25] Trong suốt triều đại của ông, Constantine đã bảo trợ Giáo hội về mặt tài chính, xây dựng nhiều thánh đường khác nhau (basilica), ban những đặc quyền (e.g. miễn một số thuế) cho các tăng lữ, thăng chức những người Thiên chúa giáo tới những vị trí cao trong nhà nước, và trả lại những tài sản tịch thu trong Đại thảm sát thời Diocletian.[26] Những nhà thờ nổi tiếng của ông bao gồm Nhà thờ Holy Sepulchre và Nhà thờ Thánh Peter (Old Saint Peter's Basilica).
Triều đại của Constantine đã thiết lập một tiền lệ cho một vị trí Giáo hoàng trong Giáo hội Thiên chúa giáo; Constantine tự cho mình có trách nhiệm với God về sức khỏe về mặt tâm linh của thần dân của ông ta, và do đó ông có trách nhiệm duy trì giáo lý (orthodoxy).[27] Đối với Constantine, hoàng đế không quyết định ra giáo lý - đó là trách nhiệm của các cha xứ - mà đúng hơn vai trò của ông là bảo vệ giáo lý, diệt bỏ những điều mê tín, và ủng hộ một sự thống nhất về các vấn đề tôn giáo.[28] Hoàng đế đảm bảo rằng God được tôn thờ đúng cách trong đế quốc của ông; và tôn thờ thế nào là đúng đắn là do Giáo hội quyết định.[29]
Vào năm 316, Constantine đảm nhiệm vai trò giám khảo trong cuộc tranh cãi ở Bắc Phi về những mê tín của chủ nghĩa Donatism. Quan trọng hơn, năm 325 ông triệu tập Hội đồng Nicaea, là Hội đồng Ecumenical đầu tiên (không kể Hội đồng Jerusalem nếu như sự kiện đó được tính vào), để bàn về sự mê tín của chủ nghĩa Arianism.
[sửa] Constantine và người Do Thái
Constantine đã ban hành một số đạo luật có liên quan tới người Do Thái: họ bị cấm không được sở hữu nô lệ theo Thiên chúa giáo và không được circumcise nô lệ của họ. Chuyển đạo từ Thiên chúa giáo sang Do Thái giáo bị cấm. Hội họp nghi lễ tôn giáo bị giới hạn, nhưng người Do Thái được phép vào Jerusalem vào dịp Tisha B'Av, kỉ niệm ngày Đền thờ ở Jerusalem bị phá hủy. Constantine cũng duy trì việc cấm ăn mừng lễ Phục sinh (Easter) trước lễ Passover của người Do Thái ban hành bởi Hội đồng Nicaea (nisan xiv), i.e. Quartodecimanism, xem thêm tranh cãi lễ Phục sinh.[30]
[sửa] Các cải cách
[sửa] Tư tưởng và biểu tượng của Constantine
Các đồng xu cho đúc bởi các hoàng đế thường cho thấy các chi tiết về các hình tượng cá nhân của họ. Trong phần đầu của triều Constantine, các biểu tượng đầu tiên của Mars (thần chiến tranh) và sau đó (từ 310) là Apollo như là thần Mặt trời luôn luôn xuất hiện trên mặt trái của đồng xu.[cần chú thích] Mars đã là biểu tượng của Tetrarchy, và Constantine sử dụng biểu tượng này để nhấn mạnh sự hợp pháp của quyền lực của ông. Sau khi phá vỡ liên minh với bạn cũ của cha ông là Maximian năm 309–310, Constantine bắt đầu tuyên bố sự truyền ngôi là hợp pháp từ hoàng đế thứ kỉ thứ 3 là Marcus Aurelius Claudius Gothicus (Claudius II), anh hùng của Trận đánh Naissus (Tháng 9, 268).[31]
Gothicus đã tuyên bố về sự bảo vệ linh thiêng của Apollo-Sol Invictus (Thần Mặt trời). Constantine cũng tuyên bố liên minh với Sol Invictus, là vị thần linh cuối cùng xuất hiện trên các đồng xu của ông ta.[32] Mặt trái của những đồng xu thời ông liên tục trong nhiều năm là "người bạn, Mặt trời không thể bị chinh phục" của ông — dòng chú thích là SOLI INVICTO COMITI.
[sửa] Triều đình Constantine
Constantine tôn trọng văn hóa Thiên chúa giáo, triều đình của ông ta đã bao gồm những người khả kính.[cần chú thích] Những gia đình đầu triều không chấp nhận Thiên chúa giáo không được bổ nhiệm vào chức vụ quan trọng, nhưng 2/3 chính quyền cấp cao của ông không phải là Thiên chúa giáo.[33]
[sửa] Lưu truyền của Constantine
Mặc dù ông có được danh hiệu "Đại Đế" từ các sử gia Thiên chúa giáo rất lâu sau khi ông qua đời, ông có thể đạt được danh hiệu đó chỉ dựa vào các chiến thắng và các thành công quân sự của ông. Thêm vào việc thống nhất lại đế quốc dưới quyền một hoàng đế, Constantine đã thắng những trận lớn đánh lại người Frank và người Alamanni năm 306–308, người Frank một lần nữa 313–314, người tervingian Goth vào 332 người Sarmatian năm 334. Thật ra, cho đến 336, Constantine đã đánh chiếm lại được hầu hết các tỉnh đã bị mất từ lâu như Dacia, người Aurelian đã bị buộc phải bỏ tỉnh này năm 271. Vào thời gian ông chết, ông đang chuẩn bị một chiến dịch viễn chinh chống lại các cuộc cướp phá ở các tỉnh phía đông từ Đế quốc Ba Tư.[34]
Đế quốc Byzantine đã xem Constantine là người sáng lập và Thánh chế La Mã cũng xem ông là một trong những nhân vật đáng kính của lịch sử Thánh chế. Tron cả phía đông và phía tây, các Hoàng đế mới thỉnh thoảng được vinh danh như là một "Constantine mới". Hầu hết các nhà thờ Thiên chúa giáo phía đông đều xem Constantine là một vị thánh.[35] Ở phía đông đôi khi ông được gọi là "Ngang với thánh tông đồ" (isapostolos) hay là "thánh tông đồ thứ 13"[2].
[sửa] Truyền thuyết và đóng góp của Constantine
Những năm về sau, các sự kiện lịch sử được che phủ bởi các truyền thuyết. Người ta cho rằng sẽ là không thích hợp khi nói rằng Constantine được rửa tội vào giây phút hấp hối bởi một cha xứ với lai lịch không rõ ràng, và do đó nổi lên một truyền thuyết rằng Giáo hoàng Sylvester I (314-335) đã chữa vị Hoàng đế thờ thần linh khỏi bệnh phong cùi (leprosy). Theo như truyền thuyết này, Constantine được rửa tội sau đó và ban tặng nhiều tòa nhà cho Giáo hoàng. Vào thế kỉ thứ tám, một tài liệu gọi là "Ban tặng của Constantine" xuất hiện lần đầu tiên, trong đó nói rằng Constantine sau khi chuyển sang Thiên chúa giáo xong đã trao lại quyền hành phía Đông cho Rome, Italy và quyền lực phía Tây cho Giáo hoàng. Trong thời Thượng Trung cổ, tài liệu này được sử dụng và được công nhận như là cơ sở cho quyền lực thế tục của Giáo hoàng, mặc dù nó bị tuyên bố là giả mạo bởi Hoàng đế Otto III và được than khóc như là gốc rễ của những ham muốn thế tục của Giáo hoàng bởi nhà thơ Dante Alighieri. Vào thế kỉ 15, nhà ngữ văn Lorenzo Valla đã chứng minh rằng tài liệu này là giả mạo.
[sửa] Constantine trong Historia của Geoffrey xứ Monmouth'
Vì danh tiếng của ông và vì ông được phong Hoàng đế trên lãnh thổ của Great Britain, Constantine sau này cũng được xem như là một vua của Anh. Vào thế kỉ thứ 11, nhà văn người Anh là Geoffrey of Monmouth viết một cuộc sách tựa đề là Historia Regum Britanniae, trong đó ông kể lại những chuyện được cho là lịch sử của người Briton và các vị vua của họ từ Chiến tranh thành Troy (Trojan War), vua Arthur và những cuộc chinh phạt của người Anglo-Saxon. Trong cuốn này, Geoffrey nói rằng thật ra mẹ của Constantine, bà Helena thật ra là con gái của "Vua Cole", một vị vua trong truyền thuyết của người Briton và là người lập ra thành phố Colchester mang tên ông. Một người con gái của Vua Cole chưa được nhắc đến trước đây trong truyền thuyết, ít nhất là trong văn viết, và câu chuyện về phả hệ này đã phản ánh mong muốn của Geoffrey tạo ra một hậu duệ hoàng gia có tính liên tục. Geoffrey cho rằng thật ra không phải đạo lý khi một vị vua có tổ tiên không được cao quý cho lắm. Geoffrey cũng nói rằng Constantine được phong "Vua của người Briton" tại York, chứ không phải Hoàng đế La Mã.[36]
[sửa] Chú thích
- ^ a b Birth dates vary but recent mainstream sources use "ca. 274" such as in "Constantine", Encyclopædia Britannica, 2007 Online edition; and "Constantine", Dictionary of the Middle Ages, volume 3, 1983.
- ^ In (Latin Constantine's official imperial title was IMPERATOR CAESAR FLAVIVS CONSTANTINVS PIVS FELIX INVICTVS AVGVSTVS, Imperator Caesar Flavius Constantine Augustus, the pious, the fortunate, the undefeated. After 312, he added MAXIMVS ("the greatest"), and after 325 replaced ' ("undefeated") with VICTOR, as invictus reminded of Sol Invictus, the Sun God.
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 12–13 & p. 71, figure 9.
- ^ Barnes, T.D., Constantine and Eusebius Cambridge, MA and London, 1981.
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 14–15.
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 16–17.
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 15–16.
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 15–16.
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 15–16.
- ^ J. Norwich, Byzantium: The Early Centuries, 38
- ^ Elizabeth DePalma Digeser, "The Making of A Christian Empire: Lactantius and Rome" (London, Cornell University Press, 2000) p. 122
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, p. 24.
- ^ a b J. Norwich, Byzantium: The Early Centuries, 47
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 38–39.
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 41–42.
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 42–43.
- ^ a b MacMullen, 1969
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 25 & 75–76.
- ^ In this period infant baptism, though practiced (usually in circumstances of emergency) had not yet become a matter of routine in the west. See Thomas M. Finn (1992), Early Christian Baptism and the Catechumenate: East and West Syria. See also Philip Rousseau (1999). "Baptism", in Late Antiquity: A Guide to the Post Classical World, ed. Peter Brown.
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 75–76.
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, p. 71, figure 9.
- ^ The edict granted Christians the right to practice their religion but did not restore any property to them; see Lactantius, De Mortibus Persecutorum ("On the Deaths of the Persecutors")ch. 35-34
- ^ R. Gerberding and J. H. Moran Cruz, Medieval Worlds (New York: Houghton Mifflin Company, 2004) p. 55
- ^ Peter Brown, The Rise of Christendom 2nd edition (Oxford, Blackwell Publishing, 2003) p. 61
- ^ Peter Brown, The Rise of Christendom 2nd edition (Oxford, Blackwell Publishing, 2003) p. 60
- ^ R. Gerberding and J. H. Moran Cruz, Medieval Worlds (New York: Houghton Mifflin Company, 2004) pp. 55-56
- ^ Richards, Jeffrey. The Popes and the Papacy in the Early Middle Ages 476-752 (London: Routledge & Kegan Paul, 1979) pp. 14-15
- ^ Richards, Jeffrey. The Popes and the Papacy in the Early Middle Ages 476-752 (London: Routledge & Kegan Paul, 1979) q. 15
- ^ Richards, Jeffrey. The Popes and the Papacy in the Early Middle Ages 476-752 (London: Routledge & Kegan Paul, 1979) p. 16
- ^ Life of Constantine Vol. III Ch. XVIII by Eusebius; The Epistle of the Emperor Constantine, concerning the matters transacted at the Council, addressed to those Bishops who were not present
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 22 & 62–63.
- ^ N. Hannestad Roman Art and Imperial Policy (Aarhus: 1988)
- ^ MacMullen 1969,1984, New Catholic Encyclopedia, 1908 Constantine
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, p. 72.
- ^ Pohlsander, Hans, The Emperor Constantine, pp. 83–87.
- ^ Geoffrey of Monmouth, The History of the Kings of Britain, pp. 132–133.
[sửa] Tài liệu tham khảo
- The Cambridge Companion to the Age of Constantine (Cambridge Companions to the Ancient World), edited by Noel Lenski. New York: Cambridge University Press, 2005 (hardcover, ISBN 0-521-81838-9; paperback, ISBN 0-521-52157-2).
- Barnes, T.D. 1981 Constantine and Eusebius. Cambridge, MA, London.
- Chuvin, Pierre; Archer, B. A. (translator). A Chronicle of the Last Pagans. Cambridge, MA: Harvard University Press, 1990 (ISBN 0-674-12970-9).
- Chapman, John. "Donatists", The Catholic Encyclopedia (1909).
- "Constantine", Encyclopaedia Britannica (1911).
- Dodds, Eric Robertson. The Greeks and the Irrational. Berkeley: University of California Press, 1964.
- Dodds, Eric Robertson. Pagan and Christian in an Age of Anxiety: Some Aspects of the Religious Experience from Marcus Aurelius to Constantine. Cambridge University Press, 1965.
- Eusebius of Caesarea. The Life of the blessed Emperor Constantine in four books from 306 to 337.
- Fowden, Garth. "The Last Days of Constantine: Oppositional Versions and Their Influence", The Journal of Roman Studies, Vol. 84. (1994), pp. 146–170.
- Herbermann, Charles G.; Grupp, Georg. "Constantine the Great", The Catholic Encyclopedia (1908).
- Holloway, R. Ross. Constantine and Rome. New Heaven, CT; London: Yale University Press, 2004 (hardcover, ISBN 0-300-10043-4).
- Jones, A.H.M. Constantine and the Conversion of Europe. London: English University Press, 1948; London: Macmillan, 1949.
- Kousoulas, D.G. The Life and Times of Constantine the Great: The First Christian Emperor. Bethesda, MD: Provost Books, 2003 (paperback, ISBN 1-887750-61-4).
- Lactantius, (240–320). Of the Manner the in Which the Persecutors Died.
- MacMullen, Ramsay. Constantine. Dial Press, 1969.
- MacMullen, Ramsay. Christianizing the Roman Empire A.D. 100–400. New Heaven, CT; London: Yale University Press, 1984.
- MacMullen, Ramsay. Changes in the Roman Empire: Essays in the Ordinary. Princeton, NJ: Princeton University Press, 1990.
- MacMullen, Ramsay. Enemies of the Roman Order: Treason, Unrest, and Alienation, Harvard, 1966.
- Monmouth, Geoffrey of, The History of the Kings of Britain, translated by Lewis Thorpe. London: Penguin, 1966. ISBN 0-140-44170-0
- Odahl, Charles Matson. Constantine and the Christian Empire. Cambridge, MA: Harvard University Press, 2004.
- Pohlansander, Hans. The Emperor Constantine. London & New York: Routledge, 1996. ISBN 0-415-13178-2
- Rassias, Vlassis R. Es Edafos Ferein, 2nd edition. Athens, 2000 (ISBN 960-7748-20-4).
- Wilken, Robert L., Christians As the Romans Saw Them. New Heaven, CT; London: Yale University Press, 1436.
- Sources on the Antonine Plague:
- Galen. On the Natural Faculties.
- Marcus Cornelius Fronto. Letters of Marcus Cornelius Fronto.
[sửa] Liên kết ngoài
- The Edict of Milan AD 313
- Letters of Constantine: Book 1, Book 2, & Book 3
- Encyclopaedia Britannica, Constantine I
- RomanEmperors.org Vita of Constantine; with bibliography
- Ammianus Marcellinus on-line project
- 12 Byzantine Rulers by Lars Brownworth of Stony Brook School (grades 7-12). 40 minute audio lecture on Constantine.
- Constantine I in the 1911 Encyclopædia Britannica
- Constantine the Great A site about Constantine the Great and his bronze coins emphasizing history using coins, with many resources including reverse types issued and reverse translations.
- House of Constantine bronze coins Illustrations and descriptions of coins of Constantine the Great and his relatives.
- BBC North Yorkshire's site on Roman York, Yorkshire and Constantine the Great
| Dữ liệu nhân vật | |
|---|---|
| Tên | Constantine I |
| Tên khác | Constantinus, Flavius Valerius Aurelius;Constantine, Saint;Constantine the Great; |
| Tóm tắt | Roman Emperor |
| Lúc sinh | C. 27 February 274 |
| Nơi sinh | Naissus |
| Lúc mất | 22 May 337 |
| Nơi mất | |

