Mary I của Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mary I
Maria Tudor1.jpg
tranh chân dung của Antonis Mor, 1554
Nữ hoàng Anh và Ireland,...
Tại vị 19 tháng 7, 1553[1] – 17 tháng 11, 1558
Đăng quang 1 tháng 10, 1553
Tiền nhiệm Jane (thoái vị) hoặc Edward VI
đồng trị vì Philip II của Tây Ban Nha
Kế nhiệm Elizabeth I
Thông tin chung
Phu quân Philip II của Tây Ban Nha
Hoàng tộc Nhà Tudor
Thân phụ Henry VIII của Anh
Thân mẫu Catherine xứ Aragon
An táng 14 tháng 12, 1558Điện Westminster, Luân Đôn
Tôn giáo Công giáo Rô-ma
Chữ ký của Mary I

Mary I (18 tháng 2, 151617 tháng 11, 1558) là Nữ hoàng Anh và Ireland từ tháng 7, 1553 đến khi băng hà. Những người chống đối gọi bà là "Mary khát máu".

Bà là hậu duệ duy nhất còn sống đến tuổi trưởng thành từ cuộc hôn nhân yểu mệnh giữa Henry VIII với người vợ đầu của ông, Catherine xứ Aragon. Em trai cùng cha khác mẹ của Mary, Edward VI lên ngôi năm 1547. Năm 1553, khi lâm trọng bênh, Edward cố dời bỏ tên Mary khỏi danh sách kế vị do dị biệt tôn giáo giữa hai chị em. Sau khi Edward băng hà, Lady Jane Grey được tuyên xưng là nữ hoàng. Mary liền chiêu tập binh mã trong vùng East Anglia để truất phế Jane Grey, sau đó Jane bị hành quyết. Năm 1554, Mary kết hôn với Philip II của Tây Ban Nha, và trở thành hoàng hậu Tây Ban Nha khi chồng bà đăng quang năm 1556.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Mary chào đời ngày 18 tháng 2, 1516 tại Cung Placentia ở Greenwich, Luân Đôn, là con duy nhất còn sống cho đến tuổi trưởng thành của Vua Henry VIII với người vợ đầu, Catherine xứ Aragon. Catherine bị sẩy thải nhiều lần trước khi sinh Mary.[2] Qua họ mẹ, Mary là cháu ngoại của Vua Ferdinand của Aragon với Nữ hoàng Isabella của Castile. Mary được rửa tội theo nghi thức Công giáo ở Greenwich ba ngày sau khi ra đời.[3] Cha mẹ đỡ đầu của Mary gồm có Nữ Bá tước Devon, Tể tướng Thomas Wolsey, và Nữ Công tước Norfolk.[3] Cháu họ của Henry VIII, Margaret Pole Nữ Công tước Salisbury, đỡ đầu Mary trong lễ kiên tín, tổ chức ngay sau lễ rửa tội.[3]

Mẹ của Mary, Catherine of Aragon, c. 1525

Mary là cô bé thông minh trước tuổi.[4] Tháng 7, 1520, khi chưa đủ bốn tuổi rưỡi, Mary biểu diễn đàn virginals cho một phái đoàn Pháp đến viếng thăm.[5] Cô thụ hưởng phần lớn nền giáo dục ban đầu từ mẹ. Bà đã nhờ một học giả người Tây Ban Nha, Juan Luis Vives, tư vấn, và yêu cầu ông viết quyển De Institutione Feminae Christianae, về phương pháp giáo dục dành cho các bé gái.[6] Mới lên chín, Mary biết đọc và viết bằng tiếng Latin.[7] Cô học tiếng Pháp, Tây Ban Nha, âm nhạc, khiêu vũ, và có lẽ cả tiếng Hi Lạp.[8] Henry VIII rất yêu con gái và khoe với sứ thần Venice, Sebastian Giustiniani, "Cô bé này chưa hề khóc bao giờ".[9]

Dù yêu con gái hết mực, Henry vẫn thất vọng về cuộc hôn nhân vì hoàng hậu không thể sinh con trai.[10] Khi Mary lên chín, cơ may cho Henry và Catherine có con trai nối dõi đã tiêu tan.[11] Năm 1525, Henry cử Mary đến biên giới xứ Wales để chủ tọa, chỉ trên danh nghĩa, Hội đồng xứ Wales.[12] Cô có "triều đình" riêng đặt tại Lâu đài Ludlow cùng danh hiệu và các đặc quyền hoàng tộc dành cho Hoàng tử xứ Wales. Các phu nhân và những người khác gọi cô là Công chúa xứ Wales, mặc dù Mary chưa bao giờ được phong tặng danh hiệu này.[13] Trong ba năm sống ở biên giới xứ Wales, cô thường về thăm triều đình của phụ vương, trước khi về sống tại Luân Đôn từ giữa năm 1528.[14]

Suốt thời thơ ấu của Mary, Henry nhiều lần sắp xếp hôn nhân cho con gái. Khi mới hai tuổi, cô đã được hứa gả cho hoàng tử nước Pháp (khi ấy còn rất nhỏ), con trai Vua Francis I của Pháp, nhưng ba năm sau hôn ước bị hủy bỏ.[15] Năm 1522, lúc sáu tuổi, cô hứa hôn với người anh họ 22 tuổi, Charles V.[16] Tuy nhiên, vài năm sau Charles hủy hôn ước với sự đồng ý của Henry.[17] Hồng y Wolsey, cố vấn chính của Henry, một lần nữa sắp xếp hôn nhân với người Pháp, lần này Henry muốn Mary kết hôn với chính Vua Francis I của Pháp, người đang thiết tha muốn liên kết với Anh.[18] Hợp đồng hôn nhân được ký kết, theo đó Mary sẽ kết hôn hoặc với Francis I, hoặc với con trai ông, Henry Công tước Orleans,[19] nhưng Wolsey muốn bảo đảm sự liên minh với Pháp mà không cần kết ước hôn nhân. Theo nhận xét của Mario Savorgnano, sứ thần Venice, Mary là một thiếu nữ có vóc dáng cân đối với làn da đẹp.[20]

Mary vào thời điểm đính hôn với Charles V.[21]

Trong khi đó, hôn nhân giữa Henry và Catherine có nguy cơ đổ vỡ. Thất vọng vì không có con trai nối ngôi, và vì khao khát kết hôn lần nữa, Henry muốn hủy bỏ hôn nhân với Catherine, nhưng bị Giáo hoàng Clement VII từ chối. Henry trích dẫn Kinh Thánh (Lê-vi ký 20: 21[22]) để chứng minh rằng hôn phối giữa ông và Catherine là bất khiết bởi vì Catherine trước đó đã kết hôn với người anh trai quá cố của ông, Hoàng tử Arthur, trong khi Catherine nói rằng hôn nhân giữa bà với Arthur là chưa hoàn chỉnh (hai người chưa nên vợ chồng trong khuê phòng). Dựa trên yếu tố ấy mà Giáo hoàng Julius II đã tuyên bố hủy bỏ cuộc hôn nhân. Clement miễn cưỡng từ khước yêu cầu của Henry là do áp lực từ Charles V, cháu của Catherine, và từng là hôn phu của Mary. Trước đó, quân đội của Charles V đã chiếm đóng Rô-ma trong Chiến tranh Liên minh Cognac.[23]

Từ năm 1531, Mary thường xuyên mắc bệnh và bị trầm cảm, dù không rõ nguyên nhân.[24] Cô không được phép gặp mẹ, lúc ấy bà đã rời khỏi cung.[25] Đầu năm 1533, Henry kết hôn với Anne Boleyn, đến tháng 5, Thomas Cranmer, Tổng Giám mục Canterbury, chính thức tuyên bố cuộc hôn nhân với Catherine bị hủy bỏ, và hôn nhân với Anne là hợp lệ. Henry tách khỏi Giáo hội Công giáo Rô-ma, tuyên bố đứng đầu Giáo hội Anh. Catherine trở thành Quả phụ Công chúa xứ Wales, và Mary bị xem là con ngoại hôn. Cô chỉ còn là Lady Mary thay vì Công chúa Mary, và vị trí của cô trong danh sách kế vị được dành cho em gái cùng cha khác mẹ mới chào đời của cô, Elizabeth, con gái của Anne.[26]

Lập trường của Mary cương quyết không chịu thừa nhận Anne là hoàng hậu, và Elizabeth là công chúa khiến Henry tức giận.[27] Bị căng thẳng và bị cấm đoán, Mary thường xuyên bệnh tật.[28] Sứ thần của Hoàng đế trở thành người thân cận của Mary, thay cô khẩn khoản nhà vua nhưng không thành.[29] Mối quan hệ giữa Mary và phụ vương ngày càng tồi tệ; suốt ba năm, họ không chịu nói chuyện với nhau.[30] Mặc dù Mary và mẹ đều mắc bệnh, cô từ chối khi được phép đến thăm mẹ.[31] Khi Catherine từ trần năm 1536, Mary đau khổ "khôn nguôi".[32] Khi Catherine được an táng tại Đại giáo đường Peterborough, Mary đau buồn ở một nơi vắng vẻ trong tòa nhà Hunsdon ở Hertfordshire.[33]

Trưởng thành[sửa | sửa mã nguồn]

Henry VIII, c. 1537

Năm 1536, Hoàng hậu Anne bị thất sủng rồi bị xử chém. Công chúa Elizabeth, giống Mary, trở thành Lady Elizabeth và bị tước quyền kế vị.[34] Chỉ hai tuần sau khi hành quyết Anne, Henry kết hôn với Jane Seymour. Jane nài xin chồng giải hòa với Mary.[35] Henry nhấn mạnh rằng Mary phải nhìn nhận ông là người đứng đầu Giáo hội Anh, bác bỏ thẩm quyền Giáo hoàng, công nhận hôn nhân của ông với mẹ cô là không hợp lệ, và chấp nhận mình là con bất hợp pháp. Mary cố giải hòa với cha bằng cách thuận phục thẩm quyền của ông đến mức "Chúa và lương tâm" cho phép, nhưng dần dà cô chịu ký một văn kiện thỏa thuận với những đòi hỏi của Henry.[36] Mary được phục hồi địa vị trong triều.[37] Henry ban cho cô gia nhân và người tùy tùng.[38] Tòa nhà Hatfield, Cung Beaulie, Richmond và Hunsdon là những nơi ở chính của Mary, cùng các cung điện của Henry ở Greenwich như Westminster và Hampton Court.[39] Cô có quỹ riêng để chi trả cho các loại trang phục đắt tiền cũng như giải trí bằng cách chơi bài, là thú vui cô ưa thích.[40] Cuộc nổi dậy ở phía bắc nước Anh, gọi là Pilgrimage of Grace, có sự tham gia của Lord Hussey, từng là quan thị thần cho Mary, bị trấn áp dữ dội.[41] Hussey, cùng những người khác, bị xử tử, nhưng không có chứng cứ Mary dính líu đến vụ việc.[42] Năm sau, 1537, Jane từ trần sau khi sinh Hoàng tử Edward. Mary được chọn làm mẹ đỡ đầu cho em trai cùng cha khác mẹ của mình, và là người than khóc chính trong tang lễ của hoàng hậu.[43]

Cuối năm 1539, Công tước Philip xứ Bavaria muốn tìm hiểu cô, nhưng Philip là tín hữu Lutheran nên việc không thành.[44] Tể tướng của nhà vua, Thomas Cromwell, thương thuyết với đồng minh tiềm năng, Công tước Cleves, và muốn sắp xếp hôn nhân giữa Mary với Cleves, người cùng tuổi với Mary, nhưng lại không thành. Rốt cuộc, Henry đồng ý cưới Anne, chị gái của Công tước Cleves.[45] Tháng 12, 1539, sau lần gặp mặt đầu tiên, Henry không thích cô dâu nhưng không thể từ hôn vì lý do ngoại giao.[46] Song, Cromwell bị thất sủng, bị bắt giữ vì tội phản quốc, và một tội danh vô lý khác: ông mưu tính kết hôn với Mary.[47] Anne vội vàng đồng ý hủy hôn, tuyên bố cuộc hôn nhân là chưa hoàn chỉnh, còn Cromwell bị chém đầu.[48]

Mary as a young woman
Mary, năm 1544

Năm 1541, Henry xử tội chết Nữ Công tước Salisbury, từng là mẹ đỡ đầu và quản gia cho Mary, do một âm mưu của người Công giáo mà con trai của bà, Reginald Pole, có liên can.[49] Năm 1542, sau khi hành quyết người vợ thứ năm của mình, Catherine Howard, Henry, đang sống đơn thân, cho mời Mary đến dự lễ Giáng sinh.[50] Mary xuất hiện với cha trong các sự kiện trong triều với tư cách người phụ nữ chủ nhà.[51] Năm 1543, Henry kết hôn với người vợ thứ sáu, Catherine Parr, người đã giúp hàn gắn gia đình chồng.[52] Qua Đạo luật Kế vị 1544, Henry phục hồi quyền kế vị cho hai cô con gái, Mary và Elizabeth, kế tiếp Edward, mặc dù họ vẫn bị xem là con ngoại hôn.[53]

Năm 1547, Henry băng hà và Edward lên ngôi. Mary thừa hưởng các lãnh địa ở Norfolk, Sufolk, và Essex, còn được ban tặng tòa nhà Hunsdon và Cung Beaulieu.[54] Edward và Hội đồng Nhiếp chính tiến hành các cải cách tôn giáo trên toàn quốc theo khuynh hướng Kháng Cách qua Đạo luật Đồng nhất năm 1549, áp dụng nghi thức Tin Lành trong các thánh lễ và sử dụng Sách Cầu nguyện chung của Thomas Cranmer. Mary vẫn kiên định với niềm tin Công giáo và cho cử hành lễ misa trong nguyện đường của bà. Bà cũng kêu gọi người anh họ, Charles V, sử dụng các biện pháp ngoại giao để bà có thể tiếp tục hành đạo theo niềm tin của bà.[55]

Trong thời trị vì của Edward, Mary ít khi xuất hiện tại triều đình.[56] Giữa tháng 5 và 7, 1550, có một kế hoạch nhằm giúp Mary đào thoát khỏi nước Anh để đến một nơi an toàn trong lục địa châu Âu nhưng bất thành.[57] Giáng sinh năm 1550, Mary họp mặt với Elizabeth và Edward, nhà vua công khai quở trách Mary vì xem thường các chuẩn tắc tôn giáo.[58] Mary kiên quyết bác bỏ yêu cầu của Edward muốn cô từ bỏ Công giáo, trong khi Edward tiếp tục kiên trì với đòi hỏi của mình.[59]

Đăng quang[sửa | sửa mã nguồn]

Mary và Elizabeth được tiếp rước khi vào Luân Đôn, tranh họa sĩ ẩn danh (sau năm 1907).

Ngày 6 tháng 7, 1553, Edward VI băng hà khi mới 15 tuổi.[60] Edward không muốn trao ngai vàng cho Mary bởi vì e ngại Mary sẽ phục hồi Công giáo và đảo ngược mọi nỗ lực cải cách của ông, cũng như của phụ vương Henry VIII, nhà vua tìm cách loại bỏ Mary khỏi danh sách kế vị. Các cố vấn cho biết không thể loại bỏ một mình Mary mà không làm như thế đối với Elizabeth, dù Elizabeth ủng hộ chương trình cải cách, Edward đồng ý tước bỏ quyền kế vị của cả hai người chị.[61]

Ngược với tinh thần Đạo luật Kế vị thứ ba, theo đó Mary và Elizabeth đã được phục hồi quyền kế vị, Edward chọn con dâu của Dudley, Lady Jane Grey, là người kế vị. Lady Jane là cháu ngoại của em gái Henry VIII, Mary Hoàng hậu Pháp. Mẹ của Lady Jane, Frances Brandon, là em họ và là con đỡ đầu của Mary. Trước khi Edward băng hà, Mary được gọi về Luân Đôn để gặp nhà vua, nhưng bà được báo cho biết đó là cái cớ để bắt giữ bà rồi đưa Jane lên ngôi.[62] Mary rời Hunsdon để đến vùng East Anglia; ở đây bà sở hữu những lãnh địa rộng lớn, năm 1549 tại đây bùng nổ một cơn bạo loạn đã bị Dudley đập tan. Nhiều người ủng hộ Công giáo cùng những người đối kháng với Dudley đang sống trong vùng.[63] Ngày 9 tháng 7, từ Kenninghall, Norfolk, Mary viết thư gởi Hội đồng Cơ mật yêu cầu tuyên bố bà là người kế vị Edward.[64]

Ngày 10 tháng 7, 1553, Dudley và những người ủng hộ ông tuyên bố Lady Jane là nữ hoàng. Cũng trong ngày này, thư của Mary đến Luân Đôn. Ngày 12 tháng 7, tại Lâu đài Framlingham, Suffolk, Mary chiêu tập binh mã.[65] Phe Dudley càng suy yếu thì phe Mary càng vững mạnh.[66] Ngày 19 tháng 7, Jane bị truất ngôi.[67] Jane và Dudley bị tống giam trong Tháp Luân Đôn. Ngày 3 tháng 8, Mary khải hoàn tiến vào Luân Đôn trong sự chào đón của dân chúng. Cùng đi với Mary có em gái cùng cha khác mẹ, Elizabeth, trong đám rước có hơn 800 nhà quý tộc.[68]

Một trong những động thái đầu tiên của Mary trong cương vị nữ hoàng là ra lệnh phóng thích những nhân vật Công giáo Rô-ma như Công tước Norfolk, Stephen Gardiner, và Edward Courtenay khỏi Tháp Luân Đôn.[69] Mary biết cô gái trẻ Lady Jane chỉ là con tốt trong kế hoạch của Dudley, người bị xử tử vì tội phản quốc ngay sau vụ chính biến. Lady Jane và chồng, Lord Guildford Dudley, bị kết án, nhưng bị giam giữ tại Tháp Luân Đôn thay vì bị hành quyết, trong khi thân phụ của Jane, Công tước Suffolk, được tha.[70] Mary lâm vào tình huống khó xử bởi vì hầu hết thành viên Hội đồng Cơ mật đều có liên can đến kế hoạch lập Lady Jane làm nữ hoàng.[71] Mary bổ nhiệm Gardiner vào Hội đồng, và cho ông nắm giữ cùng lúc hai chức vụ, Giám mục Winchester và Tể tướng, Gardiner đảm nhiệm hai chức vụ này cho đến khi qua đời vào tháng 11, 1555.[72] Ngày 1 tháng 10, 1553, Gardiner chính thức trao vương miện cho Mary tại Điện Westminster.[73]

Trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Ở tuổi 37, Mary chú tâm đến việc lập gia đình và có con nối ngôi nhằm ngăn cản Elizabeth, một tín hữu Kháng Cách, lên ngôi (theo Đạo luật Kế vị 1554, và theo chúc thư của Henry VIII, Elizabeth vẫn là người kế vị). Dù Edward Courtenay và Reginald Pole được xem là những chàng trai có triển vọng, anh họ của Mary, Charles V, khuyên bà nên kết hôn với con trai duy nhất của ông, Hoàng tử Philip.[74] Philip đã có một con trai từ cuộc hôn nhân trước; ông cũng là người thừa kế những lãnh thổ rộng lớn ở châu ÂuTân Thế giới. Một bức chân dung của Philip được gởi đến Mary trong tháng 9, 1553.[75]

Philip II của Tây Ban Nha, tranh Tiziano Vecelli (1551).

Quan Chưởng ấn Gardiner và Viện Thứ dân nài xin nữ hoàng kết hôn với một người Anh vì e rằng nước Anh sẽ bị phụ thuộc Nhà Habsburg.[76] Cuộc hôn nhân rất mất lòng dân; Gardiner và đồng minh của ông đề kháng vì muốn bảo vệ quyền lợi quốc gia, còn người Kháng Cách thì e sợ Công giáo.[77] Khi Mary tỏ ý kiên quyết kết hôn với Philip liền bùng nổ các cuộc nổi dậy. Việc Thomas Wyatt lãnh đạo một lực lượng nổi dậy từ Kent nhằm lật đổ Mary để tôn vương Elizabeth là một phần trong cuộc bạo loạn liên quan đến Công tước Suffolk, thân phụ của Lady Jane.[78] Mary công khai tuyên bố sẽ triệu tập Quốc hội để xem xét vấn đề hôn nhân, nếu Quốc hội quyết định rằng cuộc hôn nhân đi ngược với quyền lợi của vương quốc, bà sẽ đổi ý.[79] Trên đường đến Luân Đôn, Wyatt bị bắt giữ. Wyatt, Công tước Suffolk và con gái, Lady Jane, bị xử tử. Courtnay, có liên can đến vụ nổi dậy, bị tống giam, rồi đào thoát. Elizabeth, dù đã biện minh cho sự vô tội của mình, bị giam giữ tại Tháp Luân Đôn trong hai tháng rồi bị quản thúc trong Cung Woodstock.[80]

Trong lịch sử nước Anh, nếu không kể những ngày trị vì ngắn ngủi của Jane Grey và Nữ hoàng Matilda, Mary là nữ hoàng đầu tiên của đất nước. Hơn nữa theo tập quán jure uxoris ở Anh, qua quan hệ hôn nhân, người chồng được hưởng tài sản và danh hiệu của vợ, người ta e rằng phu quân tương lai của nữ hoàng sẽ trở thành Vua Anh, cả trên danh nghĩa lẫn thực quyền.[81] Theo các điều khoản của thỏa ước hôn nhân, Philip sẽ là "Vua Anh", mọi văn kiện chính thức (kể cả các đạo luật của Quốc hội) đều ghi tên cả hai, Quốc hội cũng sẽ được triệu tập dưới thẩm quyền chung của hai người, suốt trong lúc Mary còn sống. Nước Anh không có nghĩa vụ cung ứng hỗ trợ quân sự cho phụ vương của Philip trong bất cứ cuộc chiến nào, và mọi quyết định của Philip phải có sự đồng thuận của vợ, ông cũng không được bổ nhiệm người nước ngoài vào các chức vụ trong nước Anh.[82] Dù không hài lòng, nhưng Philip sẵn sàng chấp nhận để có thể kết hôn với Mary.[83] Đối với Mary, ông chẳng có chút xúc cảm nào, nhưng cưới vợ vì mưu cầu lợi ích chính trị và vì những mục tiêu chiến lược. Ruy Gómez de Silva, một tùy tùng của Philip, khi ở Bỉ đã viết trong một bức thư, "chẳng có chút ham muốn thể xác nào trong cuộc hôn nhân này, tất cả chỉ nhằm giải quyết những bất ổn của vương quốc này và để bảo toàn lãnh thổ ở vùng đất thấp".[84]("vùng đất thấp": lãnh thổ ngày nay phần lớn là BỉHà Lan, lúc ấy thuộc Nhà Hapsburg).

Để nâng tầm con trai mình ngang hàng với Mary, Hoàng đế Charles V nhượng quyền cai trị Naples và Vương quốc Jerusalem cho Philip. Do đó, Mary trở thành Hoàng hậu Naples và Hoàng hậu Jerusalem.[85] Ngày 25 tháng 7, 1554, hôn lễ tổ chức tại Đại giáo đường Winchester, hai ngày sau khi họ gặp nhau lần đầu.[86] Bởi vì Philip không biết tiếng Anh nên hai người nói chuyện với nhau bằng loại ngôn ngữ pha trộn giữa tiếng Tây Ban Nha, Pháp, và La-tinh.[87]

Tháng 9, 1554, Mary lên cân, và nôn ói vào buổi sáng. Toàn thể triều đình, kể cả các bác sĩ, đều tin Mary đang mang thai.[88] Quốc hội thông qua luật bổ nhiệm Philip là Nhiếp chính trong trường hợp Mary chết khi sinh nở.[89] Cuối tháng 4, 1555, Elizabeth được trả tự do để làm nhân chứng cho sự sinh nở của Mary, ai cũng tin là đang đến gần.[90] Theo sứ thần Venice, Giovanni Michieli, Philip đã có kế hoạch cầu hôn với Elizabeth nếu Mary tử vong khi sinh. Dù vậy, trong một bức thư gởi anh rể, Maximilian của Áo, Philip không biết chắc vợ mình có mang thai hay không.[91]

Cuối tháng 4, giáo phận Luân Đôn cử hành lễ tạ ơn vì tin đồn thất thiệt nữ hoàng đã sinh con trai được loan truyền khắp Âu châu.[92] Từ tháng 5 và 6, người ta bắt đầu nghi ngờ khả năng mang thai của nữ hoàng, đến tháng 7 thì mọi việc đã rõ. Có lẽ do sự khao khát quá mức của Mary.[93] Tháng 8, trong thất vọng ê chề, Philip rời nước Anh dẫn quân đánh Pháp tại Flanders.[94] Mary đau khổ đến nỗi trầm cảm. Michieli viết rằng nữ hoàng "cực kỳ yêu chồng", và đau khổ khôn nguôi khi ông bỏ đi.[95]

Elizabeth được ở lại triều đình.[96] Biết Mary không thể có con, Philip nài ép vợ gả Elizabeth cho anh họ của ông, Công tước Savoy, để nước Anh luôn có quân vương Công giáo, và để bảo toàn quyền lợi Nhà Habsburg ở nước Anh, nhưng Elizabeth từ chối mà Quốc hội cũng không muốn.[97]

Chính sách tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Tấm biển tại Maidstone, Kent, ghi "Năm 1557, gần địa điểm này, bảy người bị hỏa thiêu vì đức tin của họ".

Sau khi đăng quang, Mary ra thông cáo sẽ không ép buộc thần dân phải theo tôn giáo của bà, nhưng đến cuối tháng 9, những giáo sĩ chủ trương cải cách như John Bradford, John Rogers, John Hooper, Hugh Latimer, và Thomas Cranmer đều bị tống giam.[98] Quốc hội đầu tiên dưới triều Mary, họp vào đầu tháng 10, 1553, tuyên bố hôn nhân của song thân nữ hoàng là hợp lệ, và hủy bỏ các luật lệ tôn giáo dưới triều Edward.[99] Nền thần học của Giáo hội trở lại với thời kỳ trước cải cách, "Sáu Tín điều" năm 1539 được phục hồi với các điều khoản như tái xác nhận quy định độc thân cho giới tăng lữ. Những linh mục đã kết hôn bị trục xuất của giáo sở.[100]

Mary luôn chống lại quyết định của Henry VIII tách khỏi Rô-ma và nỗ lực của Edward VI thiết lập giáo hội Kháng Cách. Cùng với chồng, Mary muốn nước Anh hòa giải với Rô-ma. Philip thuyết phục Quốc hội hủy bỏ luật tôn giáo đã thông qua dưới triều Henry để đưa Giáo hội Anh trở lại thần phục Rô-ma. Mất vài tháng mới có được sự đồng thuận, và Mary cùng Giáo hoàng Julius III phải chấp nhận một số nhượng bộ: không thu hồi đất của các tu viện hiện đang ở trong tay những chủ đất mới là những người có nhiều ảnh hưởng.[101] Đến cuối năm 1554, Giáo hoàng phê chuẩn thỏa thuận, và Đạo luật Dị giáo được phục hồi.[102]

Khi Đạo luật Dị giáo được áp dụng, nhiều người Kháng Cách bị hành quyết trong thời kỳ bách hại dưới triều Mary.[103] Nhiều người Kháng Cách giàu có, như John Foxe, chọn sống lưu vong, có khoảng 800 người rời bỏ nước Anh. Những cuộc hành quyết đầu tiên diễn ra trong năm ngày vào đầu tháng 2, 1555: John Rogers bị hành hình ngày 4 tháng 2, Laurence Saunders ngày 8 tháng 2, Rowland Taylor và John Hooper ngày 9 tháng 2.[104]

Tổng Giám mục Canterbury đang bị cầm tù, Thomas Cranmer, bị buộc phải chứng kiến hai Giám mục Nicholas Ridley và Hug Latimer bị thiêu sống. Đến ngày ông bị hỏa thiêu, Cranmer chịu cải đạo.[105] Theo quy trình thông thường của luật pháp, lẽ ra ông được xá tội vì đã hối cải. Song, Mary không chịu ân xá cho Cranmer. Khi lên giàn hỏa thiêu, trong một hành động gây nhiều xúc động, Cranmer rút lại lời chối bỏ đức tin Kháng Cách.[106] Tổng cộng có 283 người bị hành hình, trong đó có 56 phụ nữ, hầu hết là bị hỏa thiêu.[107] Các vụ hỏa thiêu đã gây nhiều bất bình đến nỗi Alfonso de Castro, một trong những tùy tùng của Philip, cũng lên án chúng.[108] Cố vấn của Philip, Simon Renard, cảnh báo Philip rằng "sự thực thi luật pháp cách tàn bạo" như thế có thể "gây ra một cuộc cách mạng".[109] Mary vẫn kiên trì theo đuổi chính sách này cho đến khi băng hà, đã góp phần làm gia tăng tinh thần chống Công giáo và chống Tây Ban Nha trong dân chúng Anh,[110] trong khi các nạn nhân của cuộc bách hại được tán tụng như là những người tuẫn đạo.[111]

Tháng 11, 1554, Reginald Pole, người từng được kể tên trong số các ứng viên có thể trở thành phu quân của Mary, trở về như là sứ thần của Giáo hoàng.[112] Pole được phong linh mục và bổ nhiệm làm Tổng Giám mục Canterbury ngay sau khi Cranmer bị hỏa thiêu trong tháng 3, 1556.[113][114]

Chính sách Ngoại giao[sửa | sửa mã nguồn]

Đẩy mạnh quyết sách chinh phục Ireland của Nhà Tudor, dưới triều Mary dân Anh được đưa đến định cư tại vùng Midlands nhằm giảm thiểu các cuộc tấn kích vào Pale (khu vực bao quanh Dublin đang dưới quyền kiểm soát của Anh). Hai quận Queen và King được thành lập, người ta bắt đầu khai hoang và lập đồn điền.[115] Những thị trấn quan trọng trong vùng được đặt tên là Maryborough (nay là Portlaoise) và Philipstown (nay là Daingean).

Tháng 1, 1556, thân phụ của Philip thoái vị, Philip trở thành Vua Tây Ban Nha với Mary là hoàng hậu. Họ vẫn sống xa nhau; khi Philip được tuyên bố là vua ở Brussels, Mary vẫn ở Anh. Tháng 2, 1556, Philip thương thuyết để có cuộc hưu chiến ngắn ngủi với Pháp. Tháng sau, đại sứ Pháp tại Anh, Antoine de Noailles, có liên can đến một âm mưu chống lại Mary khi Sir Henry Dudley, cháu họ của Công tước Northumberland, mưu chiêu tập binh mã tại Pháp. Dudley bị phản bội, những người liên can đang ở Anh đều bị vây bắt. Dudley sống lưu vong tại Pháp, Noailles rời khỏi Anh.[116]

Từ tháng 3 đến tháng 7, 1557, Philip về Anh để thuyết phục Mary ủng hộ Tây Ban Nha trong cuộc chiến chống Pháp. Mary muốn tuyên chiến nhưng bị các cố vấn chống đối bởi vì sẽ tổn hại cho thương mại với Pháp. Vả lại, như thế là vi phạm thỏa ước hôn nhân; hơn nữa nền kinh tế èo uột thừa hưởng từ Edward đang bị tác động mạnh bởi thất mùa triền miên do thời tiết xấu đã khiến nước Anh thiếu hụt trầm trọng tài chính và nguồn tiếp liệu.[117] Người Anh chỉ chịu tuyên chiến sau khi Thomas Stafford, cháu của Reginald Pole, đem quân đánh nước Anh với sự trợ giúp của Pháp nhằm phế truất Mary.[118] Hệ quả của cuộc chiến là mối quan hệ giữa Anh và Giáo hoàng trở nên căng thẳng bởi vì Giáo hoàng Paul VI là đồng minh với Vua Henry II của Pháp.[119] Tháng 1, 1558, quân Pháp chiếm Calais, lãnh thổ còn sót lại trên lục địa Âu châu thuộc chủ quyền của Anh. Mặc dù Calais là một gánh nặng tài chính cho đất nước, mất Calais lại là một tổn thất về ý thức hệ khiến uy tín của Mary bị sút giảm.[120]

Thương mại và Tài chính[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Anh trong những năm trị vì của Mary luôn ẩm ướt do mưa triền miên cùng lũ lụt dẫn đến đói kém.[121] Một khó khăn khác nữa là sự suy giảm trong buôn bán vải vóc với Antwerp.[122] Dù nữ hoàng kết hôn với Philip, nước Anh chẳng hưởng lợi gì từ nền thương mại khổng lồ có lợi tức lớn giữa Tây Ban Nha với Tân thế giới.[123] Người Tây Ban Nha cẩn thận canh giữ lộ trình thương mại của họ, mà Mary không thể bỏ qua cho những thương vụ bất hợp pháp (thực chất là cướp biển) bởi vì bà là hoàng hậu Tây Ban Nha.[124]

Nữ hoàng Mary (1555-58), tranh Hans Eworth.

Cố gia tăng mậu dịch và cứu vãn nền kinh tế, các cố vấn của Mary tiếp nối chính sách của Northumberland nhằm tìm kiếm những cơ hội thương mại mới. Mary cho thành lập Công ty Muscovy buôn bán với Nga,[125] ra lệnh Diogo Homem lập bản đồ thế giới.[126] Những nhà thám hiểm như John Lok và William Towerson giong buồm đi về hướng nam nhằm kết nối với bờ biển châu Phi.[127]

Về tài chính, chính quyền của Mary chọn cách dung hòa giữa hình thái chính quyền hiện đại, với chi phí cao, và hệ thống thu thuế thời Trung cổ.[128] Nữ hoàng duy trì chức Bộ trưởng Ngân khố từ thời Edward cho William Paulet Hầu tước Winchester. Chính quyền cũng cho phát hành bộ mức thuế (1558) liệt kê các loại thuế cho mỗi mặt hàng nhập khẩu, được áp dụng cho đến năm 1604.[129]

Băng hà[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chuyến viếng thăm của Philip trong năm 1557, Mary nghĩ rằng bà mang thai và sẽ sinh con vào tháng 3, 1558.[130] Nữ hoàng viết di chúc rằng chồng bà sẽ là nhiếp chính nếu bà qua đời.[131] Tuy nhiên, chẳng có đứa bé nào ra đời, và Mary buộc phải chấp nhận Elizabeth là người kế vị hợp pháp.[132]

Từ tháng 5, 1558, Mary bị suy nhược và bệnh tật,[133] rồi băng hà tại Cung St James ở tuổi 42 do mắc bệnh cúm trong một cơn dịch đã cướp mạng sống của Reginald Pole sau đó cũng trong một ngày, 17 tháng 11, 1558. Bà bị đau đớn, có thể do ung thư buồng trứng hoặc ung thư niệu đạo.[134] Em gái cùng cha khác mẹ với Mary nối ngôi trở thành Nữ hoàng Elizabeth. Philip, lúc ấy đang ở Brussels, viết trong thư gởi em gái, "Anh cảm thấy hối tiếc vừa phải về cái chết của cô ấy".[135]

Theo di chúc, Mary muốn nằm cạnh mẹ, nhưng bà được an táng tại Điện Westminster trong một phần mộ sau này cũng an táng Elizabeth. Vua James I cho khắc dòng chữ tiếng La-tinh trên mộ, Regno consortes et urna, hic obdormimus Elizabetha et Maria sorores, in spe resurrectionis (Chia sẻ với nhau vương quyền và mộ phần, chúng tôi an nghỉ nơi đây, Elizabeth và Mary, là chị em, trong niềm hi vọng sẽ được phục sinh).[136]

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Hình Mary chạm nổi trên huy hiệu đồng (1554), của Jacopo da Trezzo.

Tại tang lễ, John White, Giám mục Winchester, tán tụng Mary, "Bà là con gái của một quân vương; là chị gái của một quân vương; là vợ của một quân vương. Bà là nữ hoàng, cũng đồng tước vị với một quân vương."[137] Mặc dù những tranh cãi về quyền kế vị và những chống đối quyết liệt, Mary là người phụ nữ đầu tiên trị vì nước Anh, giành được sự ủng hộ của dân chúng trong giai đoạn đầu, nhất là từ người dân theo Công giáo Rô-ma.[138] Các sử gia Công giáo như John Lingard cho rằng các chính sách của Mary thất bại không phải vì sai lầm mà vì bà sống không đủ lâu để xác lập chúng, và cũng vì xảy ra thiên tai dồn dập vượt quá tầm kiểm soát của nữ hoàng.[139]

Tuy nhiên, cuộc hôn nhân với Philip khiến nữ hoàng mất lòng dân, lại thêm chính sách tôn giáo gây ra sự bất bình sâu đậm.[140] Quân đội thất trận trên đất Pháp, thời tiết khắc nghiệt, mùa màng thất bát làm gia tăng sự bất mãn. Để vợ ở lại nước Anh, Philip dành phần lớn thời gian ở nước ngoài khiến vợ ông trở nên trầm cảm và suy giảm cơ may có con. Sau khi Mary qua đời, Philip muốn kết hôn với Elizabeth nhưng bà từ chối.[141] Ba mươi năm sau, Philip cử lực lượng hải quân hùng mạnh, Armada Tây Ban Nha, sang đánh nước Anh để phế truất Elizabeth, nhưng bị thất bại.

Đến thế kỷ 17, người ta gọi Mary bằng biệt danh "Mary khát máu" do những cuộc bách hại người Kháng Cách.[142] Trong cuốn The First Blast of the Trumpet Against the Monstrous Regimen of Women phát hành năm 1558, John Knox mạnh mẽ đả kích Mary. Bà cũng xuất hiện như là một nhân vật tiêu cực nổi bật trong quyển Actes and Monuments của John Foxe, xuất bản năm 1563, sáu năm sau khi bà mất. Trong các thế kỷ kế tiếp, nhiều tác phẩm phổ biến trong vòng người Kháng Cách giúp định hình khái niệm Mary là một bạo chúa khát máu.[143] Đến giữa thế kỷ 20, H. F. M. Prescott cố điều chỉnh truyền thống cho rằng Mary là con người cố chấp và độc đoán với những nhận định khách quan hơn.[144] Mặc dù thời trị vì của Mary rõ ràng là thiếu hiệu quả và mất lòng dân, các chính sách tài chính, sự phát triển hải quân, và công cuộc thám hiểm thuộc địa, được xem là những thành quả của triều Elizabeth, đã được khởi xướng dưới triều Mary.[145]

Huy hiệu của Mary I.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Khi đăng đăng quang, Mary có cùng danh hiệu như Henry VIIIEdward VI, "Mary, bởi ân điển của Thiên Chúa, là Vua Anh, Pháp, và Ireland, Người Bảo vệ Đức tin, và Lãnh đạo Tối cao trên đất của Giáo hội Anh". Là giáo dân Công giáo Rô-ma sùng đạo, danh hiệu Lãnh đạo Tối cao của Giáo hội là điều không thể chấp nhận được đối với Mary, đến Giáng sinh năm 1553, bà hủy bỏ danh hiệu này.[146]

Theo thỏa ước hôn nhân, danh hiệu chính thức không chỉ có tên Mary mà còn có tên Philip, "Philip và Mary, bởi ân điển của Thiên Chúa, là Vua và Nữ hoàng Anh, Pháp, Naples, Jerusalem, và Ireland, Những người Bảo vệ Đức tin, Hoàng thân Tây Ban Nha và Sicilia, Đại Công tước Áo, Công tước Milan, Công tước Burgundy, và Công tước Brabant, Công tước Flanders và Tyrol".[85] Được sử dụng từ năm 1554, khi Philip kế vị ngai vàng Tây Ban Nha năm 1556, danh hiệu này bị thay thế bằng, "Philip và Mary, bởi ân điển của Thiên Chúa, là Vua và Nữ hoàng Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Sicilia, Jerusalem và Ireland, Những người Bảo vệ Đức tin, Đại Công tước Áo, Công tước Burgundy, Milan và Brabant, Công tước Habsburg, Flanders và Tyrol".[147]

Phổ hệ[sửa | sửa mã nguồn]

Cả Mary và Philip đều là hậu duệ của John of Gaunt, Công tước Lancaster, mối quan hệ này được sử dụng để miêu tả Philip là Vua Anh.[148]

Mary trong văn học nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Mary I của Anh nhiều lần xuất hiện trong văn hóa phổ thông.

Văn chương[sửa | sửa mã nguồn]

Điện ảnh và Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Những diễn viên đóng vai Mary:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Her half-brother died on 6 July; she was proclaimed his successor in London on 19 July; her regnal years were dated from 24 July (Weir, p. 160).
  2. ^ Waller, p. 16; Whitelock, p. 8
  3. ^ a ă â Porter, p. 13; Waller, p. 16; Whitelock, p. 7
  4. ^ Whitelock, p. 27
  5. ^ Loades, pp. 19–20; Porter, p. 21
  6. ^ Loades, p. 31; Porter, p. 30
  7. ^ Porter, p. 28; Whitelock, p. 27
  8. ^ Loades, pp. 32, 43
  9. ^ Domine Orator, per Deum immortalem, ista puella nunquam plorat, quoted in Whitelock, p. 17
  10. ^ Tittler, p. 1
  11. ^ Loades, p. 37; Porter, pp. 38–39; Whitelock, pp. 32–33
  12. ^ Porter, pp. 38–39; Whitelock, pp. 32–33
  13. ^ Waller, p. 23
  14. ^ Loades, pp. 41–42, 45
  15. ^ Porter, pp. 20–21; Waller, pp. 20–21; Whitelock, pp. 18–23
  16. ^ Loades, pp. 22–23; Porter, pp. 21–24; Waller, p. 21; Whitelock, p. 23
  17. ^ Whitelock, pp. 30–31
  18. ^ Whitelock, pp. 36–37
  19. ^ Whitelock, pp. 37–38
  20. ^ Mario Savorgnano, 25 August 1531, Calendar of State Papers, Venetian, vol. IV, p. 682, quoted in Loades, p. 63
  21. ^ Whitelock, p. 23
  22. ^ "Nếu một người đàn ông lấy chị dâu hay em dâu mình thì đó là điều nhơ nhuốc; người đó đã làm nhục anh em mình. Chúng sẽ bị tuyệt tự." Lê-vi ký 20: 21
  23. ^ Porter, pp. 56, 78; Whitelock, p. 40
  24. ^ Waller, p. 27
  25. ^ Porter, p. 76; Whitelock, p. 48
  26. ^ Porter, p. 92; Whitelock, pp. 55–56
  27. ^ Porter, pp. 97–101; Whitelock, pp. 55–69
  28. ^ Dr William Butts, quoted in Waller, p. 31
  29. ^ Loades, pp. 84–85
  30. ^ Porter, p. 100
  31. ^ Porter, pp. 103–104; Whitelock, pp. 67–69, 72
  32. ^ Letter from Emperor Charles V to Empress Isabella, quoted in Whitelock, p. 75
  33. ^ Porter, p. 107; Whitelock, p. 76–77
  34. ^ Whitelock, p. 91
  35. ^ Porter, p. 121; Waller, p. 33; Whitelock, p. 81
  36. ^ Porter, pp. 119–123; Waller, pp. 34–36; Whitelock, pp. 83–89
  37. ^ Porter, pp. 119–123; Waller, pp. 34–36; Whitelock, pp. 90–91
  38. ^ Loades, p. 105
  39. ^ Madden, F. (ed.) (1831) The Privy Purse Expenses of the Princess Mary, quoted in Loades, p. 111
  40. ^ Porter, pp. 129–132; Whitelock, p. 28
  41. ^ Porter, pp. 124–125
  42. ^ Loades, p. 108
  43. ^ Loades, p. 114; Porter, pp. 126–127; Whitelock, pp. 95–96
  44. ^ Loades, pp. 127–129; Porter, pp. 135–136; Waller, p. 39; Whitelock, p. 101
  45. ^ Loades, pp. 126–127; Whitelock, p. 101
  46. ^ Whitelock, pp. 103–104
  47. ^ Whitelock, p. 105
  48. ^ Whitelock, pp. 105–106
  49. ^ Loades, p. 122; Porter, p. 137
  50. ^ Porter, p. 143
  51. ^ Waller, p. 37
  52. ^ Porter, pp. 143–144; Whitelock, p. 110
  53. ^ Loades, p. 120; Waller, p. 39; Whitelock, p. 112
  54. ^ Loades, pp. 137–138; Whitelock, p. 130
  55. ^ Loades, pp. 143–147; Porter, pp. 160–162; Whitelock, pp. 133–134
  56. ^ Porter, p. 154; Waller, p. 40
  57. ^ Loades, pp. 153–157; Porter, pp. 169–176; Waller, pp. 41–42; Whitelock, pp. 144–147
  58. ^ Porter, p. 178; Whitelock, p. 149
  59. ^ Porter, pp. 179–182; Whitelock, pp. 148–160
  60. ^ Porter, p. 187
  61. ^ Porter, pp. 188–189
  62. ^ Waller, pp. 48–49; Whitelock, p. 165
  63. ^ Waller, pp. 51–53; Whitelock, p. 165, 138
  64. ^ Loades, p. 176; Porter, p. 195; Tittler, pp. 8, 81–82; Whitelock, p. 168
  65. ^ Porter, p. 203; Waller, p. 52
  66. ^ Loades, pp. 176–181; Porter, pp. 213–214; Waller, p. 54; Whitelock, pp. 170–174
  67. ^ Porter, p. 210; Weir, pp. 159–160
  68. ^ Waller, pp. 57–59
  69. ^ Waller, p. 59; Whitelock, p. 181
  70. ^ Waller, pp. 59–60; Whitelock, pp. 185–186
  71. ^ Whitelock, p. 182
  72. ^ Whitelock, p. 183
  73. ^ Porter, pp. 257–261; Whitelock, pp. 195–197
  74. ^ Loades, pp. 199–201; Porter, pp. 265–267
  75. ^ Porter, p. 310
  76. ^ Porter, pp. 279–284; Waller, p. 72; Whitelock, pp. 202–209
  77. ^ Waller, p. 73
  78. ^ Porter, pp. 288–299; Whitelock, pp. 212–213
  79. ^ Porter, p. 300; Waller, pp. 74–75; Whitelock, p. 216
  80. ^ Porter, pp. 311–313; Whitelock, pp. 217–225
  81. ^ Waller, pp. 84–85; Whitelock, pp. 202, 227
  82. ^ Porter, pp. 291–292; Waller, p. 85; Whitelock, pp. 226–227
  83. ^ Porter, pp. 308–309; Whitelock, p. 229
  84. ^ Letter of 29 July 1554 in the Calendar of State Papers, Spanish, volume XIII, quoted in Porter, p. 320 and Whitelock, p. 244
  85. ^ a ă Porter, pp. 321, 324; Waller, p. 90; Whitelock, p. 238
  86. ^ Loades, pp. 224–225; Porter, pp. 318, 321; Waller, pp. 86–87; Whitelock, p. 237
  87. ^ Porter, p. 319; Waller, pp. 87, 91
  88. ^ Porter, p. 333; Waller, pp. 92–93
  89. ^ Loades, pp. 234–235
  90. ^ Porter, p. 338; Waller, p. 95; Whitelock, p. 255
  91. ^ "The queen's pregnancy turns out not to have been as certain as we thought": Letter of 25 April 1554, quoted in Porter, p. 337 and Whitelock, p. 257
  92. ^ Waller, p. 95; Whitelock, p. 256
  93. ^ Porter, pp. 337–338; Waller, pp. 97–98
  94. ^ Porter, p. 342
  95. ^ Waller, pp. 98–99; Whitelock, p. 268
  96. ^ Antoine de Noailles quoted in Whitelock, p. 269
  97. ^ Whitelock, p. 284
  98. ^ Tittler, pp. 23–24; Whitelock, p. 187
  99. ^ Loades, pp. 207–208; Waller, p. 65; Whitelock, p. 198
  100. ^ Porter, p. 241; Whitelock, pp. 200–201
  101. ^ Porter, p. 331
  102. ^ Loades, pp. 235–242
  103. ^ Waller, p. 113
  104. ^ Whitelock, p. 262
  105. ^ Loades, p. 325; Porter, pp. 355–356; Waller, pp. 104–105
  106. ^ Loades, p. 326; Waller, pp. 104–105; Whitelock, p. 274
  107. ^ Duffy, p. 79; Waller, p. 104
  108. ^ Porter, pp. 358–359; Waller, p. 103; Whitelock, p. 266
  109. ^ Waller, p. 102
  110. ^ Waller, pp. 101, 103, 105; Whitelock, p. 266
  111. ^ See for example, the Oxford Martyrs
  112. ^ Loades, p. 238; Waller, p. 94
  113. ^ Porter, p. 357
  114. ^ Although he was in deacon's orders and prominent in the church, Pole was not ordained until the day before his consecration as archbishop (Loades, p. 319).
  115. ^ Tittler, p. 66
  116. ^ Porter, pp. 381–387
  117. ^ Whitelock, p. 288
  118. ^ Porter, p. 389; Waller, p. 111; Whitelock, p. 289
  119. ^ Whitelock, pp. 293–295
  120. ^ Loades, pp. 295–297; Porter, pp. 392–395; Whitelock, pp. 291–292
  121. ^ Porter, pp. 229, 375; Whitelock, p. 277
  122. ^ Tittler, p. 48
  123. ^ Tittler, p. 49
  124. ^ Tittler, pp. 49–50
  125. ^ Porter, p. 371
  126. ^ Porter, p. 373
  127. ^ Porter, p. 372
  128. ^ Porter, p. 375; Tittler, p. 51
  129. ^ Porter, p. 376
  130. ^ Porter, p.398; Waller, pp. 106, 112; Whitelock, p. 299
  131. ^ Whitelock, pp. 299–300
  132. ^ Whitelock, p. 301
  133. ^ Loades, p. 305; Whitelock, p. 300
  134. ^ Waller, p. 108
  135. ^ Letter from Philip to his sister Joan of Austria, Princess of Portugal, 4 December 1558, in Calendar of State Papers, Spanish, volume XIII, quoted in Loades, p. 311; Waller, p. 109 and Whitelock, p. 303
  136. ^ Porter, p. 410; Whitelock, p. 1
  137. ^ Loades, p. 313; Whitelock, p. 305
  138. ^ Waller, p. 116
  139. ^ Loades, pp. 340–341
  140. ^ Loades, pp. 342–343; Waller, p. 116
  141. ^ Porter, p. 400
  142. ^ Waller, p. 115
  143. ^ Porter, pp. 361–362, 418; Waller, pp. 113–115
  144. ^ Weikel
  145. ^ Tittler, p. 80; Weikel
  146. ^ Loades, pp. 217, 323
  147. ^ e.g. Waller, p. 106
  148. ^ Whitelock, p. 242
  149. ^ a ă â b Weir, p. 148
  150. ^ Weir, p. 133
  151. ^ Weir, p. 134
  152. ^ a ă Weir, p. 138
  153. ^ a ă â b Paget, p. 99
  154. ^ a ă â b Weir, pp. 99–101

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Erickson, Carolly (1978) Bloody Mary: The Life of Mary Tudor. Garden City, NY: Doubleday. ISBN 0-385-11663-2
  • Loades, David M. (1991) The Reign of Mary Tudor: Politics, Government and Religion in England, 1553–58. Second edition. London and New York: Longman. ISBN 0-582-05759-0
  • Prescott, H. F. M. (1952) Mary Tudor: The Spanish Tudor. Second edition. London: Eyre & Spottiswoode.
  • Ridley, Jasper (2001) Bloody Mary's Martyrs: The Story of England's Terror. New York: Carroll & Graf. ISBN 0-7867-0854-9
  • Waldman, Milton (1972) The Lady Mary: a biography of Mary Tudor, 1516–1558. London: Collins. ISBN 0-00-211486-0

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Mary I của Anh
Sinh: 18 tháng 2 1516 Mất: 17 tháng 11 1558
Tước hiệu
Tiền vị:
Edward VI
hoặc Jane
Nữ hoàng Anh và Ireland
19 tháng 7, 1553 – 17 tháng 11, 1558
cùng Philip (1554–1558)
Kế vị
Elizabeth I
Tước hiệu Hoàng gia
Trống ngôi
Người cuối cùng giữ danh hiệu
Isabella of Portugal
Queen consort of Naples
25 tháng 7, 1554 – 17 tháng 11, 1558
Trống ngôi
Danh hiệu được kế thừa bởi
Elisabeth of France
Queen consort of Spain and Sicilia
16 January 1556 – 17 November 1558