Phan Trọng Tuệ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phan Trọng Tuệ
Thiếu tướng QĐNDVN Phan Trọng Tuệ.jpg
Chức vụ
Phó Thủ tướng Chính phủ
Nhiệm kỳ tháng 3 năm 1974 – tháng 7 năm 1976
Nhiệm kỳ Lần 1: tháng 2, 1960 – tháng 3, 1974
Lần 2: 1976 - tháng 2 năm 1980
Tiền nhiệm Lần 1: Nguyễn Văn Trân
Lần 2: Dương Bạch Liên
Kế nhiệm Lần 1: Dương Bạch Liên
Lần 2: Đinh Đức Thiện
Thông tin chung
Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam
Sinh

7 tháng 7, 1917(1917-07-07)}

nơi sinh = Quốc Oai, Hà Nội
Mất 18 tháng 12, 1991 (74 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh

Phan Trọng Tuệ (19171991) là một tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam với quân hàm Thiếu tướng và là Tư lệnh đầu tiên của Lực lượng Công an Nhân dân Vũ trang; nguyên là Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1974–1975), Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải.

Tóm tắt quá trình hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Trọng Tuệ sinh ngày 7 tháng 7 năm 1917, quê ở Thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội; tham gia cách mạng từ những năm ba mươi. Năm 1934, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1939 đến năm 1940, ông làm Bí thư tỉnh ủy Sơn TâyHà Đông; phụ trách Liên tỉnh Hà Nội - Hà Đông - Sơn Tây.

Năm 1943, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 27 năm tù và đày đi Côn Đảo.

Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông được giải thoát và công tác trong Ban trật tự Côn Đảo rồi trở về đất liền.

Hoạt động trong các lực lượng vũ trang[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đó ông làm Thanh tra kháng chiến Hậu Giang, Ủy viên liên tỉnh ủy (gồm 10 tỉnh miền Tây Nam Bộ); Chính ủy Khu 9.

Từ tháng 12 năm 1948 đến năm 1950, ông làm Chính ủy Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn; Chính ủy Khu 7; Thanh tra Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Từ năm 1952 đến năm 1954, ông làm Tư lệnh, sau đó Phó Tư lệnh kiêm Chính ủy Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ.

Từ tháng 8 năm 1954, ông làm Phó Trưởng đoàn Liên hiệp đình chiến Nam Bộ rồi Phó Trưởng đoàn Liên hiệp đình chiến Trung ương, hàm Đại tá. Năm 1955, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng theo Sắc lệnh 243/SL ngày 3 tháng 11 năm 1955 của Chủ tịch nước [1].

Tháng 3 năm 1957, ông làm Phó Tổng Thanh tra Quân đội.

Năm 1958, ông được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Công an,phụ trách lực lượng Cảnh vệ. Khi lực lượng Công an vũ trang (tiền thân của lực lượng Biên phòng) được thành lập, ông được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Lực lượng Công an Nhân dân Vũ trang.[1]

Hoạt động trong ngành Giao thông vận tải[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1961, ông làm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải.[2]

Năm 1965, ông được cử vào tuyến chiến lược Trường Sơn, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559 có quy mô tương đương một quân khu.

Năm 1968, ông làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh đảm bảo giao thông vận tải Quân khu 4.

Từ tháng 3 năm 1974 đến 1975, ông thôi giữ Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải để làm Phó Thủ tướng, kiêm Thường trực Hội đồng Chi viện giải phóng miền Nam. Người kế nhiệm ông ở chức Bộ trưởng Giao thông Vận tải là Thứ trưởng thường trực Dương Bạch Liên (3 - 1974 đến 1976).

Năm 1976 đến tháng 2 năm 1980, ông làm Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải lần thứ hai kiêm Bí thư Đảng đoàn Bộ.

Ông từng giữ chức Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Cam Pu Chia.

Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa IIIIV; đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI.

Ngày 18 tháng 12 năm 1991, vì bệnh nặng, ông qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]