Toàn quốc kháng chiến

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Toàn Quốc Kháng Chiến)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Toàn quốc kháng chiến
Một phần của Chiến tranh Đông Dương
.
Thời gian 19 tháng 12, 1946tháng 3, 1947
Địa điểm Việt Nam
Kết quả Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rút khỏi các đô thị về Chiến khu. Cuộc chiến đấu thực sự bắt đầu.
Tham chiến
Flag of France.svg Pháp Flag of North Vietnam 1945-1955.svg Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Chỉ huy
Pháp Georges Thierry d'Argenlieu
Pháp Jean Étienne Valluy
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Võ Nguyên Giáp
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trường Chinh
Lực lượng
Khoảng 15.000 quân theo Hiệp định Sơ bộ  ?
.

Toàn quốc kháng chiến là cách gọi để nói tới sự kiện ngày 19 tháng 12 năm 1946, khi cuộc chiến đấu giữa Quân đội Pháp và Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bùng nổ tại bắc vĩ tuyến 16, tức là toàn Việt Nam.

Chiến cục đô thị là tên gọi chung của các hoạt động quân sự diễn ra tại bắt đầu từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 khi Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đọc Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến và kéo dài cho tới đầu năm 1947. Cuộc chiến đấu diễn ra ác liệt tại các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16 (Đà Nẵng). Trong cuộc chiến này, Quân đội Việt Nam (Vệ quốc đoàn) đã đồng loạt tiến công vào các vị trí của quân Pháp tại các đô thị miền Bắc Đông Dương, bao vây quân Pháp trong nhiều tháng để cho các cơ quan chính quyền lui về chiến khu. Nhiều nhà sử học coi mốc này là khởi điểm cho cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giành được độc lập từ tay Nhật, Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà gặp khó khăn với những đoàn quân giải giáp phát xít của Đồng Minh. Đặc biệt là đằng sau đó là quân đội Pháp, được coi là "ông chủ cũ" của xứ Đông Dương. Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà tìm mọi cách cứu vãn hòa bình, chí ít cũng làm chậm lại chiến tranh để chuẩn bị đối phó, đồng thời khéo léo tìm được thế bắt đầu chiến tranh tốt nhất có thể (hay là ít xấu nhất). Hiệp định sơ bộ Việt-Pháp (6/3/1946) rồi Tạm ước Việt–Pháp (14/9/1946) lần lượt được ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán. Quân Tưởng Giới Thạch phải theo các điều ước rút về nước.

Phía Pháp đã gây ra nhiều vụ xung đột về cả chính trị lẫn quân sự và không chỉ ở phía nam vĩ tuyến 16. Các vụ xung đột liên tiếp xảy ra ngay ở cả bắc vĩ tuyến 16 do quân Pháp gây hấn: Lai Châu, Bắc Ninh, Hải Phòng, Lạng Sơn, Hồng Gai, Hải Dương và ngay cả tại Thủ đô Hà Nội. Đặc biệt quân Pháp gây ra nhiều vụ thảm sát ở khu vực Hải Phòng, và các khu Hàng Bún, Yên Ninh, Hà Nội.

Sau đó, ngày 19 tháng 12, tướng Pháp Molière gửi ba tối hậu thư liên tiếp đòi tước vũ khí của bộ đội và tự vệ Việt Nam, nắm quyền kiểm soát thành phố. Trước tình hình đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập khẩn cấp Ban thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản (bí mật) họp tại Vạn Phúc, Hà Đông. Hội nghị thông qua quyết định phát động chiến tranh. Đối với Quốc hội, do Hiến pháp Việt Nam quy định Chủ tịch nước trong trường hợp khẩn cấp có thể phát động chiến tranh mà không cần phải thông qua Nghị viện. Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn bạc với Chính phủ và Ban thường trực Quốc hội và nhanh chóng được đồng ý.

20 giờ 3 phút ngày 19 tháng 12 năm 1946, nhà máy điện Yên Phụ bị phá, tiếng súng nổ ra tại Hà Nội. Tiếp đó, ngày 20 tháng 12 tại Hang Trầm (huyện Chương Mỹ, Hà Tây), Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch. Đây được coi là mệnh lệnh phát động kháng chiến và cuộc chiến tranh bắt đầu.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trận Hà Nội[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trận Hà Nội 1946

Mặt trận Bình-Trị-Thiên-Đà Nẵng[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trận Nam Định[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trận Nam Định 1946

Mặt trận Thanh-Nghệ-Tĩnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Trận Vinh 1946

Mặt trận Bắc Ninh-Bắc Giang[sửa | sửa mã nguồn]

Các khu vực khác[sửa | sửa mã nguồn]

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]