...Baby One More Time

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Baby One More Time)
Bước tới: menu, tìm kiếm
...Baby One More Time
Album phòng thu của Britney Spears
Phát hành 12 tháng 1, 1999 (1999-01-12)
Thu âm Tháng 8, 1997 – Tháng 6, 1998
Thể loại
Thời lượng 42:40
Hãng đĩa JIVE
Sản xuất
Thứ tự album của Britney Spears
...Baby One More Time
(1999)
Oops!... I Did It Again
(2000)
Bìa khác
Bìa phiên bản quốc tế của album
Đĩa đơn từ ...Baby One More Time
  1. "...Baby One More Time"
    Phát hành: 23 tháng 10 năm 1998
  2. "Sometimes"
    Phát hành: 30 tháng 4 năm 1999
  3. "(You Drive Me) Crazy"
    Phát hành: 23 tháng 8 năm 1999
  4. "Born to Make You Happy"
    Phát hành: 27 tháng 11 năm 1999
  5. "From the Bottom of My Broken Heart"
    Phát hành: 15 tháng 12 năm 1999

...Baby One More Time là album phòng thu đầu tay của ca sĩ nhạc Pop người Mỹ Britney Spears, phát hành ngày 12 tháng 1 năm 1999, bởi hãng đĩa Jive Records. Trong tháng 6 năm 1997, khi Spears đã đàm phán với người quản lý Lou Pearlman để gia nhập vào nhóm nhạc pop nữ Innosense, mẹ của cô đã tham khảo ý kiến của luật sư và cũng là người bạn thân của gia đình Larry Rudolph thông qua việc gửi một đoạn băng Spears hát karaoke một bài hát của Whitney Houston. Sau đó, Rudolph quyết định gửi đến những hãng đĩa thu âm một bản demo mà cô thể hiện một bài hát chưa từng được sử dụng của Toni Braxton. Jive đã quan tâm và để nữ ca sĩ làm việc với nhà sản xuất Eric Foster White. Sau khi nghe lại thành quả thu âm của họ, Jive ký hợp đồng thu âm dài hạn với Spears.

Spears đã đến Thụy Điển để làm việc với các nhà sản xuất như Max Martin, Denniz PopRami Yacoub, cùng nhiều nhạc sĩ khác. Martin đem đến cho Spears và quản lý của cô một ca khúc mang tên "Hit Me Baby One More Time", vốn ban đầu được sáng tác cho nhóm nhạc R&B người Mỹ TLC; tuy nhiên, họ đã từ chối bản thu âm. Spears sau đó nói rằng cô cảm thấy rất phấn khởi khi nghe nó và tin rằng bài hát này sẽ trở thành một bản hit. Đến tháng 6 năm 1998, quá trình thực hiện album đã hoàn tất.

...Baby One More Time nhận được những phản ứng trái chiều từ giới phê bình âm nhạc. Tuy nhiên, album rất thành công trên các bảng xếp hạng âm nhạc, lọt vào top 5 của hầu hết các bảng xếp hạng trên thế giới, và đạt vị trí quán quân tại Canada và Mỹ. Nó cũng nhận được nhiều chứng nhận trên toàn thế giới, bao gồm chứng nhận 14 đĩa bạch kim của Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA), ghi nhận 14 triệu bản album đã được tiêu thụ trong nước. Đây cũng là album thành công nhất trong sự nghiệp của Spears, bán được hơn 30 triệu bản trên toàn thế giới, và trở thành một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại cũng như album bán chạy nhất của một nghệ sĩ hát đơn tuổi teen.

Năm bài hát từ album đã được chọn làm đĩa đơn, trong đó ...Baby One More Time đã đưa Britney đã trở thành hiện tượng của làng nhạc Pop thế giới, bán được hơn 10 triệu bản và là một trong những đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại. Tất cả các đĩa đơn phát hành tại Anh trong album này đều đạt top 5 và thậm chí là top 3 tại bảng xếp hạng châu Âu. Để quảng bá album, Spears xuất hiện trên nhiều chương trình truyền hình, cũng như thực hiện chuyến lưu diễn ...Baby One More Time Tour trong năm 1999, với lượt hai của tour mang tên Crazy 2k Tour năm 2000. Spears tiết lộ cô không thể khai phá hết khả năng thanh nhạc của bản thân qua album. Album này đã giúp thiết lập hình ảnh của Spears như là biểu tượng văn hóa pop và đưa Britney trở thành nghệ sĩ tuổi teen hot nhất lúc bấy giờ, khi chỉ mới 17 tuổi. Ca từ cũng như các video trong album tiêu biểu cho sự trỗi dậy của teen pop vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước cũng như là hình ảnh ngây thơ, trong sáng của nữ ca sĩ cho đến tận bây giờ. Nó cũng giúp Britney Spears giành 2 đề cử tại giải Grammy năm 2000 cho hạng mục "Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất" cho đĩa đơn cùng tên với albumgiải nghệ sĩ mới xuất sắc nhất.

Quá trình sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi trở lại Kentwood sau khi mà Câu lạc bộ The New Mickey Mouse Club tan rã, luật sư của Britney là Larry Rudolph đã sắp xếp một buổi thử giọng cho Britney và khách mời là phó chủ tịch hãng đĩa Jive, Jeff Fenster. Chính ông này sau khi nghe giọng hát của Britney đã phải thốt lên rằng "Thật là khiếm khi tôi được nghe thấy một giọng hát truyền cảm ở một cô bé mới chỉ bé như thế này!". Sau buổi thử giọng, Britney được đưa ngay vào nhóm nhạc Innosense nhưng sau đó cô đã rút lui. Sau đó hãng Jive tiếp tục để Britney làm việc với nhà sản xuất Eric Foster White. Lúc này Britney thực sự cảm thấy tràn đầy thực sự hứng khởi với chất liệu thu âm đầu tay nên đã bắt đầu thu âm ngay album này bắt đầu từ cuối năm 1997. Hơn một nửa album được thu âm ở Cheiron Studios (Thuỵ Điển từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1998, tại đây cô được làm việc với các nhà sản xuất lớn lúc đó là Max Martin, Denniz PoPRami. Quá trình thu âm được kết thúc vào tháng 11 năm đó với bản cover ca khúc The Beat Goes On của Cher.

Băng cát-xe được phát hành với bìa album giống với cái được nêu trong cuốn sách nhỏ ...Baby One More Time. Phiên bản phát hành toàn thế giới có ảnh bìa khác: hình ảnh Britney đang chắp tay như cầu nguyện đứng trước nền trắng. Bìa album này cũng làm ta gợi đến hình ảnh của Björk trong Debut.

Quá trình sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc đầu, Britney không nghĩ là mình sẽ thực hiện một album nhạc pop, cô ấy chỉ đơn giản là muốn được hát, nhưng khi bắt đầu thu âm thì Brit lại cảm thấy vui nếu như mình theo đuổi nhạc pop đến cùng "Thật sự là có nhiều cảm xúc hơn nếu như theo đuổi nhạc Pop bởi tôi có thể nhảy theo nó - đó chính là tôi." Album này được xây dựng trên nền nhạc sàn châu Âu, cái mà có thể giúp người nghe liên tưởng đến những ban nhạc nổi tiếng đương đại như Backstreet Boys hay 'N Sync. ...Baby One More Time chỉ đơn giản là nhạc pop, chính xác hơn là bubblegum pop hay teen pop. Như những album teen pop khác vào cùng thời điểm đó, album của Britney cũng tập trung vào những chủ đề của tuổi teen như tình yêu đầu lòng, sự chia tay, niềm khao khát hay niềm vui cuộc sống.

"...Baby One More Time", ca khúc đầu tiên và cũng là đĩa đơn đầu tay của Britney trở thành hit lớn nhất trong sự nghiệp của cô và đứng đầu bảng xếp hạng ở tất cả các nước mà nó được xếp hạng. Video của ca khúc với hình ảnh Brit trong bộ đồng phục nữ sinh Thiên Chúa giáo nhưng hở hang đã gây tranh cãi trong dư luận lúc bấy giờ. "(You Drive Me) Crazy" là ca khúc thứ 2 và là đĩa đơn thứ 3. Tương tự như "...Baby", ca khúc cũng thành hit trên toàn thế giới. Phần remix ca khúc với tên gọi "The Stop! Remix" được sử dụng để quảng bá bộ phim Drive Me Crazy. "Sometimes" là ca khúc thứ 3 và là đĩa đơn thứ 2. Mặc dù không thành công như 2 đĩa đơn kể trên nhưng ca khúc đã đi vào lòng bạn trẻ yêu âm nhạc với hình ảnh một Britney thật trong sáng và giọng hát tràn đầy cảm xúc của cô bé mới lớn về tình yêu. "Soda Pop" là ca khúc thứ 4, được các chuyên gia nhận xét tích cực và coi là bản "bubblegum pop" chính hiệu! "Born to Make You Happy" là ca khúc thứ 5 và là đĩa đơn thứ tư của album. Đây là đĩa đơn đầu tiên của Britney chỉ phát hành ở châu Âu, không phát hành ở Mĩ. Phần lời của ca khúc này trước đó quá sexy nhưng đã được Britney yêu cầu viết lại vì lúc đó cô mới chỉ có 16 tuổi - chưa thích hợp để hát những bài hát có liên quan đến giới tính."From the Bottom of My Broken Heart" là ca khúc thứ 6 và là đĩa đơn thứ tư của album đối với thị trường Mĩ, Úc và Niu-di-lân. Bằng giai điệu nhẹ nhàng kể về tình yêu đã tan vỡ, ca khúc đã rất thành công ở Mĩ khi đứng thứ #14 và còn được chứng nhận cả "Bạch Kim".

"I Will Be There" là ca khúc thứ 7 kể về tình yêu và tình bạn. Ca khúc thứ 8 "I Will Still Love You" là bản song ca ngọt ngào của Brit với Don Phillip về một tình yêu bất diệt. Ca khúc thứ 9 và 10 lần lượt là "Thinkin' About You" và "E-mail My Heart" mặc dù nhận nhiều ý kiến trái chiều song vẫn là những ca khúc thu hút của album. Ca khúc cuối cùng "The Beat Goes On" là bản cover của Sonny & Cher trong "In Case You’re in Love" (1967).

Đánh giá của các chuyên gia[sửa | sửa mã nguồn]

...Baby One More Time nhận được nhiều ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc. Stephen Thomas Erlewine của All Music đã cho album 4/5 sao và cho rằng "album có sự kết hợp giữa thể loại nhạc dance gây nghiện với giai điệu trữ tình mềm mại một cách khéo léo tương tự như New Kids on the BlockDebbie Gibson đã làm." Erlewine còn thậm chí ca ngợi chất lượng tuyệt vời của các ca khúc "...Baby One More Time", "You Drive Me Crazy", "Soda Pop" hay như "From the Bottom of My Broken Heart". Tạp chí Entertainment Weekly thì đưa ra ý kiến một chút trái ngược rằng "giọng hát của Britney như là các bé gái của Backstreet Boys." Rolling Stone thì chỉ cho album có 2/5 sao và cho rằng album có nhiều âm thanh "như những thứ rác rưởi...như là những spam đến tai người nghe."

Doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

...Baby One More Time trong tuần đầu tiên bán được 121,000 bản đã đẩy album Flesh of My Flesh, Blood of My Blood của DMX khỏi vị trí đầu bảng xếp hạng U.S. Billboard 200. Tuần sau, album bị đẩy xuống vị trí á quân và sau 4 tuần đầu, album đã bán được nửa triệu bản. Tuần thứ 5, album quay lại vị trí đầu bảng với 229,300 bản và tăng số lượng bán ra của album lên hơn 800,000 bản. Album củng cố vị trí đầu bảng thêm 2 tuần liên tục sau đó trước khi lại rớt xuống vị trí thứ 2. Mặc dù thế nhưng sau hơn 2 tháng, album đã bán được 1,8 triệu bản. Sau đó gần 1 tháng, album lại tiếp tục thống trị ngôi đầu bảng thêm 2 tuần nữa, giúp tổng số tuần đứng đầu của album lên 6 và đẩy số lượng album bán được lên hơn 3 triệu bản. Album vẫn còn rất hot cho đến tận tháng 11 năm 1999 khi quay lại vị trí thứ 3 và tổng số album bán được lúc này đã lên con số 10 triệu. Đây cũng là lần đầu tiên Britney được trao giải "Album Bạch Kim" bởi Hiệp hội thu âm Mỹ. Như vậy, theo tổng kết của tạp chí Billboard, album đã đứng trong bảng xếp hạng Billboard 200 tới 103 tuần trong đó tới 51 tuần là album nằm trong top 10.

Cho đến cuối năm 1999, Brit đã tiêu thụ được 8.358.619 bản album đầu tay và trở thành album bán chạy thứ 2 trong năm chỉ sau album Millennium của Backstreet Boys với 9.445.732 bản. Album cũng lọt vào top 20 các album bán chạy nhất năm 2000. Theo thống kê của BMG Music Club, album đứng thứ 3 trong top các album bán chạy nhất với 1,6 triệu bản. Không chỉ thế, album còn đứng thứ 29 trong top những album bán chạy nhất thập kỷ 90 cho dù nó mới xuất hiện chi hơn 1 năm. Như vậy đến năm 2010, album đã bán được 12.154.000 bản tại Mỹ và được tặng đĩa Bạch Kim 14 lần.

Tại Canada, album cũng khởi đầu với vị trí quán quân và duy trì thành tích này trong 9 tuần. Đến ngày 12/12/1999, album cũng được trao tặng album "Kim Cương" khi bán được hơn 1 triệu bản. Tại bảng xếp hạng châu Âu, album cũng đạt đến vị trí thứ 2 và bán được 4,6 triệu bản tại đây: trong đó có vị trí thứ 4 tại Anh và Pháp, quán quân tại Đức với số lượng lần lượt là 900,000; 600,000 và 750,000 bản.

Mặc dù phải đến tháng 5 năm 1999, album mới lọt vào bảng xếp hạng của Úc nhưng nó cũng đã vươn tới vị trí thứ 2. ...Baby One More Time là album bán chạy thứ 7 năm 1999 tại thị trường này và tẩu tán được gần 300,000 bản. Album cũng đạt vị trí thứ 3 tại Niu Di-lân và được công nhận Bạch Kim 3 lần với số lượng album bán ra là 45,000.

Trên bảng xếp hạng thế giới, album cũng đứng đầu suốt nhiều tuần liền và bán được tới 30 triệu bản trên toàn thế giới tính đến năm 2010. Do đó mà album này trở thành một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại và là album bán chạy nhất bởi một nghệ sĩ tuổi teen.

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

1. "...Baby One More Time" là đĩa đơn đầu tiên của album được phát hành vào ngày 23 tháng 10 năm 1998. Ca khúc nhận được ý kiến tích cực từ các nhà phê bình. Ca khúc đã đứng đầu 70 nước trong đó có Mĩ, tại đây ca khúc đã đứng đầu trong 2 tuần và thậm chí được xếp hạng thứ 5 cho các ca khúc hot nhất năm 1999. Ca khúc cũng lọt vào top 100 ca khúc hot nhất những năm 90 của thế kỉ trước với vị trí 78 khi mà bán được hơn 1,75 triệu bản. Tại Anh, ca khúc thành công hơn khi khởi đầu ngay ở vị trí quán quân với số lượng tiêu thụ khổng lồ trong tuần đầu tiên là 460,000 bản, trở thành kỉ lục cho một nghệ sĩ nữ lúc bấy giờ. Không những thế, ca khúc còn trở thành ca khúc tiêu thụ nhiều nhất năm 1999 và đưa Britney vinh dự trở thành nghệ sĩ có ca khúc lọt vào top 25 ca khúc hot nhất mọi thời đại tại Anh. Trên toàn thế giới, ca khúc đã bán được gần 9 triệu bản và đứng thứ 55 trong top 100 ca khúc hay nhất mọi thời đại. Phần video của ca khúc cũng rất nổi tiếng khi đứng đầu trong top những video có ảnh hưởng nhất đến thế giới mặc dù có nhiều tranh cãi về trang phục "quá tuổi" của Brit trong video.

2. "Sometimes" là đĩa đơn thứ hai được trích từ album, phát hành nagyf 30 tháng 4 năm 1999. Mặc dù không thành công vang dội như đĩa đơn trước nhưng ca khúc cũng đủ lọt vào top 10 của hơn 15 nước và đứng đầu 5 nước trong đó. Tại Mỹ ca khúc chỉ đạt vị trí thứ 21 bởi ca khúc chỉ phát hành trên sóng radio. Tuy nhiên phần video của ca khúc được đánh giá rất cao với những cảnh quay rất đẹp tại bãi biển Malibu, California và trang phục không còn tranh cãi như trong video trước đó của Britney. Trên toàn thế giới, ca khúc đã bán được 3,5 triệu bản.

3. "(You Drive Me) Crazy" là đĩa đơn thứ ba của album phát hành ngày 23 tháng 8. Ca khúc sử dụng ở đây là bản remix, cũng trở thành hit khi đứng đầu tại 3 nước và lọt vào top 5 hầu hết các nước châu Âu. Ca khúc chỉ đạt vị trí thứ 10 tại Mỹ vì đĩa đơn được phát hành dưới dạng Đĩa 12" thay vì dưới dạng Đĩa CD thông thường. Phần video của ca khúc được dùng để quảng cáo cho bộ phim Drive Me Crazy với 2 diễn viên chính là Melissa Joan HartAdrian Grenier cũng góp mặt trong video này. Mặc dù vậy nhưng phần video của ca khúc cũng được rất nhiều người hâm mộ lúc bấy giờ và ca khúc đã bán được tới hơn 4,2 triệu bản trên toàn thế giới.

4. "Born to Make You Happy" là đĩa đơn thứ 4 được phát hành vào mùa đông năm 1999 tại các nước châu Âu. Ca khúc tiếp tục trở thành hit khi lọt vào top 10 của hầu hết các nước châu Âu và thậm chí còn đứng đầu tại Anh, trở thành đĩa đơn thứ 3 chỉ trong 1 album đứng đầu tại bảng xếp hạng này. Đây là đĩa đơn đầu tiên không phát hành tại Mỹ của Britney. Trên toàn thế giới ca khúc đã bán được 3,6 triệu bản.

5. "From the Bottom of My Broken Heart" là đĩa đơn thứ 5 (thứ 4 đối với Mĩ. Úc và Niu Di-lân) và là đĩa đơn cuối cùng của album. Ca khúc đã chinh phục thành công top 20 Billboard và còn đứng đầu bảng "Đĩa đơn bán chạy nhất". Chính vì thế ca khúc đã được trao tặng đĩa Bạch Kim và là danh hiệu thứ hai của Britney chỉ trong album đầu tay này.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

...Baby One More Time – Phiên bản tại Bắc Mỹ[1]
STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "...Baby One More Time"   Max Martin
3:30
2. "(You Drive Me) Crazy"  
  • Magnusson
  • Kreuger
  • Martin
3:17
3. "Sometimes"   Elofsson
  • Magnusson
  • Kreuger
  • Elofsson[a]
4:05
4. "Soda Pop" (song ca với Mikey Bassie)
  • Mikey Bassie
  • Eric Foster White
White 3:20
5. "Born to Make You Happy"   Lundin 4:03
6. "From the Bottom of My Broken Heart"   White White 5:11
7. "I Will Be There"  
  • Martin
  • Carlsson
  • Martin
  • Rami
3:53
8. "I Will Still Love You" (song ca với Don Philip) White White 4:02
9. "Thinkin' About You"  
  • Bassie
  • White
White 3:35
10. "E-Mail My Heart"   White White 3:41
11. "The Beat Goes On"  
3:43
Tổng thời lượng:
42:40
Chú thích
  • ^a nghĩa là đồng sản xuất
  • ^b nghĩa là hỗ trợ sản xuất
  • ^c nghĩa là nhà hòa âm phối khí

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Argentina (CAPIF)[30] Bạch kim 60.000x
Úc (ARIA)[31] 4× Bạch kim 280.000^
Áo (IFPI Austria)[32] Bạch kim 50.000x
Bỉ (BEA)[33] 3× Bạch kim 150.000*
Brazil (ABPD)[34] Vàng 250,000[35]
Canada (Music Canada)[36] Kim cương 1.000.000^
Đan Mạch (IFPI Denmark)[37] 2× Bạch kim 100.000^
Phần Lan (Musiikkituottajat)[38] Vàng 37,865[38]
Pháp (SNEP)[39] 2× Bạch kim 626,000[40]
Đức (BVMI)[41] 3× Vàng 750.000^
Nhật (RIAJ)[42] 3× Bạch kim 600.000^
Mexico (AMPROFON)[43] 2× Bạch kim+Vàng 375.000^
Hà Lan (NVPI)[44] 3× Bạch kim 300.000^
New Zealand (RMNZ)[45] 3× Bạch kim 45.000^
Na Uy (IFPI Norway)[46] Bạch kim 50.000*
Ba Lan (ZPAV)[47] Bạch kim 100.000*
South Korea (RIAK)[48] 6× Bạch kim 61,580[48]
Thụy Điển (GLF)[49] Bạch kim 80.000^
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[50] 2× Bạch kim 100.000x
Anh (BPI)[51] 4× Bạch kim 1.200.000^
Hoa Kỳ (RIAA)[52] Kim cương 12,200,000[a]
Tóm lược
Châu Âu (IFPI)[56] 4× Bạch kim 4.000.000*

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Lễ trao giải Giải thưởng Kết quả
1999 Billboard Music Awards Album của năm Đề cử
2000 American Music Awards Album nhạc Pop/Rock được yêu thích nhất Đề cử

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ ...Baby One More Time (US CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 1999. 01241-41651-2. 
  2. ^ ...Baby One More Time (International CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 1999. 7243 8 47275 0 5. 
  3. ^ ...Baby One More Time (Asian CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 1999. FR CD 20575. 
  4. ^ ...Baby One More Time (Australian CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 1999. 0523032. 
  5. ^ ...Baby One More Time (Japanese CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 1999. AVCZ-95114. 
  6. ^ ...Baby One More Time (South Korean limited edition CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 1999. RZBD004. 
  7. ^ ...Baby One More Time (Singaporean limited edition CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 1999. 0523002. 
  8. ^ “Australian Albums Chart”. Australian Recording Industry Association. Ngày 18 tháng 7 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  9. ^ “Austrian Albums Chart”. Austrian Charts. Ngày 4 tháng 4 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  10. ^ “Belgian Flemish Albums Chart”. Ultratop. Hung Medien. Ngày 31 tháng 7 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  11. ^ “Belgian Walloon Albums Chart”. Ultratop. Hung Medien. Ngày 7 tháng 8 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  12. ^ “Top Albums/CDs - Volume 68, No. 15, February 01, 1999”. RPM. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2011. 
  13. ^ “Dutch Albums Chart”. MegaCharts. Ngày 13 tháng 3 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  14. ^ “French Albums Chart”. Syndicat National de l'Édition Phonographique. Ngày 1 tháng 1 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  15. ^ “Finnish Albums Chart”. Finnish Charts. 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  16. ^ “Chartverfolgung / Spears,Britney / Longplay”. musicline.de. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2011. 
  17. ^ “FIMI / Spears,Britney / FIMI”. fimi.it. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2015. 
  18. ^ “Hungarian Albums Chart”. Mahasz. Ngày 26 tháng 4 năm 1999. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009. 
  19. ^ “Japanese Main Albums Chart”. Oricon. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  20. ^ “New Zealand Albums Chart”. Recording Industry Association of New Zealand. Ngày 30 tháng 5 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  21. ^ “Norwegian Albums Chart”. VG-lista. 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  22. ^ “Swedish Albums Chart”. Sverigetopplistan. Ngày 29 tháng 1 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  23. ^ “Swiss Albums Chart”. Swiss Charts. Ngày 28 tháng 3 năm 1999. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  24. ^ “Chart Stats - Britney Spears - Baby One More Time”. The Official Charts Company. Ngày 5 tháng 2 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  25. ^ “Billboard charts”. Allmusic. Rovi Corporation. Ngày 20 tháng 1 năm 1999. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  26. ^ a ă “Record Sales Up 4% in 2000 � Despite Napster & MP3.com ”. Truy cập 1 tháng 10 năm 2015. 
  27. ^ Mayfield, Geoff (ngày 25 tháng 12 năm 1999). 1999 The Year in Music Totally '90s: Diary of a Decade - The listing of Top Pop Albums of the '90s & Hot 100 Singles of the '90s. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  28. ^ “Best of the 2000s Billboard 200 Albums”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Ngày 31 tháng 12 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2011. 
  29. ^ Billboard "Greatest of All Time Billboard 200 Albums" Published by Prometheus Global Media| Retrieved on ngày 5 tháng 12 năm 2015.
  30. ^ “Argentina album certifications – Britney Spears – Baby One More Time”. Argentine Chamber of Phonograms and Videograms Producers. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  31. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2000 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  32. ^ “Austrian album certifications – Britney Spears – Baby One More Time” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011.  Nhập Britney Spears vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập Baby One More Time vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  33. ^ “Ultratop − Goud en Platina – 1999”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  34. ^ “Brasil album certifications – Britney Spears – Baby One More Time” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. 
  35. ^ “O fenômeno Britney Spears”. ISTOÉ. Terra Networks. Ngày 22 tháng 1 năm 2001. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2016. 
  36. ^ “Canada album certifications – Britney Spears – Baby One More Time”. Music Canada. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  37. ^ “Denmark album certifications – Britney Spears – Baby One More Time”. IFPI Đan Mạch. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  38. ^ a ă “Finland album certifications – Britney Spears – Baby One More Time” (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  39. ^ “France album certifications – Britney Spears – Baby One More Time” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  40. ^ InfoDisc: Les Ventes Réelles des Albums depuis 1968 Được lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2014 tại Wayback Machine
  41. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Britney Spears; 'Baby One More Time')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. 
  42. ^ “Japan album certifications – Britney Spears – Baby One More Time” (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Nhật Bản. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2015. 
  43. ^ “Certificaciones – Britney Spears” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  44. ^ “Britney Spears - Baby one more time (x3)” (bằng tiếng Hà Lan). NVPI. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2012. 
  45. ^ “New Zealand album certifications – Britney Spears – Baby One More Time”. Recorded Music NZ. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  46. ^ “Norway album certifications – Britney Spears – Baby One More Time” (bằng tiếng Na Uy). IFPI Na Uy. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  47. ^ “Poland album certifications – Britney Spears – Baby One More Time” (bằng tiếng Ba Lan). ZPAV. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  48. ^ a ă “Korea Database, Best Selling Foreign Album in Korea (1999-Now)”. 
  49. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 2000” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  50. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Britney Spears; 'Baby One More Time')”. IFPI Switzerland. Hung Medien. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 
  51. ^ “Britain album certifications – Britney Spears – Baby One More Time” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2013.  Nhập Baby One More Time vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Album trong khung By Format. Nhấn Search
  52. ^ “American album certifications – Britney Spears – Baby One More Time” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  53. ^ Trust, Gary (ngày 24 tháng 3 năm 2015). “Ask Billboard: Britney Spears's Career Sales”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015. 
  54. ^ David, Barry (ngày 18 tháng 2 năm 2003). “Shania, Backstreet, Britney, Eminem and Janet Top All-Time Sellers”. Music Industry News Network. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2009. 
  55. ^ Caulfield, Keith (ngày 25 tháng 1 năm 2008). “Ask Billboard”. Billboard magazine. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2009. 
  56. ^ “IFPI Platinum Europe Awards – 2000”. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2011. 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bennett, Andy; Peterson, Richard A. (2004). Music scenes: local, translocal and virtual. Vanderbilt University Press. ISBN 978-0-8265-1451-6. 
  • Blandford, James R. (2002). Britney. Music Sales Group. ISBN 978-0-7119-9419-5. 
  • Gaines, Ann (1999). Real-life reader biography: Britney Spears. Mitchell Lane Publishers. ISBN 978-1-58415-060-2. 
  • Hughes, Mark (2005). Buzzmarketing: get people to talk about your stuff. Penguin Group. ISBN 978-1-59184-092-3. 
  • Knopper, Steve (2009). Appetite for self-destruction: the spectacular crash of the record industry in the digital age. Simon and Schuster. ISBN 978-1-4165-5215-4. 
  • Mitchell, Claudia; Reid-Walsh, Jacqueline (2008). Girl Culture: Studying girl culture: a readers' guide. ABC-CLIO. ISBN 978-0-313-33909-7. 
  • Parish, James Robert (2002). Hollywood divas: the good, the bad, and the fabulous. Contemporary Books. ISBN 978-0-07-140819-6. 

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “lower-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="lower-alpha"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu