Chủ đề:Chiến tranh thế giới thứ hai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trang Chính   Bản đồ

sửa   

Cổng tri thức Chiến tranh thế giới thứ hai

Tổng quan các mặt trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945).

Chiến tranh thế giới thứ hai là cuộc chiến tranh thế giới thảm khốc bắt đầu từ năm 1937 hoặc 1939 và chấm dứt vào năm 1945 giữa các lực lượng Đồng MinhTrục (phát-xít). Hầu hết mọi lục địa trên thế giới đều bị ảnh hưởng của cuộc chiến này, ngoại trừ châu Nam Cực. Nó là cuộc chiến rộng lớn và tai hại nhất trong lịch sử nhân loại.

Các chiến sự đã xảy ra tại Đại Tây Dương, châu Âu, Bắc Phi, Trung Đông, Địa Trung Hải, Thái Bình Dương và phần lớn của Đông ÁĐông Nam Á. Cuộc chiến kết thúc tại châu Âu khi Đức đầu hàng vào ngày 8 tháng 5, 1945 nhưng vẫn còn tiếp diễn tại châu Á cho đến khi Nhật đầu hàng vào ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Sau cuộc chiến, châu Âu bị chia ra làm hai phái: một phía chịu ảnh hưởng phương Tây do Hoa Kỳ đứng đầu, còn phía kia chịu ảnh hưởng của Liên Xô. Các nước chịu sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ được phục hồi kinh tế sau khi nhận được viện trợ từ Kế hoạch Marshall trong khi các nước kia trở thành các nước cộng sản phụ thuộc Liên Xô. Tây Âu liên kết đồng minh trong Tổ chức Minh ước Bắc Đại Tây Dương, trong khi các nước Đông Âu liên kết đồng minh theo Hiệp ước Warszawa. Các liên minh này đóng vai trò quan trọng trong Chiến tranh Lạnh sau này. Tại châu Á, sự chiếm đóng Nhật Bản của quân đội Hoa Kỳ đã Tây hóa nước này, trong khi Trung Quốc bị chia ra thành hai nước: nước cộng sản Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và nước Trung Hoa Dân quốc tại Đài Loan. (xem tiếp…)

sửa   

Bài viết chọn lọc

Operation Barbarossa corrected border.png
Chiến dịch Barbarossa là mật danh của Đức quốc xã đặt cho một chiến dịch lớn trong chiến tranh thế giới thứ hai do quân đội Đức quốc xã tiến hành nhằm vào Liên bang Xô viết. Chiến dịch này ban đầu có tên là "Kế hoạch Otto". Ngày 18 tháng 12 năm 1940, tên của nó được đích thân Hitler đổi thành "Kế hoạch Barbarossa" lấy theo biệt hiệu của Hoàng đế La Mã Thần thánh Friedrich I. Chiến dịch được bắt đầu vào sáng ngày 22 tháng 6 năm 1941 trên toàn bộ tuyến biên giới phía Tây của Liên Xô và kết thúc vào đầu tháng 2 năm 1942 trước cửa ngõ Moskva. Mục đích của Kế hoạch Barbarossa nhằm nhanh chóng chiếm đóng phần lãnh thổ của Liên Xô nằm ở phía Tây đường ranh giới nối liền giữa hai thành phố Arkhangelsk và Astrakhan (thường gọi là tuyến A-A).

Về mặt chiến thuật, quân Đức đã giành được một số chiến thắng lớn trong toàn chiến dịch và đã chiếm đóng một số vùng kinh tế quan trọng nhất của Liên Xô, chủ yếu là ở Ukraina. Vào cuối tháng Giêng năm 1942, Hồng quân Xô Viết đã đẩy lùi đợt tấn công mạnh nhất của quân đội Đức quốc xã. Chiến dịch này đánh dấu sự phá sản của phương châm đánh nhanh thắng nhanh trước mùa đông 1941-1942 của Hitler. Thất bại của quân Đức và đồng minh phe Trục trong chiến dịch này là một trong những bước ngoặt lịch sử, dẫn tới sự suy yếu rồi thất bại hoàn toàn của phe Trục trong Chiến tranh thế giới thứ hai.

Sự thất bại cùa Chiến dịch Barbarossa kéo theo những chiến dịch mới của Hitler nhằm chiến dịch tấn công Liên Xô, tất cả đều thất bại như việc tiếp tục bao vây Leningrad, chiến dịch Nordlicht và trận Stalingrad, cùng với những trận đánh khác trên những vùng lãnh thổ của Liên Xô bị Đức chiếm đóng.

sửa   

Khí tài quân sự

USS Missouri đang ở ngoài khơi trong những năm 1980.
USS Missouri (BB-63) là một thiết giáp hạm thuộc lớp Iowa của Hải quân Hoa Kỳ và là chiếc tàu chiến thứ tư của Hải quân Mỹ mang cái tên này nhằm tôn vinh tiểu bang Missouri. Missouri là chiếc thiết giáp hạm cuối cùng mà Hoa Kỳ chế tạo, và là địa điểm ký kết văn kiện đầu hàng vô điều kiện của Đế quốc Nhật Bản, chấm dứt Thế chiến thứ hai.

Missouri được đặt hàng vào năm 1940 và được đưa vào hoạt động vào tháng 6 năm 1944. Tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến thứ hai, nó tham gia các trận đánh Iwo JimaOkinawa cũng như nả đạn pháo xuống các hòn đảo chính quốc Nhật Bản. Sau thế chiến, Missouri tham gia chiến tranh Triều Tiên từ năm 1950 đến năm 1953. Nó được cho ngừng hoạt động vào năm 1955 và được đưa về hạm đội dự bị Hải quân Mỹ, nhưng sau đó được đưa trở lại hoạt động và được hiện đại hóa vào năm 1984 như một phần của kế hoạch 600 tàu chiến Hải quân, và đã tham gia chiến đấu năm 1991 trong chiến tranh vùng Vịnh.

Missouri nhận được tổng cộng mười một ngôi sao chiến đấu cho các hoạt động trong Thế chiến thứ hai, chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh vùng Vịnh, và cuối cùng được cho ngừng hoạt động vào ngày 31 tháng 3 năm 1992, nhưng vẫn được giữ lại trong Đăng bạ Hải quân cho đến khi tên nó được gạch bỏ vào tháng 1 năm 1995. Đến năm 1998 nó được trao tặng cho hiệp hội “USS Missouri Memorial Association” và trở thành một tàu bảo tàng tại Trân Châu Cảng, Hawaii.

sửa   

Bài viết tiêu biểu

Haruna vào năm 1934, sau khi được tái cấu trúc đợt hai.
Haruna (tiếng Nhật: 榛名), tên được đặt theo đỉnh núi Haruna, là một thiết giáp hạm của Hải quân Đế quốc Nhật Bản hoạt động trong cả Thế Chiến IThế Chiến II. Nó là chiếc thứ tư và là chiếc cuối cùng của lớp Kongō. Được thiết kế bởi kỹ sư hàng hải người Anh George Thurston như một tàu chiến-tuần dương, nó được cải tạo hai lần trong suốt quá trình phục vụ: lần thứ nhất thành một thiết giáp hạm vào năm 1926, và lần thứ hai thành một thiết giáp hạm nhanh vào năm 1933.

Vào ngày 18 tháng 1 năm 1942, Lực lượng Chủ lực của Đô đốc Kondo đến Palau cùng với hai tàu sân bay nhanh với ý định yểm trợ cho cuộc chiếm đóng Borneo và Đông Ấn thuộc Hà Lan. Vào ngày 29 tháng 5 năm 1942, Haruna hợp cùng chiếc tàu chị em với nó Kirishima tham gia lực lượng tàu sân bay của Phó Đô đốc Chūichi Nagumo trong trận Midway. Vào ngày 4 tháng 6, Haruna chịu đựng nhiều đợt tấn công của máy bay ném ngư lôi Mỹ, nhưng nó thoát ra mà không bị đánh trúng cú nào trong khi bắn rơi được năm máy bay đối phương. Sang ngày 5 tháng 6, Haruna vớt những người sống sót trên bốn chiếc tàu sân bay bị đánh chìm trước khi quay trở về Nhật Bản. Nó ở lại vùng biển Nhật Bản cho đến tháng 9 năm 1942, trải qua một số cải tiến nhỏ trong tháng 8 năm đó. Vào ngày 6 tháng 9 năm 1942, Haruna cùng với phần còn lại của Hải đội Thiết giáp hạm 3 được chuyển đến Truk, và đến ngày 10 tháng 9 năm 1942 con tàu khởi hành trong đội hình của Hạm đội 2 dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Kondo hướng về quần đảo Solomon. Vào ngày 20 tháng 9 năm 1942, hạm đội được lệnh quay trở về Truk. Hai ngày sau trận chiến mũi Esperance, 13 tháng 10 năm 1942, HarunaKongō tham gia vào cuộc bắn phá sân bay Henderson, đã nả 918 quả đạn pháo 356 mm (14 inch), gây hư hỏng nặng cho sân bay cùng phá hủy 48 máy bay. Từ ngày 24 tháng 7 năm 1945, Lực lượng Đặc nhiệm TF38 của Hải quân Mỹ bắt đầu một loạt các cuộc không kích xuống căn cứ hải quân Kure với ý định tiêu diệt hoàn toàn phần còn lại của Hải quân Nhật. Trong ngày 24 tháng 7 năm 1945, thiết giáp hạm Hyūga bị đánh chìm, và Haruna bị đánh trúng một quả bom gây hư hại nhẹ. Ngày 28 tháng 7 năm 1945, Haruna chịu đựng một cuộc không kích nặng nề bởi máy bay của Lực lượng Đặc nhiệm TF38, bị đánh trúng chín quả bom trước khi bị chìm tại nơi neo đậu lúc 16 giờ 15 phút. Trong hai ngày bị tấn công, 65 sĩ quan và thủy thủ của chiếc Haruna đã bị thiệt mạng. Đến năm 1946, phần còn lại của chiếc Haruna được trục vớt lên khỏi mặt nước, và trong hai năm sau đó nó được tháo dỡ.


sửa   

Hình ảnh chọn lọc

Quân đội Pháp trên đại lộ Champs-Élysées sau khi Paris được giải phóng năm 1944.

Sự kiện giải phóng Paris, hay còn được biết với tên trận Paris, diễn ra vào khoảng thời gian Thế chiến thứ hai, từ ngày 19 tháng 8 năm 1944 cho tới khi lực lượng chiếm đóng Đức đầu hàng vào ngày 25 cùng tháng.

sửa   

Nhân vật lịch sử

G. K. Zhukov năm 1916.
Georgi Konstantinovich Zhukov (tiếng Nga: Георгий Константинович Жуков, đọc là Ghê-oóc-ghi Can-xtan-chi-nô-vích Giu-cốp; 1 tháng 12 năm 1896 – 18 tháng 6 năm 1974) là danh tướng trong quân đội Liên Xô. Trong rất nhiều tướng lĩnh nổi danh thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai, G.K. Zhukov được xếp đầu bảng về số lượng trận thắng nhiều và quy mô lớn, được nhiều người công nhận về tài năng chỉ đạo chiến dịch và chiến lược. Những chiến tích của ông đã trở thành những đóng góp rất lớn vào kho tàng di sản kiến thức quân sự nhân loại. Nó không những có ảnh hưởng lớn về lý luận quân sự của Liên Xô mà cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của lý luận quân sự thế giới.

Theo A. M. Vasilevsky, G. K. Zhukov là một trong những nhà cầm quân lỗi lạc của nền quân sự Xô Viết. Trong cuộc Chiến tranh giữ nước vĩ đại của Liên Xô, ông đã giữ các chức vụ Tư lệnh Phương diện quân Dự bị, Tư lệnh Phương diện quân Tây, Tư lệnh Phương diện quân Beloussia 1, Tổng tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, Thứ trưởng Bộ dân ủy Quốc phòng kiêm Phó Tổng tư lệnh tối cao quân đội Liên Xô, Ủy viên Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Hầu hết các nhà lãnh đạo quân sự nổi tiếng thế giới cùng thời với ông như Thống chế Anh Sir Bernard Law Montgomery, Thống tướng Hoa Kỳ Dwight David Eisenhower, Đại tướng Pháp Charles de Gaulle, Thống chế Pháp Jean de Lattre de Tassigny đều công nhận tên tuổi của ông đã gắn liền với hầu hết các chiến thắng lớn trong cuộc chiến như Trận Moskva (1941), Trận Stalingrad, Trận Kursk, Chiến dịch Bagrachion, Chiến dịch Visla-OderChiến dịch Berlin. Trong giai đoạn sau chiến tranh, ông giữ các chức vụ Tổng tư lệnh quân đội Liên Xô tại nước Đức, tư lệnh các quân khu Odessa và Ural. Sau khi I. V. Stalin qua đời, ông được gọi về Moskva và được bổ nhiệm chức vụ Thứ trưởng thứ nhất Bộ Quốc phòng Liên Xô. Trong thời gian từ năm 1955 đến năm 1957, ông giữ chức vụ Ủy viên trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Liên Xô. Năm 1957, trong thời gian đang đi thăm Nam Tư, ông bị đưa ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô. Năm 1958, ông bị miễn nhiệm tất cả các chức vụ trong quân đội.

sửa   

Bạn có biết...

Bạn có biết...
sửa   

Thể loại

sửa   

Diễn biến chiến sự

Châu Âu

Chiến trường châu Âu (1939-1945)
  Đồng MinhLiên Xô từ năm 1941
  Liên Xô đến năm 1941
  Nước trung lập

Châu Á-Thái Bình Dương

Chiến trường châu Á-Thái Bình Dương (1937-1945)
  Đồng MinhLiên Xô từ năm 1941
  Liên Xô đến năm 1941
  Nước trung lập
sửa   

Danh mục

Chiến tranh thế giới thứ hai
Mặt trận Sự kiện chính Khía cạnh khác Thành phần

Mở đầu

Mặt trận chính

Tổng quát

1939

1940

1941

1942

1943

1944

1945

xem thêm...

Ảnh hưởng dân thường và tội ác chiến tranh

Hậu quả

Đồng Minh

xem thêm...

Phe Trục

xem thêm...

Các tài liệu khác

Thể loại  · Chủ đề · Dự án
 Từ điển ·  Thông tin ·  Danh ngôn ·   Văn kiện và tác phẩm ·  Hình ảnh và tài liệu ·  Tin tức

sửa   

Tham gia

Chủ đề Chiến tranh thế giới thứ hai đang được xây dựng nên rất cần sự giúp đỡ, đóng góp của các bạn về nội dung lẫn giao diện. Các bạn có thể:


sửa   

Chủ đề liên quan

Cổng tri thức Wikipedia