Chữ viết tiếng Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đơn khai sinh năm 1938 ở Bắc Kỳ có bốn dạng chữ: chữ Quốc ngữ lẫn chữ Nôm cùng dấu triện bằng tiếng Pháp và vài chữ Nho

Tiếng Việt là ngôn ngữ của người Việt và là ngôn ngữ chính thức của Việt Nam. Trong lịch sử Việt Nam đã có ba loại văn tự được dùng để ghi chép tiếng Việt là chữ Hán, chữ Nômchữ quốc ngữ. Chữ Hán và chữ Nôm là văn tự ngữ tố, mỗi chữ Hán và chữ Nôm biểu thị một hoặc một số âm tiết.

Các dạng chữ viết tiếng Việt từng được sử dụng trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chữ Hán[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chữ Hán

Chữ Hán đã hiện diện ở Việt Nam ít nhất là từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên.[1] Tại Hà Nội, người ta đã phát hiện được một con dao găm, một chiếc đỉnh có kim văn (một hình thức cổ của chữ Hán). Các di vật khảo cổ khác có kim văn được phát hiện tại Việt Nam có niên đại muộn hơn, số lượng nhiều hơn, phần lớn là vũ khí.[1]

Đến thế ký VII - XI chữ Hán và tiếng Hán được sử dụng nhiều hơn do giới quan lại sang cai trị cùng các thương nhân. Do Việt Nam bị ách đô hộ của phong kiến phương Bắc Trung Hoa trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, vì vậy hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán.

Từ sau thế kỷ thứ X, tuy Việt Nam giành được độc lập tự chủ, thoát khỏi ách thống trị của phong kiến phương Bắc, nhưng chữ Hán và tiếng Hán vẫn tiếp tục là một phương tiện quan trọng việc ghi chép và trước tác.

Chữ Nôm[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chữ Nôm

Dù chữ Hán có sức sống mạnh mẽ đến đâu chăng nữa, một văn tự ngoại lai không thể nào đáp ứng, thậm chí bất lực trước đòi hỏi, yêu cầu của việc trực tiếp ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm của bản thân người Việt. Chính vì vậy chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng nổi.

Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việttiếng Việt. Quá trình hình thành chữ Nôm có thể chia thành hai giai đoạn:

Giai đoạn đầu, tạm gọi là giai đoạn "đồng hóa chữ Hán", tức là dùng chữ Hán để phiên âm các từ Việt thường là tên người, tên vật, tên đất, cây cỏ chim muông, đồ vật... xuất hiện lẻ tẻ trong văn bản Hán. Những từ chữ Nôm này xuất hiện vào thế kỷ đầu sau Công nguyên (đặc biệt rõ nét nhất vào thế kỷ thứ VI).

Giai đoạn sau: Ở giai đoạn này, bên cạnh việc tiếp tục dùng chữ Hán để phiên âm từ tiếng Việt, đã xuất hiện những chữ Nôm tự tạo theo một số nguyên tắc nhất định. Loại chữ Nôm tự tạo này, sau phát triển theo hướng ghi âm, nhằm ghi chép ngày một sát hơn, đúng hơn với tiếng Việt. Từ thời Lý thế kỷ thứ XI đến đời Trần thế kỷ XIV thì hệ thống chữ Nôm mới thực sự hoàn chỉnh. Theo sử sách đến nay còn ghi lại được một số tác phẩm đã được viết bằng chữ Nôm như đời Trần có cuốn Thiền Tông Bản Hạnh. Đến thế kỷ XVIII - XIX chữ Nôm đã phát triển tới mức cao, át cả địa vị chữ Hán. Các tác phẩm như hịch Tây Sơn, Khoa thi hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm bằng chữ Nôm. Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm là những ví dụ.

Chữ Hán và chữ Nôm có những khác nhau cơ bản về lịch sử ra đời, mục đích sử dụng và mỗi chữ có bản sắc riêng về văn hóa...

Chữ Quốc ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Chữ Quốc ngữ

Chữ Quốc ngữ là bộ chữ hiện dùng để ghi tiếng Việt dựa trên các bảng chữ cái của nhóm ngôn ngữ Rôman với nền tảng là ký tự Latinh.

Việc chế tác chữ quốc ngữ Việt Nam là một công việc tập thể của nhiều linh mục dòng Tên người Châu Âu. Trong công việc này có sự hợp tác tích cực và hiệu quả của nhiều người Việt Nam, trước hết là các thầy giảng Việt Nam (giúp việc cho các linh mục người Âu). Alexandre De Rhodes đã có công lớn trong việc góp phần sửa sang và hoàn chỉnh bộ chữ Quốc Ngữ. Đặc biệt là ông đã dùng bộ chữ ấy để biên soạn và tổ chức in ấn lần đầu tiên cuốn từ điển Việt - Bồ Đào Nha - Latinh (trong đó có phần về ngữ pháp tiếng Việt) và cuốn Phép giảng tám ngày. Xét về góc độ ngôn ngữ thì cuốn diễn giảng vắn tắt về tiếng An Nam hay tiếng đàng ngoài (in chung trong từ điển) có thể được xem như công trình đầu tiên khảo cứu về ngữ pháp; còn cuốn Phép giảng tám ngày có thể được coi như tác phẩm văn xuôi đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ, sử dụng lời văn tiếng nói bình dân hàng ngày của người Việt Nam thế kỷ 17.

Tuy chữ Quốc ngữ của Alexandre De Rhodes năm 1651 trong cuốn từ điển Việt-Bồ-La đã khá hoàn chỉnh nhưng cũng phải chờ đến từ điển Việt-Bồ-La xuất bản năm 1772, tức là 121 năm sau, với những cải cách quan trọng của Pigneau de Behaine thì chữ Quốc ngữ mới có diện mạo giống như hệ thống hiện nay.

Tiếng Việt hiện nay có 6 thanh điệu: ngang, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng và tương đối khó phát âm đối với những người mà tiếng Việt không phải là tiếng mẹ đẻ. Ngày nay do sử dụng ký tự Latinh (a, b, c,...) của chữ Quốc ngữ, việc giao tiếp ngôn ngữ trên internet trở nên dễ dàng hơn so với các bộ chữ tượng hình như chữ Nôm, chữ Hán...

Các dự thảo chữ viết mới cho tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc âm tân tự[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc âm tân tự (chữ Hán: 國音新字, có nghĩa là chữ quốc âm mới (quốc âm là tên gọi cũ của tiếng Việt)) là một loại chữ viết biểu âm. Hiện còn hai bản viết tay cổ (mỗi bản có bốn tờ) của cùng một văn bản có tên là Quốc âm tân tự (國音新字) viết về loại chữ này đang được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam. Trong văn bản Quốc âm tân tự không có thông tin cho biết ngày tháng năm cụ thể tác phẩm này được viết ra. Căn cứ vào việc trong lời tựa của tác phẩm chữ “華” (hoa) trong tên gọi “中華” (Trung Hoa) đã được tị huý bằng cách bỏ không viết nét cuối của chữ này (nét sổ) thì có thể đoán rằng văn bản này được viết dưới thời vua Thiệu Trị (trị vì từ năm 1841 đến năm 1847) (Mẹ vua Thiệu Trị tên là Hồ Thị Hoa (胡氏華)). Cuối lời tựa của văn bản có dòng chữ “五星聚斗南城居士阮子書” (Ngũ Tinh Tụ Đẩu Nam thành cư sỹ Nguyễn tử thư). Qua dòng chữ này có thể biết rằng tác giả của Quốc âm tân tự là một cư sỹ mang họ Nguyễn (阮) ở thành Nam Định (南定) có biệt hiệu là Ngũ Tinh Tụ Đẩu (五星聚斗).[2]

Quốc âm tân tự có tổng cộng 132 chữ đơn, chia thành hai loại gọi là cán tự (幹字) và chi tự (枝字). Tác giả của Quốc âm tân tự đã dùng bốn nét bút là ngang (一), sổ (丨), chấm (丶), phẩy (丿) (nét phẩy còn có biến thể là “㇏”) để tạo nên các chữ đơn. Không phải chữ đơn nào cũng có đủ bốn nét bút kể, có những chữ đơn chỉ có chứa hai hoặc ba nét bút nhưng dù một chữ đơn có bao nhiêu nét bút thì tổng số nét, không phân biệt loại nét bút, trong chữ đơn đó đều là bốn, ví dụ như cán tự “đông” do ba nét ngang và một nét sổ tạo thành.[3]

Quốc âm tân tự có 22 cán tự và 110 chi tự. Các cán tự được dùng để ghi phụ âm đầu, chi tự dùng để ghi vần. Mỗi cán tự đều được đặt tên bằng một từ mang vần “ông” có phụ âm đầu là phụ âm đầu mà cán tự đó biểu thị, ví dụ như cán tự biểu thị phụ âm “đ” được đặt tên là “đông”.[4]

Các quan điểm về sự tồn tại của một loại chữ viết tiếng Việt không thuộc loại hình văn tự Hán vào thời cổ đại[sửa | sửa mã nguồn]

Trong sách Thanh Hoá quan phong (清化觀風) do Vương Duy Trinh (王維楨) biên soạn năm Thành Thái (成泰) thứ 15 (Tây lịch năm 1903) có chép lại "một khúc ca" "tiếng châu" bằng "chữ châu" được chú âm đọc và dịch sang tiếng Việt bằng chữ Nôm kèm theo danh sách 35 "Man mẫu tự" (蠻母字, nghĩa là chữ cái của người Man) cũng được chú âm đọc bằng chữ Nôm. Sách nói về "chữ châu" như sau (nguyên văn bằng chữ Nôm, đoạn trích dưới đây đã được phiên âm sang chữ quốc ngữ):

Một số người đã cho thứ chữ châu được nói đến trong Thanh Hoá quan phong là chữ Việt cổ. Kỳ thực chữ châu trong Thanh Hoá quan phong là một trong tám dạng chữ viết của người Thái, cải biên từ chữ Phạn, lưu hành ở vùng núi Thanh Hóa, Nghệ An.[5]

Cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 một người tên là Đỗ Văn Xuyền tự nhận là tìm ra và giải mã được "chữ Việt cổ" [6], nêu trong cuốn sách "Cuộc hành trình đi tìm chữ Việt cổ" ra mắt tháng 1/2013 [7]. Theo đó Trung tâm UNESCO Nghiên cứu Bảo tồn Chữ Việt Cổ đã giới thiệu là [8]:

“Ngay từ trước Công nguyên, người Việt đã có chữ tượng thanh - loại chữ ghép chữ cái thành từ”. Điều này được thể hiện trên các di chỉ khảo cổ đồ gốm, đồ đồng của thời kỳ Đông Sơn như: lưỡi cày, đặc biệt là trống đồng… cùng các hình vẽ, chữ viết trên đá cổ Sa Pa, Xín Mần, Pá Màng… theo một hệ thống nhất quán, tất cả đều thể hiện đó là những chữ viết cổ từ thời kỳ tiền văn tự, phát triển và hoàn thiện dần thành bộ chữ Khoa Đẩu [9]. Đây là loại chữ lưu truyền từ thời Vua Hùng, có hình dáng như những con nòng nọc [note 1].

Tuy nhiên học giả khác thì cho rằng cái gọi là "chữ Việt cổ" của ông Đỗ Văn Xuyền thực chất cũng chính là loại chữ Thái đã được nhắc đến trong Thanh Hoá quan phong, Đỗ Văn Xuyền đã cố gò ép để loại chữ Thái này có thể dùng để ghi tiếng Việt được[10][11].

Chỉ dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bãi đá cổ Nậm Dẩn, cùng với bãi đá cổ Sa Pa, bãi đá Tả Phìn (Lào Cai), đều ở vùng ranh giới của vương quốc Đại Lý với nước Việt hồi năm 950-1100. Phân bố, sự tương tự phong cách tạo hình và mô típ đề tài của các hình ở các bãi đá gợi ý về liên quan đến thời kỳ lịch sử đó.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Trần Nghĩa. Di sản Hán Nôm Việt Nam. Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2017.
  2. ^ Nguyễn Quang Hồng. Khái luận văn tự học chữ Nôm. Nhà xuất bản Giáo dục. Năm 2008. Trang 476–478.
  3. ^ Nguyễn Quang Hồng. Khái luận văn tự học chữ Nôm. Nhà xuất bản Giáo dục. Năm 2008. Trang 478 và 479.
  4. ^ Nguyễn Quang Hồng. Khái luận văn tự học chữ Nôm. Nhà xuất bản Giáo dục. Năm 2008. Trang 480.
  5. ^ Phan Anh Dũng, "Về chữ Thái trong tác phẩm Thanh Hoá quan phong", Tạp chí Hán Nôm, số 2(99), năm 2010, bản lưu trên trang web Viện nghiên cứu Hán Nôm. Truy cập ngày 07 tháng 07 năm 2013.
  6. ^ Phạm Ngọc Dương, "Người 50 năm giải mã chữ của tổ tiên người Việt", VTC News. Truy cập ngày 07 tháng 07 năm 2013.
  7. ^ Văn Lang thời Hùng Vương đã từng có chữ viết riêng?. Đại học Văn Hoá Hà Nội, 2013. Truy cập 19/12/2016.
  8. ^ Giải mã Chữ Việt Cổ. Trung tâm UNESCO Nghiên cứu Bảo tồn Chữ Việt Cổ, 08/05/2013. Truy cập 19/12/2016.
  9. ^ Scott Rutherford. Vietnam, 2003, p230 "Although the lowland Vietnamese, the Kinh, lost their original written script after 1,000 years of Chinese domination, the Muong have nonetheless retained theirs. Known as khoa dau van, it is similar to Thai and Lao, which have Sanskrit..."
  10. ^ An Chi, "Chữ 'Việt cổ' của ông Đỗ Văn Xuyền", Năng lượng Mới. Truy cập ngày 07 tháng 07 năm 2013
  11. ^ An Chi, "Chữ "Việt cổ" của ông Đỗ Văn Xuyền (tiếp)", Năng lượng Mới. Truy cập ngày 07 tháng 07 năm 2013.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]