Mikoyan-Gurevich MiG-25

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
MiG-25
Mig-25.jpg
MiG-25 Không quân Nga
Kiểu Máy bay đánh chặn/trinh sát
Hãng sản xuất Mikoyan-Gurevich OKB
Chuyến bay đầu tiên 6 tháng 3-1964
Được giới thiệu 1970
Tình trạng Hoạt động hạn chế
Hãng sử dụng chính Flag of Russia.svg Không quân Nga (70)
Flag of Algeria.svg Không quân Algeria (11)
Flag of Syria.svg Không quân Syria (11)
Flag of Armenia.svg Không quân Armenia (1)
Số lượng được sản xuất 1.190
Những phương án tương tự Mikoyan MiG-31

Mikoyan-Gurevich MiG-25 (tiếng Nga: МиГ-25) (tên ký hiệu của NATO: "Foxbat") là một máy bay tiêm kích đánh chặn, trinh sátném bom siêu thanh, được thiết kế bởi Phòng thiết kế Mikoyan-Gurevich của Liên Xô. Mẫu đầu tiên chế tạo thử nghiệm bay vào năm 1964, sau đó đi phục vụ vào năm 1970. Với tốc độ tối đa là Mach 3.2, một rada cực mạnh và 4 tên lửa không đối không, Foxbat lúc mới xuất hiện đã khiến nhiều nhà phân tích và chuyên gia quân sự Phương Tây phải hốt hoảng.

Chiếc máy bay này có nhiều tính năng chưa được tìm ra cho đến khi phi công Liên Xô Viktor Belenko lái chiếc MiG-25 của anh ta đào tẩu sang Nhật Bản vào năm 1976. Ngay sau đó các nhà khoa học đã phát hiện ra MiG-25 có một thiết kế đơn giản nhưng hiệu quả với hệ thống điện tử dùng đèn chân không, 2 động cơ lớn và sử dụng một cách tiết kiệm các vật liệu mới như titan[1]. Nhờ MiG-25 mà người Mỹ đã hoàn thiện được thiết kế F-15 Eagle của mình[cần dẫn nguồn]. MiG-25 được sản xuất với số lượng là 1.190 chiếc.[2], và được sử dụng chủ yếu trong không quân Xô viết (cũ) và các nước đồng minh; hiện nay nó chỉ phục vụ với số lượng hạn chế trong không quân Nga và một số nước khác. Ngoài ra, MiG-25 còn là cơ sở để phát triển loại tiêm kích đánh chặn MiG-31 vẫn đang hoạt động tích cực trong Không quân Nga.

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Ye-155
Ye-155R

MiG-25 bắt đầu được phát triển vào thập niên 1950, song song với việc Hoa Kỳ cố gắng phát triển một loại máy bay ném bomđánh chặn có vận tốc Mach 3, trong đó có cả mẫu thí nghiệm XB-70 Valkyrie (cuối cùng loại máy bay này đã không được sản xuất), XF-103 Thunderwarrior, Lockheed YF-12XF-108 Rapier. Khi chiếc máy bay đầu tiên có vận tốc Mach 2 bắt đầu đi vào hoạt động, máy bay đạt vận tốc Mach 3 có vẻ như là một bước đi hợp lôgic. Những vai trò đã dạng đã được tính toán, như mang tên lửa hành trình và cả một mẫu máy bay dân dụng chở từ 5-7 hành khách có vận tốc siêu âm, nhưng sự thúc đẩy chính là phải có một loại máy bay do thám và đánh chặn hạng nặng mới có vận tốc Mach 3.

Mikoyan-Gurevich OKB đã được chỉ định để nghiên cứu chế tạo vào ngày 10 tháng 3-1961. Dù cho mẫu máy bay XB-70 Valkyrie của Mỹ đã bị hủy bỏ nghiên cứu trước khi Liên Xô nghiên cứu loại máy bay mới, sau này thì chiến thắng đã thuộc về người Xô Viết. Mẫu máy bay mới của Liên Xô có tên gọi ban đầu là "Ye-155" (hay "Е-155"), mẫu này có cánh cụp cố định, có vẻ như mẫu Ye-155 đã giành được sự quan tâm của Quân chủng phòng không Xô Viết (PVO Strany), nó sẽ được sử dụng trong vai trò đánh chặn chống lại loại SR-71 Blackbird do thám của Hoa Kỳ. Có nhiều ý kiến cho rằng việc phát triển MiG-25 là để đáp lại việc Hoa Kỳ phát triển XB-70 Valkyrie. Tuy nhiên người đứng đầu Phòng thiết kế MiG A. Belyankov tin rằng không có cơ sở cho ý kiến đó.

Khi bay với vận tốc cao hơn Mach 2, nhiệt gây ra do máy bay ma sát với không khí rất lớn, nên MiG-25 không thể được chế tạo với những hợp kim nhôm truyền thống. Hãng Lockheed đã dùng titan cho YF-12SR-71 của họ (mà titan này lại được mua từ Liên Xô), và hãng North American đã dùng loại thép rỗ tổ ong cho XB-70. Cả 2 công ty Mỹ đều cố gắng hoàn thiện vật liệu chế tạo máy bay của họ. Trong khi đó, cuối cùng thì Mikoyan-Gurevich OKB quyết định phần lớn chi tiết của MiG-25 sẽ được chế tạo bằng thép hợp kim niken. Kỹ thuật hàn ghép các tấm thép của MiG-25 gồm có hàn điểm, hàn máy tự động và phương pháp hàn hồ quang bằng tay. Lúc đầu các mối hàn bị rạn nứt do máy bay bị rung khi hạ cánh. Nhưng nó nhanh chóng được hàn lại. Một lượng nhỏ titan và hợp kim nhôm đã được dùng để chế tạo MiG-25, ở các khu vực đặc biệt nhạy cảm dễ bị ảnh hưởng bởi lực lực kéo lớn.

Nguyên mẫu đầu tiên, thực tế là phiên bản trinh sát, có ký hiệu "Ye-155-R1", bay lần đầu tiên vào ngày 6 tháng 3-1964. Mẫu máy bay đánh chặn đầu tiên, "Ye-155-P1", được thử nghiệm vào ngày 9 tháng 9-1964. Sự phát triển của những phiên bản thử nghiệm cho thấy những bước tiến quan trọng trong ngành khí động học, trình độ kỹ sưluyện kim của Liên Xô, và để hoàn thành chiếc MiG-25 hoàn hảo cần một vài năm nữa. Trong quá trình đó, vài mẫu thử nghiệm với tên gọi "Ye-266" (hay "Е-266"), đã được sản xuất để thiết lập những kỷ lục bay mới trong những năm 1965, 19661967.

MiG-25 được sản xuất hàng loạt với 2 phiên bản MiG-25P ('Foxbat-A') (máy bay đánh chặn) và MiG-25R ('Foxbat-B') (máy bay trinh sát) bắt đầu vào năm 1969. MiG-25R được đưa ngay vào phục vụ trong Không quân Xô Viết (VVS), nhưng MiG-25P lại bị trì hoãn đến năm 1972 mới được đưa vào phục vụ trong Quân chủng phòng không Xô Viết (PVO). Một phiên bản huấn luyện cũng được phát triển được chia ra thành MiG-25PU ('Foxbat-C') cho MiG-25P và MiG-25RU cho MiG-25R. Ngoài ra MiG-25R còn được mở rộng thêm một số phiên bản như MiG-25RB trinh sát/ném bom, MiG-25RBSMiG-25RBSh máy bay trang bị radar cảnh báo trên không (SLAR), MiG-25RBKMiG-25RBF ('Foxbat-D') trang bị hệ thống ELINT (thu thập tin tức tình báo bằng tín hiệu điện tử), và MiG-25BM ('Foxbat-F') phiên bản trang bị SEAD (chế áp hệ thống phòng không đối phương), mang bốn tên lửa chống bức xạ Raduga Kh-58 (tên ký hiệu của NATO: AS-11 'Kilter').

MiG-25

MiG-25 thể hiện hiệu năng rất cao, nó có thể bay với vận tốc cực đại Mach 3.2 trên độ cao 27.000 m (90.000 ft), ngày 31 tháng 8 năm 1977 có một chiếc E-266M, đây là một phiên bản MiG-25 được chế tạo đặc biệt, do phi công thử nghiệm chính của OKB MiG là Alexander Fedotov điều khiển, đã bay lên đến độ cao 37.650 m (123.524 ft), lập một kỷ lục độ cao mới tại Podmoskovnoye, Liên Xô. Dù dự định cho mục đích đánh chặn hay đe dọa bay trên độ cao lớn, có tốc độ cao, nhưng khả năng cơ động, tầm bay và không chiến tầm gần của MiG-25 rất hạn chế. Một vài ý kiến tin rằng MiG-25 được dùng với mục đích để ngăn chặn SR-71 Blackbird, hoặc ít nhất dùng để đánh chặn những máy bay có vận tốc lớn, trần bay cao. Dù đạt vận tốc rất lớn, nhưng đó cũng là vấn đề với MiG-25, khi bay ở vận tốc lớn động cơ rất nhanh bị hỏng,[3] dù vấn đề này vẫn hay được tranh luận.[4][5] Nói chung, MiG-25 không bao giờ gặp những mục tiêu đánh chặn của nó trong thiết kế. Trong quá trình đánh chặn, để thành công yêu cầu máy bay phải có tốc độ bay tăng thêm từ 25% đến 50% và bám sát mục tiêu, cộng thêm khả năng chịu đựng và phạm vi hoạt động hợp lý. MiG-25 khi đạt đến độ cao thích hợp nó có thể duy trì tốc độ cực đại trong 10 phút.

Dù có những hạn chế và những thông tin tình báo phân tích không đúng và vài giả thiết sai đã gây ra một sự hoảng sợ trong các nước Phương Tây, một số ý kiến vào lúc đầu tin tưởng rằng MiG-25 thật sự là một máy bay tiêm kích không chiến nhanh nhẹn hơn là một máy bay đánh chặn chuyên nghiệp ở tầm xa. Để đáp trả lại người Nga, người Mỹ đã giới thiệu một chương trình mới đầy tham vọng, mà McDonnell Douglas F-15 Eagle là một thành quả của chương trình đó (F-15 có cấu tạo bề ngoài khá giống với MiG-25).

Sự kiện Belenko[sửa | sửa mã nguồn]

Một hiểu biết thật sự về sức mạnh và yếu điểm của MiG-25 bất ngờ đến với Phương Tây vào năm 1976. Ngày 6 tháng 9, một phi công PVO là Viktor Belenko, đã đào ngũ sang Phương Tây, chiếc MiG-25P "Foxbat-A" của Belenko đã hạ cánh tại sân bay HakodateNhật Bản. Mặc dù chiếc MiG-25P này cũng được trao trả lại phía Liên Xô, nhưng trước đó nó đã được tháo ra và nghiên cứu cẩn thận từng chi tiết để phân tích bởi Bộ phận công nghệ tại nước ngoài (giờ là Trung tâm tình báo không trung và không gian quốc gia) của Không quân Hoa Kỳ, tại căn cứ không quân Wright-Patterson gần Dayton, Ohio. Sau 67 ngày, chiếc máy bay đã được trở về Liên Xô dưới dạng linh kiện rời; và với những kết luận phân tích đáng ngạc nhiên:

  • Máy bay của Belenko là loại máy bay đời mới, đại diện cho công nghệ Xô Viết mới nhất.
  • Máy bay được lắp ráp rất nhanh, và thực chất được xây dựng xung quanh động cơ phản lực Tumansky của máy bay.
MiG-25 phiên bản huấn luyện
  • Việc hàn được làm bằng tay và chế tạo một cách khá thô. Giống như nhiều máy bay Xô Viết, những đầu đinh tán được để lộ tại những bề mặt không ảnh hưởng đến lực cản khí động lực của máy bay.
  • Máy bay được chế tạo từ hợp kim thép niken và không phải là titan như người ta vẫn nhầm lúc đầu (tuy nhiên titan đã được sử dụng trong những bề mặt chịu nhiệt cao). Cấu trúc thép thiết kế đã góp phần tạo ra trọng lượng không có vũ khí lên tới 64.000 lb (29 tấn).
  • Phần lớn thiết bị điện tử trên máy bay được chế tạo dựa trên công nghệ đèn chân không, chiếc MiG-25 đã không sử dụng thiết bị điện tử bán dẫn. Có vẻ khá lỗi thời, nhưng cách sử dụng đèn chân không rất khéo léo bởi vì những ống chân không ít bị ảnh hưởng bởi xung điện từ (EMP) sinh ra khi có vụ nổ hạt nhân và chịu nhiệt tốt hơn, do đó loại bỏ những nhu cầu về môi trường điều khiển phức tạp bên trong khoang điện tử của máy bay. Ngoài ra, những đèn chân không dễ dàng để thay thế tại những sân bay quân sự xa xôi ở phía Bắc, nơi mà những bóng bán dẫn tinh vi không luôn có sẵn để thay thế. Như mọi máy bay Xô Viết, MiG-25 được thiết kế càng khỏe càng tốt.
  • Nhờ việc sử dụng đèn chân không, chiếc MiG-25P có một rada rất mạnh loại Smerch-A (Tornado, tên ký hiệu của NATO "Foxfire") — công suất khoảng 600 kW — với rada này thì mọi biện pháp phòng thủ điện tử của quân địch (EMC) đều trở nên vô dụng.
  • Trên đồng hồ đo vận tốc chỉ tối đa là Mach 2.8 và những phi công được yêu cầu không được vượt quá vận tốc Mach 2.5 để nâng cao tuổi thọ sử dụng của những động cơ. Vào năm 1973, người ta đã được chứng kiến một chiếc MIG-25 của Ai Cập bay qua Israel với vận tốc Mach 3.2, điều này đã gây sốc mạnh đối với Phương Tây. Và kết quả của chuyến bay là động cơ đã phải thay thế khi máy bay hạ cánh.[6]
  • Gia tốc cực đại mà máy bay chịu được là 2,2 G (21,6 m/s²) với những thùng nhiên liệu đầy, nó chịu được giá trị giới hạn tuyệt đối là 4,5 G (44,1 m/s²). Một chiếc MiG-25 chịu được một gia tốc là 11,5 G (112,8 m/s²) kéo dài trong suốt thời gian huấn luyện hỗn chiến bay thấp, nhưng khung máy bay lại hầu như không biến dạng.
  • Bán kính chiến đấu là 186 dặm (300 km), phạm vi cực đại với đầy đủ nhiên liệu bên trong (với tốc độ dưới tốc độ am thanh) là 744 dặm (1.200 km). Thật ra, Belenko khi đào thoát sang Nhật Bản đã không mang đủ nhiên liệu cần thiết, Belenko đã hạ cánh trên một đường băng thương mại chật hẹp, và đáp vượt quá cuối đường băng.
  • Đa số MiG-25 được sử dụng loại ghế phóng khẩn cấp KM-1, tuy nhiên đó là phiên bản cuối cùng, những kỹ sư đã sử dụng một phiên bản của loại ghế nổi tiếng K-36. Một biên bản ghi lại một cuộc thử nghiệm tốc độ ghế phóng loại KM-1 trên MiG-25 đã đo được tốc độ là Mach 2.76.
camera trên MiG-25RB

Kết quả kiểm tra làm người Mỹ cảm thấy thất vọng bởi lẽ tính năng kỹ thuật máy bay MiG-25 mà họ phát hiện chỉ ngang bằng máy bay chiến đấu F-4 của Mỹ[7] và nó không phải là đối thủ ngang tầm đối với các loại máy bay chiến đấu như F-15F-16 mới nhất mà Mỹ nghiên cứu, chế tạo ra.[7]

Vì vậy, ngày 12/11, Mỹ – Nhật đã đáp ứng “rất vô tư” các yêu cầu của Liên Xô đòi đưa chiếc máy bay MiG-25 đó về nước. Ngày 15/11, 8 xe tải chở các bộ phận linh kiện của MiG-25 đã được đưa lên tàu chở về Liên Xô.[7]

Cùng với sự đào tẩu của Belenko là những bí mật về hệ thống radartên lửa của MiG-25P đã bị Phương Tây khám phá, và ngay lập tức trong năm 1978, Xô Viết đã phát triển một phiên bản cải tiến mới, MiG-25PD ("Foxbat-E"), với một radar RP-25 Saphir look-down/shoot-down mới, hệ thống dò tìm và theo dõi bằng tia hồng ngoại (IRST), và những động cơ mạnh hơn. Khoảng 370 chiếc MiG-25P đã được nâng cấp theo tiêu chuẩn mới và có tên gọi là MiG-25PDS.

Có khoảng 1.190 chiếc MiG-25 đã được sản xuất cho đến khi việc chế tạo dừng lại vào năm 1984, và một số chiếc đã được xuất khẩu sang Algérie, Bulgaria (3 MiG-25R và 1 MiG-25RU trước năm 1992), Ấn Độ (trước năm 2006), Iraq, Libya, và Syria. Một vài chiếc vẫn còn hoạt động cho đến nay.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Buồng lái MiG-25

Trước khi bắt đầu hoạt động chính thức, 4 chiếc MiG-25R đã hoạt động tạm thời trong Không quân Ai Cập vào năm 1971 dưới vỏ bọc tên gọi "X-500". Cả 4 chiếc đều có dấu hiệu của không quân Ai Cập. Chúng bay theo đội hình 2 chiếc và đã bay qua Israel khoảng 20 lần. Năm 1973, một chiếc MiG-25 của Ai Cập đã đạt đến tốc độ Mach 3.2 trong khi đang bị những chiếc F-4E của Israel bám đuổi.[6] Không quân Israel đã không thể tìm được cách nào để ngăn chặn những chiếc MiG-25, dù tình báo của Israel luôn biết trước được lịch bay qua không phận Israel của MiG-25. Những chiếc MiG-25R này sau đó đã trở về Liên Xô vào năm 1972, và sau đó những chiếc Foxbat trinh sát này lại được gửi trở lại Ai Cập vào tháng 10-1973, sau Chiến tranh Yom Kippur, và tiếp tục ở lại vào năm 1974.[8] Không quân Israel không có khả năng ngăn chặn những chiếc MiG-25 cho đến khi họ được trang bị loại F-15 Eagle.

MiG-25 cũng phục vụ trong Không quân Iraq trong suốt thời gian cuộc chiến tranh Iran-Iraq, nhưng kết quả không được kiểm chứng.

Năm 1991 khi xảy ra Chiến tranh vùng Vịnh, một chiếc F/A-18 của Hải quân Mỹ do phi công Speicher điều khiển đã bị bắn hạ trong đêm đầu của cuộc chiến bởi một tên lửa không đối không[9] được bắn ra từ một chiếc MiG-25.[10] Theo tường trình thì vụ bắn hạ F/A-18 là do tên lửa R-40DT bắn từ một chiếc MiG-25PDS do phi công Zuhair Dawood thuộc phi đội số 84 của Không quân Iraq thực hiện.[11] Sự kiện này đã khiến MiG-25 là máy bay duy nhất sau Chiến tranh Việt Nam đã bắn hạ máy bay chiến đấu của Mỹ trong thời gian chiến tranh.

Trong một sự kiện khác, 1 chiếc MiG-25PD của Iraq, sau khi tránh né 8 chiếc F-15 của Không quân Mỹ đã bắn 3 tên lửa vào máy bay tác chiến điện tử EF-111 Raven, khiến EF-111 này phải từ bỏ nhiệm vụ của mình. Điều này có thể dẫn đến việc mất một chiếc F-15 do bị bắn hạ bởi tên lửa đất đối không, vì thiếu gây nhiễu điện tử.[12]

Ở một sự kiện khác, 2 chiếc MiG-25 đã tiếp cận 2 chiếc F-15, bắn tên lửa nhưng những chiếc F-15 đã tranh được, sau đó 2 chiếc MiG-25 đã sử dụng tốc độ bỏ xa những chiếc tiêm kích của Mỹ. 2 chiếc F-15 khác cũng đã tham gia truy đuổi những chiếc MIG-25, tổng cộng đã có 10 tên lửa khong đối không bắn vào 2 chiếc MiG-25, không quả nào bắn trúng MiG-25.[13] Theo cùng nguồn tin, ít nhất 1 chiếc F-111 cũng bị buộc phải từ bỏ nhiệm vụ bởi một 1 chiếc MiG-25 trong 24 giờ đầu của cuộc chiến, trong một không kích vào Tikrit.[14]

2 chiếc MiG-25 đã bị hạ bởi những chiếc F-15C của Không quân Hoa Kỳ trong chiến tranh Vùng Vịnh. Sau chiến tranh vào năm 1992, F-16 của Hoa Kỳ đã hạ một chiếc MiG-25 khi nó bay vào vùng cấm bay do Hoa Kỳ lập ra ở miền Nam Iraq.

Vào tháng 5-1997, một chiếc MiG-25RB của Không quân Ấn Độ đã bay vượt vận tốc Mach 3 ở quãng đường ít nhất là 65.000 ft, khi đang bay qua lãnh thổ của Pakistan. Theo báo cáo thì đây là một nỗ lực có suy nghĩ bởi không quân Ấn Độ để trình diễn những khả năng của MiG-25 mà Không quân Pakistan không thể sánh kịp.[15]

MiG-25 chôn dưới cát của Iraq bị quân đội Mỹ tịch thu

Vào ngày 23-12-2002, một chiếc MiG-25 của Iraq đã bắn hạ một chiếc máy bay không người lái MQ-1 Predator của không quân Mỹ, chiếc máy bay này được trang bị tên lửa và có nhiệm vụ thăm dò đối với Iraq. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử mà một máy bay chiến đấu có người lái và một máy bay không người lái đụng độ nhau. MQ-1 Predator được trang bị tên lửa không đối không AIM-92 Stinger, và nó được dùng để làm "mồi nhử" đối với máy bay chiến đấu của Iraq, sau đó nó sẽ tẩu thoát. Trong trường hợp này thì chiếc máy bay không người lái lại không chạy trốn, mà nó đã bắn một trong những quả tên lửa Stinger, nhưng đã trượt mục tiêu, còn quả tên lửa từ chiếc MiG-25 thì không hề trượt mục tiêu..[16]

Không một chiếc máy bay chiến đấu nào của Iraq được sử dụng trong cuộc tấn công năm 2003, đa số đã cất dấu hoặc bị phá hủy. Vào tháng 8-2003, vài tá máy bay Iraq đã được phát hiện chôn dưới cát, bao gồm 2 chiếc MiG-25 đã được chở bằng xe gửi đến Bộ phận công nghệ tại nước ngoài bằng một chiếc C-5B Galaxy. Vào tháng 12-2006, người ta công bố một chiếc MiG-25 được tặng cho Bảo tàng không quân Quốc gia Mỹ tại Dayton, Ohio.[3]

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các nước sử dụng MiG-25

Các quốc gia vẫn đang sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

 Algérie
11 chiếc vẫn còn đang hoạt động trong Không quân Algeria, bao gồm 5 MiG-25A, 3 MiG-25PD, và 3 chiếc kiểu MiG-25R.
 Armenia
1 chiếc hiện đang được duy trì hoạt động trong Không quân Armenia.
 Azerbaijan
20 chiếc đang hoạt động.
 Nga
70 đang tiếp tục hoạt động trong Không quân Nga. Gồm 30 MiG-25 tiêm kích và 40 MiG-25RB trinh sát.
 Syria
11 chiếc đang hoạt động, gồm 2 MiG-25R và MiG-25U trong Không quân Syria.

Các quốc gia không còn sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

 Bungary
3 chiếc MiG-25RBT (số hiệu 731, 736, 754) và 1 chiếc MiG-25RU (số hiệu 51) đã cung cấp vào năm 1982. Vào 12-4-1984, chiếc máy bay số hiệu 736 gặp tai nạn gần Balchik. Phi công may mắn không bị thương. Vào tháng 5-1991, những chiếc MiG-25 được gửi trả về Liên Xô để đổi lấy 5 chiếc MiG-23.
Flag of India.svg Ấn Độ
Ngừng hoạt động vào tháng 7-2006.
 Iraq
7 bay tới Iran năm 1991, chiếc khác bị phá hủy trong Chiến tranh Vùng Vịnh và cuộc chiến năm 2003 ở Iraq. Một số chiếc có thể đã mất trong Chiến tranh Iran-Iraq.
Cờ của Gruzia Gruzia
 Kazakhstan
 Libya
 Liên Xô
những chiếc MiG-25 đã được chia đều cho các nước cộng hòa khi Liên Xô tan vỡ vào năm 1991.
 Turkmenistan
 Ukraina
Ngừng hoạt động.

Thông số kỹ thuật (MiG-25P 'Foxbat-A')[sửa | sửa mã nguồn]

Bản vẽ 3D

Dữ liệu lấy từ 'The Great Book of Fighters[17]

Đặc điểm riêng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi đoàn: 1
  • Chiều dài: 19.75 m (64 ft 10 in)
  • Sải cánh: 14.01 m (45 ft 11.5 in)
  • Chiều cao: 6.10 m (20 ft 0.25 in)
  • Diện tích cánh: 61.40 m² (660.93 ft²)
  • Trọng lượng rỗng: 20.000 kg (44.080 lb)
  • Trọng lượng cất cánh: 36.720 kg (80.952 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: n/a
  • Động cơ: 2× Tumansky R-15B-300, lực đẩy 73.5 kN (16.524 lbf), 100.1 kN (22.494 lbf) với nhiên liệu phụ trội

Hiệu suất bay[sửa | sửa mã nguồn]

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Radar RP-25 Smerch
  • Một radar đo độ cao RV-UM hoặc RV-4

Nội dung liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có cùng sự phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có tính năng tương tự[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách máy bay nối tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-19 - MiG-21 - MiG-23 - MiG-25 - MiG-27 - MiG-29 - MiG-31

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://books.google.com.vn/books?id=vkGSIODQIWUC&pg=PA58&lpg=PA58&dq=#v=onepage&q&f=false
  2. ^ Aerospaceweb.org | Aircraft Museum - MiG-25 'Foxbat'
  3. ^ Mikoyan MiG-25 Foxbat http://aeroweb.lucia.it/~agretch/RAFAQ/MiG-25.html
  4. ^ Gunston, Bill and Spick, Mike. Modern Air Combat: The Aircraft, Tactics and Weapons Employed in Aerial Combat Today. NY: Crescent Books, 1983, p. 132-133, Mikoyan/Gurevich MiG-25.
  5. ^ Barron, John. MiG Pilot: The Final Escape of Lt. Belenko. Mcgraw-Hill, 1980. ISBN 0-380-53868-7
  6. ^ a ă â b Spick, Mike. The Great Book of Modern Warplanes. MBI, 2000. ISBN 0-7603-0893-4.
  7. ^ a ă â [1]
  8. ^ MiG-25 Foxbat
  9. ^ "Intelligence Community Assessment of the Lieutenant Commander Speicher Case". 27 tháng 3 năm 2001. FOIA Electronic Reading Room. CIA. 10 tháng 9 năm 2006.[2]
  10. ^ Weiner, Tim. "With Iraq's O.K., a U.S. Team Seeks War Pilot's Body." The New York Times, December 14, 1995: A1.
  11. ^ Sadik, A., Zampini, D. "Tretij Den' (i posledujuschie...)" ["The Third Day (and beyond...)"]. Aviacija i vremja [Aviation and Time] No. 6 (2005).
  12. ^ Atkinson, Rick. Crusade: The Untold History of the Persian Gulf War. New York: Houghton Mifflin Company, 1993, pp 125-126. Quote: But as the Ravens began their second orbit in a counterclockwise turn toward the Syrian border (over Al-Qaim), a MiG-25 suddenly darted toward them at high speed. The Iraqi fired one air-to-air missile at the lead Raven and two at his wingman. The missiles flew wide, but the Ravens dived to escape and then, uncertain where the MiG was lurking, turned back to Saudi Arabia.
  13. ^ Atkinson, pp 230-231.
  14. ^ Atkinson, p 75.
  15. ^ Steinemann, Peter. "Recce Incursion" Air Power International
  16. ^ Krane, Jim. "Pilotless Warriors Soar To Success." CBS News 25 tháng 4 năm 2003. & CBS Video of Shoot-Down
  17. ^ Green, W. & Swanborough, G. The Great Book of Fighters. Osceola, WI: Motorbooks International Publishing, 2001. ISBN 0-7603-1194-3

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]