National League (hạng đấu)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
National League (hạng đấu)
Quốc gia Anh
Thành lập1979
(với tên gọi Alliance Premier League)
Số đội24
Cấp độ
trong hệ thống
5
Bậc 1 (Hệ thống các giải bóng đá ở Anh)
Hạng trênLeague Two
Hạng dướiNational League North
National League South
Cúp quốc giaFA Cup
FA Trophy
Đương kim vô địchBarnet
(2014–15)
Đối tác truyền thôngBT Sport
NLTV
WebsiteNational League
National League 2015–16

National League trước đây gọi là Conference Premier hoặc hiện tại có tên gọi khác là Vanarama National League bởi lý do nhà tài trợ[1]) National League là giải đấu cao nhất của National League (Bóng đá Anh)Anh. Đây là cấp độ giải đấu cao nhất của Hệ thống liên đoàn Quốc gia và Thuộc hạng thứ 5 trong Hệ thống các giải bóng đá Anh. Trong khi tất cả các Câu lạc bộ ở các hạng trên đều là các câu lạc bộ chuyên nghiệp thì National League bao gồm cả các Câu lạc bộ chuyên nghiệp và bán chuyên nghiệp. National League tham dự giải đấu Cúp với Cúp FAFA Trophy. Bắt đầu mùa giải 2015–16, giải đấu được đổi tên thành: National League.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giải đấu được thành lập năm 1979 với tên gọi Alliance Premier League, khởi tranh từ mùa giải 1979–80. Đây là nỗ lực đầu tiên để thiết lập một giải đấu cấp quốc gia đầy đủ nằm dưới Football League, bao gồm các CLB ở Northern Premier LeagueSouthern League. Nó đã làm tăng đáng kể chất lượng của bóng đá ở cấp độ thấp, cũng như cải thiện vấn đề tài chính của các CLB hàng đầu. Ở mùa giải 1986–87, Football League bắt đầu chấp nhận việc lên hạng và xuống hạng giữa Conference (tên mà giải đấu đổi lại sau đó) và hạng đấu thấp nhất của Football League mà thời điểm đó được gọi là Football League Fourth Division hay Football League Two ngày nay. Đội bóng đầu tiên thăng hạng bằng phương thức này là Scarborough và đội bóng đầu tiên bị xuống hạng là Lincoln City, nhưng sau một năm đó đã trở lại Football League nhờ vô địch Conference.

Kể từ mùa giải 2002–03, giải đấu bổ sung một suất thăng hạng thứ hai, với trận play-off để quyết định đội nào sẽ cùng với đội đầu bảng tham gia Football League. Trước đó, sẽ không có thăng hạng từ Conference nếu đội vô địch không có đầy đủ cơ sở vật chất thích hợp. Kể từ mùa giải 2002–03, nếu một CLB giành được suất thăng hạng hoặc đá play-off nhưng không có sân vận động phù hợp, thì sẽ nhường lại cho đội bóng kế sau nó thỏa mãn điều kiện sân bãi. Ở mùa giải 2004–05, Conference mở rộng bằng cách thêm hai hạng đấu thấp hơn vào là Conference NorthConference South, còn hạng đấu gốc đổi tên thành Conference National. Kể từ mùa giải 2006–07, Conference National mở rộng từ 22 thành 24 đội bóng bằng cách thăng hạng 4 đội và xuống hạng 2 đội và giới thiệu hệ thống "4 lên 4 xuống" giữa nó và Conference North cùng với Conference South.

Nhà tài trợ đầu tiên của giải đấu là Gola, trong giai đoạn giữa mùa giải 1984–85 và 1985–86. Khi quyền tài trợ của Gola hết hiệu lực, nhà sản xuất ô tô Vauxhall Motors, tiếp quản và tài trợ cho giải đấu cho đến hết mùa giải 1997–98. Mùa giải 1998–99 Conference khởi tranh mà không có nhà tài trợ, nhưng chỉ ngay trước khi mùa giải kết thúc thì đã ký hợp đồng tài trợ với Nationwide Building Society. Nó kéo dài đến hết mùa giải 2006–07, sau đó Blue Square lên thay thế. Nó cũng đã làm thay đổi tên giải đấu với việc Conference National đổi thành Blue Square Premier, Conference North thành Blue Square North và Conference South thành Blue Square South.[3] Tháng 4 năm 2010, Blue Square thông báo gia hạn tài trợ thêm 3 năm nữa. Kể từ mùa giải 2010-11 các hạng đấu được đổi tên, với việc thêm từ "Bet" đằng sau "Blue Square".

Tháng 7 năm 2013 Conference ký hợp đồng tài trợ với công ty trả tiền online Skrill.[4] Nó chỉ kéo dài 1 năm và tháng 7 năm sau đó Conference thông báo ký hợp đồng tài trợ mới với Vanarama.[1] 3 hạng đấu bây giờ có tên là Vanarama Conference, Vanarama Conference North và Vanarama Conference South.

Tin tức truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 2006 Setanta Sports ký hợp đồng 5 năm với Conference. Trong hợp đồng, Setanta Sports bắt đầu phát sóng trực tiếp các trận đấu kể từ mùa giải 2007–08, với 79 trận đấu trực tiếp mỗi mùa giải. Cũng bao gồm trong hợp đồng có thêm các trận Play Off hàng năm và Conference League Cup, một giải đấu cup dành cho ba hạng đấu của Football Conference.[5] Setanta phát sóng trực tiếp 2 trận mỗi tuần, một trận vào tối thứ 5 và một trận vào ngày cuối tuần.[6] Ở Australia, Conference National được phát sóng bởi Setanta Sports Australia. Setanta Sports chịu tổn thất về tài chính và đã phải hủy bỏ phát sóng ở Vương quốc Anh từ ngày 23 tháng 6 năm 2009.[7] Sky Sports phát sóng trận chung kết Play-off Conference năm 2010 ở Wembley.

Ngày 19 tháng 8 năm 2010, Premier Sports thông báo rằng đã mua bản quyền trực tiếp và độc quyền của đài truyền hình Vương quốc Anh cho 30 trận đấu mỗi mùa giải trong tổng cộng 3 mùa giải.[8] 30 trận đấu được lựa chọn phát sóng sẽ bao gồm cả năm trận play-off của Conference Premier.[9] Hợp đồng với Football Conference là thỏa thuận chia lợi nhuận qua đó các CLB được nhận 50% tổng lợi nhuận từ tiền quyên góp, thêm vào tiền bản quyền trả bởi phát thanh viên một khi đã giá sản xuất đã đủ. The Conference vẫn nhận 50% tiền quyên góp trên Internet liên kết với hợp đồng và cho phép họ quyền quảng cáo liên quan đến các quảng cáo được trình chiếu trong các trận đấu. Trong mùa giải 2010–11, Premier Sports không thu hút đủ khán giả cho các trận đấu của Conference để chia lợi nhuận với các CLB với phí 5,000 bảng Anh cho các đội sân nhà và 1,000 bảng Anh cho các đội sân khách. Tháng 7 năm 2013, BT Sport ký hợp đồng 2 năm phát sóng trực tiếp 30 trận đấu bao gồm của 5 trận playoff.[10]

Câu lạc bộ tham dự mùa giải 2015-16[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ Vị trí xếp hạng mùa trước
Aldershot Town 18th
Altrincham 17th
Barrow 1st (Thăng hạng từ Conference North)
Boreham Wood 2nd (Thăng hạng khi thắng play-off Conference South)
Braintree Town 14
Bromley 1st (Thăng hạng từ Conference South)
Cheltenham Town 23rd (Xuống hạng từ League Two)
Chester 12th
Dover Athletic 8th
Eastleigh 4th
FC Halifax Town 9th
Forest Green Rovers 5th
Gateshead 10th
Grimsby Town 3rd
Guiseley 5th (Thăng hạng khi thắng play-off Conference North)
Kidderminster Harriers 16th
Lincoln City 15th
Macclesfield Town 6th
Southport 19th
Torquay United 13th
Tranmere Rovers 24th (Xuống hạng từ League Two)
Welling United 20th
Woking 7th
Wrexham 11th

Các nhà vô địch trước đây[sửa | sửa mã nguồn]

Số trong dấu ngoặc đơn cho biết số lần vô địch tính đến thời điểm hiện tại.

Mùa giải Đội vô địch Đội thắng Playoff
1979–80 Altrincham1
1980–81 Altrincham1 (2)
1981–82 Runcorn1
1982–83 Enfield1
1983–84 Maidstone United1
1984–85 Wealdstone1
1985–86 Enfield1 (2)
1986–87 Scarborough
1987–88 Lincoln City
1988–89 Maidstone United (2)
1989–90 Darlington
1990–91 Barnet
1991–92 Colchester United
1992–93 Wycombe Wanderers
1993–94 Kidderminster Harriers2
1994–95 Macclesfield Town2
1995–96 Stevenage Borough2
1996–97 Macclesfield Town (2)
1997–98 Halifax Town
1998–99 Cheltenham Town
1999–00 Kidderminster Harriers (2)
2000–01 Rushden & Diamonds
2001–02 Boston United3
2002–03 Yeovil Town Doncaster Rovers
2003–04 Chester City Shrewsbury Town
2004–05 Barnet (2) Carlisle United
2005–06 Accrington Stanley Hereford United
2006–07 Dagenham & Redbridge Morecambe
2007–08 Aldershot Town Exeter City
2008–09 Burton Albion Torquay United
2009–10 Stevenage Borough (2) Oxford United
2010–11 Crawley Town AFC Wimbledon
2011–12 Fleetwood Town York City
2012–13 Mansfield Town Newport County
2013–14 Luton Town Cambridge United
2014–15 Barnet (3) Bristol Rovers
  • ^1 Không có thăng hạng lên the Football League cho đến năm 1987.
  • ^2 Không có thăng hạng lên Football League bởi vì sân vận động không thích hợp cho đến năm 1997.
  • ^3 Boston United được phép giữ lại chức vô địch và thăng hạng mặc dù bị buộc tội có hành vi sai trái nghiêm trọng trong tài chính trong suốt mùa giải. Do sự xuống hạng lại từ Football League nên cuối mùa giải 2006–07, do vấn đề tài chính và không theo quy tắc đang diễn ra ở CLB, Boston bị xuống thêm một hạng nữa và phải chơi ở Premier Division thuộc Northern Premier League.

Kết quả các trận Play-off[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Trận bán kết thứ nhất (thứ 5 vs thứ 2) Trận bán kết thứ hai (thứ 4 vs thứ 3) Trận chung kết
2013–14 FC Halifax Town 1–0 Cambridge United

Cambridge United 2–0 FC Halifax Town

Grimsby Town 1–1 Gateshead

Gateshead 3–1 Grimsby Town

Cambridge United 2–1 Gateshead

(Match Report)

2012–13 Wrexham 2–1 Kidderminster Harriers

Kidderminster Harriers 1–3 Wrexham

Grimsby Town 0–1 Newport County

Newport County 1–0 Grimsby Town

Wrexham 0–2 Newport County

(Match Report)

2011–12 Luton Town 2–0 Wrexham

Wrexham 2–1 Luton Town

York City 1–1 Mansfield Town

Mansfield Town 0–1 York City

Luton Town 1–2 York City

(Match Report)

2010–11 Fleetwood Town 0–2 AFC Wimbledon

AFC Wimbledon 6–1 Fleetwood Town

Wrexham 0–3 Luton Town

Luton Town 2–1 Wrexham

AFC Wimbledon 0–0 Luton Town
AFC Wimbledon thắng 4–3 trong loạt sút luân lưu
(Match Report)
2009–10 Luton Town 0–1 York City

York City 1–0 Luton Town

Oxford United 2–0 Rushden & Diamonds

Rushden & Diamonds 1–1 Oxford United

Oxford United 3–1 York City

(Match Report)

2008–09 Stevenage Borough 3–1 Cambridge United

Cambridge United 3–0 Stevenage Borough

Torquay United 2–0 Histon

Histon 1–0 Torquay United

Cambridge United 0–2 Torquay United

(Match Report)

2007–08 Burton Albion 2–2 Cambridge United

Cambridge United 2–1 Burton Albion

Exeter City 1–2 Torquay United

Torquay United 1–4 Exeter City

Cambridge United 0–1 Exeter City

(Match Report)

2006–07 Exeter City 0–1 Oxford United

Oxford United 1–2 Exeter City
Exeter thắng 4–3 trong loạt sút luân lưu

York City 0–0 Morecambe

Morecambe 2–1 York City

Morecambe 2–1 Exeter City

(Match Report)

2005–06 Halifax Town 3–2 Grays Athletic

Grays Athletic 2–2 Halifax Town

Morecambe 1–1 Hereford United

Hereford United 3–2 Morecambe

Hereford United 3–2 Halifax Town
sau 2 hiệp phụ
(Match Report)
2004–05 Aldershot Town 1–0 Carlisle United

Carlisle United 2–1 Aldershot Town
Carlisle thắng 5–4 trong loạt sút luân lưu

Stevenage Borough 1–1 Hereford United

Hereford United 0–1 Stevenage Borough

Carlisle United 1–0 Stevenage Borough

(Match Report)

2003–04 Aldershot Town 1–1 Hereford United

Hereford United 0–0 Aldershot Town
Aldershot thắng 4–2 trong loạt sút luân lưu

Barnet 2–1 Shrewsbury Town

Shrewsbury Town 1–0 Barnet
Shrewsbury thắng 5–3 trong loạt sút luân lưu

Aldershot Town 1–1 Shrewsbury Town
Shrewsbury thắng 3–0 trong loạt sút luân lưu
(Match Report)
2002–03 Dagenham & Redbridge 2–1 Morecambe

Morecambe 2–1 Dagenham & Redbridge
Dagenham thắng 3–2 trong loạt sút luân lưu

Doncaster Rovers 1–1 Chester City

Chester City 1–1 Doncaster Rovers
Doncaster thắng 4–3 trong loạt sút luân lưu

Doncaster Rovers 3–2 Dagenham & Redbridge
Doncaster thắng nhờ bàn thắng vàng
(Match Report)

Sân vận động 2015-16[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bóng Sân vận động Sức chứa
Bản mẫu:Fb team Aldershot Town EBB Stadium 7,100
Bản mẫu:Fb team Altrincham Moss Lane 6,085
Bản mẫu:Fb team Barrow Furness Building Society Stadium 4,414
Bản mẫu:Fb team Boreham Wood Meadow Park 4,502
Bản mẫu:Fb team Braintree Town Cressing Road 4,145
Bản mẫu:Fb team Bromley The Stadium 6,000
Bản mẫu:Fb team Cheltenham Town World of Smile Stadium 7,266
Bản mẫu:Fb team Chester Deva Stadium 5,376
Bản mẫu:Fb team Dover Athletic Crabble Athletic Ground 6,500
Bản mẫu:Fb team Eastleigh Silverlake Stadium 5,192
Bản mẫu:Fb team Forest Green Rovers The New Lawn 5,147
Bản mẫu:Fb team Gateshead Gateshead International Stadium 10,000
Grimsby Town Blundell Park 9,546
Bản mẫu:Fb team Guiseley Nethermoor Park 3,000
Bản mẫu:Fb team FC Halifax Town The Shay 14,061
Bản mẫu:Fb team Kidderminster Harriers Aggborough 6,238
Bản mẫu:Fb team Lincoln City Sincil Bank 10,120
Bản mẫu:Fb team Macclesfield Town Moss Rose 6,355
Bản mẫu:Fb team Southport Haig Avenue 6,008
Bản mẫu:Fb team Torquay United Plainmoor 6,500
Bản mẫu:Fb team Tranmere Rovers Prenton Park 16,567
Bản mẫu:Fb team Welling United Park View Road 4,000
Bản mẫu:Fb team Woking Kingfield Stadium 6,036
Bản mẫu:Fb team Wrexham Racecourse Ground 10,771

Các kỉ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Vanarama announced as new Football Conference sponsor”. Non-League Bets. Ngày 30 tháng 7 năm 2014. 
  2. ^ "Football Conference to be renamed as National League", BBC Sport, ngày 6 tháng 4 năm 2015
  3. ^ “Conference announces new sponsors”. BBC News. Ngày 11 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2007. 
  4. ^ Skrill is the new title sponsor for the Football Conference Leagues
  5. ^ Banham, Mark (ngày 29 tháng 8 năm 2006). “Setanta signs five-year deal for Conference games”. Benchmark Capital. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2007. 
  6. ^ “Conference Signs TV Deal”. Benchmark Capital. Ngày 29 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2007. 
  7. ^ Setanta goes off air in Great Britain Digital Spy, ngày 23 tháng 6 năm 2009
  8. ^ “Premeir Sports Secure Conference TV Rights”. Vital Football. Ngày 19 tháng 8 năm 2010. 
  9. ^ “Football Conference Signs Unique TV Deal”. Blue Square Bet Premier. Ngày 20 tháng 8 năm 2010. 
  10. ^ “BT Sport will show live football conference matches”. BT. Ngày 3 tháng 7 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]