OK Computer

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
OK Computer
Album phòng thu của Radiohead
Phát hành 21 tháng 5 năm 1997
Thu âm
  • 4 tháng 9 năm 1995,[1]
  • Tháng 7/1996 – Tháng 3/1997
Thể loại
Thời lượng 53:27
Hãng đĩa Parlophone (UK)
Capitol (US)
Sản xuất Radiohead, Nigel Godrich
Thứ tự album của Radiohead
The Bends
(1995)
OK Computer
(1997)
No Surprises/Running from Demons
(1997)
Đĩa đơn từ OK Computer
  1. "Paranoid Android"
    Phát hành: Tháng 5 năm 1997
  2. "Karma Police"
    Phát hành: Tháng 8 năm 1997
  3. "Lucky"
    Phát hành: Tháng 12 năm 1997
  4. "No Surprises"
    Phát hành: Tháng 1 năm 1998

OK Computer là album phòng thu thứ ba của ban nhạc alternative rock người Anh, Radiohead, được phát hành vào năm 1997[7] bởi Parlophone và vào ngày 1 tháng 7 năm 1997[8] bởi Capitol Records. Đây là album tự sản xuất đầu tiên của ban nhạc với sự hỗ trợ của Nigel Godrich. Radiohead thu âm album tại OxfordshireBath suốt năm 1996 tới đầu năm 1997, và hầu hết các ca khúc được hoàn thiện tại điền trang lịch sử nổi tiếng St Catherine. Với album này, ban nhạc đã chủ động tách xa khỏi việc lạm dụng guitar, trong khi phần ca từ tiếp tục theo hơi hướng từ album trước đó của họ, The Bends. Thứ ca từ trừu tượng, những âm thanh giàu tính giai điệu và những triết lý của nó chính là định hướng âm nhạc của Radiohead sau này với nhiều tính trải nghiệm hơn.

OK Computer nhận được nhiều đánh giá rất tích cực và được thính giả cũng như nhiều ý kiến chuyên môn coi là album xuất sắc của thập niên 1990. Album cũng được đề cử Giải Grammy cho Album của năm và giành giải Album nhạc alternative xuất sắc nhất tại Lễ trao thưởng năm 1998. Album tách biệt hoàn toàn với thể loại Britpop đang rất đình đám vào thời điểm đó để hướng tới phong cách sầu não và sôi động hơn của alternative rock thống trị suốt thập niên tiếp theo. Giới chuyên môn và người hâm mộ dành nhiều bình luận về những chủ đề ẩn sau ca từ và phần bìa đĩa của album, ca ngợi quan điểm của Radiohead về chủ nghĩa tiêu dùng, sự tha hóa của xã hội, cảm giác bị cách li và những nỗi ám ảnh chính trị. Về những khía cạnh này, OK Computer thường được coi là tiên tri cho cuộc sống thế kỷ 21.

Khi album được phát hành tại Mỹ bởi hãng Capitol Records, hãng đĩa này cho rằng album sẽ không được tiêu thụ nên doanh số rất hạn chế. Tuy nhiên, ở Anh, OK Computer vẫn đạt vị trí quán quân tại UK Albums Chart rồi sau đó trở thành album có thứ hạng cao nhất của Radiohead tại Mỹ tính tới thời điểm đó với vị trí số 21 trên Billboard 200. Các ca khúc "Paranoid Android", "Karma Police", "Lucky", "No Surprises" và "Airbag" là các đĩa đơn quảng bá cho album.

Hoàn cảnh ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Thom Yorke (ảnh chụp năm 2001) và ban nhạc đã tìm kiếm một hướng đi ít u sầu hơn album trước The Bends.[9][10]

Năm 1995, Radiohead đi tour nhằm quảng bá cho album phòng thu thứ hai của họ, The Bends. Song song với tour diễn, Brian Eno cũng đề nghị mời ban nhạc tham gia album từ thiện The Help Album được thực hiện bởi War Child. Album được lên kế hoạch thu chỉ trong 1 ngày – 4 tháng 9 năm 1995 – rồi sau đó được phát hành trong tuần[11]. Trong ngày đó, ban nhạc dành 5 tiếng đồng hồ để thu âm ca khúc "Lucky" cùng kỹ thuật viên âm thanh Nigel Godrich, người từng trợ giúp nhà sản xuất John Leckie trong album The Bends, ngoài ra là vô số đĩa đơn mặt B khác của Radiohead[12]. Sau này, Godrich có nhắc về quãng thời gian thực hiện The Help Album: "Sự kiện đó tạo nên nhiều cảm hứng, khiến bạn thực hiện mọi thứ rất nhanh chóng như cảm thấy không còn gì để mất. Chúng tôi cứ để cảm xúc nảy nở tự nhiên. Sau khi cùng nhau thống nhất về công việc, tôi liền nảy ra ý định nó có thể trở thành album tiếp theo."[13] Để quảng bá The Help Album, "Lucky" được chọn làm ca khúc mở đầu Help EP, song chỉ đạt vị trí 51 sau khi đài BBC quyết định không phát ca khúc này[14]. Việc này khiến trưởng nhóm Thom Yorke thất vọng[14], song sau đó anh tuyên bố rằng "Lucky" chính là âm thanh và cảm xúc chủ đạo trong album sắp tới của ban nhạc[12]: ""Lucky" chính là những gì mà chúng tôi sắp thực hiện. Nó như là viên gạch đầu tiên của bức tường vậy."[15]

Radiohead nhận thấy tour diễn The Bends là quá áp lực và mệt mỏi, vậy nên họ quyết định nghỉ ngơi cả tháng 1 năm 1996[16]. Sau đó, họ cũng nhận ra khoảng cách giữa những chất liệu họ mới tìm thấy và phong cách của The Bends. Tay trống Phil Selway nói: "Có rất nhiều cảm xúc kinh sợ [trong The Bends]. Việc lặp lại một lần nữa với một album mới là một công việc thực sự nhàm chán."[9] Yorke giãi bày: "Thứ quan trọng với tôi đó là chúng tôi bắt đầu bắt nhịp với việc đề cập tới chủ đề bi quan, không lành mạnh và tiêu cực trong ca từ, nhưng sự thật là tôi không còn muốn nhắc tới nó nữa. Tôi thong thả viết về những điều tích cực mà tôi nghe và trông thấy. Tôi cũng không có ý định mang chúng vào âm nhạc, và tôi cũng không có ý định ép chúng phải như vậy."[10] Đánh giá chuyên môn và thành công thương mại của The Bends giúp ban nhạc tự tin với việc tự sản xuất album tiếp theo của mình[12], và họ được hãng đĩa Parlophone tài trợ tới 100.000 £ cho việc hỗ trợ nhạc cụ và thiết bị thu âm[17][18]. Tay guitar Jonny Greenwood nhớ lại: "Thứ quan điểm duy nhất mà chúng tôi muốn có với album này đó là việc thu âm chúng tách biệt khỏi thành thị và tự tay mình thực hiện nó."[19] Ed O'Brien nói: "Người ta nói rằng chúng tôi có thể bán tới 6-7 triệu bản nếu tiếp tục với The Bends phần 2, còn chúng tôi thì đi ngược lại nó và thực hiện một thứ đối lập hoàn toàn."[20] Rất nhiều nhà sản xuất tiếng tăm như Scott Litt đã đề nghị được hợp tác cùng ban nhạc[21], song Radiohead lại hào hứng với việc thực hiện cùng Godrich[22]. Họ nhờ ông tư vấn về thiết bị cần sử dụng[23], rồi tự chuẩn bị cho từng buổi thu bằng cách bỏ tiền ra mua nhạc cụ, trong đó có thiết bị ngắt âm họ mua lại từ nhạc sĩ Jona Lewie[12]. Cho dù sự nghiệp của Godrich chủ yếu tập trung cho dòng nhạc dance điện tử[24], ông vẫn rất dành tâm huyết cho công việc cố vấn và cùng ban nhạc trở thành đồng sản xuất cho album này[23].

Thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 1996, Radiohead tiến hành chơi nháp và thu âm OK Computer tại phòng thu Canned Applause, gần Didcot, Oxfordshire[25]. Cho dù không có thời hạn hoàn thiện vì vẫn trong quá trình thư giãn sau The Bends[26], họ vẫn gặp phải vô vàn khó khăn khi Selway lên tiếng than phiền việc ban nhạc quyết định tự sản xuất: "Chúng tôi cứ chơi lần lượt ca khúc này qua ca khúc khác, rồi chúng tôi cạn kiệt ý tưởng, và chúng tôi lại đi sang ca khúc mới... điều ngu xuẩn nhất đó là việc chúng tôi gần như hoàn thiện một thứ đúng lúc chúng tôi quyết định chuyển sang thứ mới, và rất nhiều thứ bị bỏ lại sau đó."[27] Các thành viên hầu hết đều đảm nhiệm cả hai vai trò sản xuất và chơi nhạc, cho dù Yorke được coi là người "có tiếng nói nhất" theo O'Brien[28]. Selway nhớ lại: "Chúng tôi có một khoảng không kinh ngạc để tự phát triển phần mình phụ trách, nhưng cùng lúc chúng tôi lại rất khó tính với những gì người khác đang làm."[27] Trong khi đó, vai trò của Godrich lại nằm giữa việc cộng tác kỹ thuật và quản lý ngoài phòng thu. Trong một bài phỏng vấn, ông nói: "Với Radiohead, chúng tôi cùng nhau chia sẻ vai trò sản xuất"[13], còn trong một dịp khác, ông lại trả lời: "Họ cần một ai đó bên ngoài tất cả, đặc biệt khi họ cùng nhau chơi nhạc, để nói với họ rằng bản thu đạt chất lượng... Tôi dễ phiền lòng khi thấy người khác thiếu trách nhiệm, vậy nên trong hợp đồng tôi có ghi rõ họ cần thể hiện trách nhiệm với sản phẩm... Công việc của tôi là đảm bảo công việc tiến triển."[29] Kể từ OK Computer, Godrich được thừa nhận là "thành viên thứ 6" không chính thức của ban nhạc[30][31].

Radiohead nhận ra rằng Canned Applause không phải là địa điểm đáp ứng được nhu cầu thu âm của họ, vậy nên Yorke đề nghị thực hiện thu âm tại nhà các thành viên, ngoại trừ Jonny Greenwood khi anh cho rằng nhà mình không đủ rộng để ăn uống cũng như vệ sinh[28]. Vào khoảng thời gian đó, ban nhạc đã tương đối hoàn thiện 4 ca khúc: "Electioneering", "No Surprises", "Subterranean Homesick Alien" và "The Tourist"[32]. Theo yêu cầu của nhãn đĩa, họ tạm nghỉ để thực hiện tour diễn 13 ngày vòng quanh nước Mỹ cùng Alanis Morissette. Tại đây, họ cũng trình bày một vài ca khúc mới[33]. Ca khúc "Paranoid Android" được chỉnh sửa từ bản dài 14-phút với đoạn solo organ thành một bản ngắn hơn dài 6-phút gần với bản album sau này[33].

Cũng trong tour diễn này, nhà làm phim Baz Luhrmann gửi lời mời tới Radiohead viết nhạc cho bộ phim Romeo + Juliet, bù lại, Luhrmann dành cho ban nhạc 30 phút tài liệu ở cuối phim. Yorke nói: "Khi chúng tôi xem cảnh Claire Danes cầm khẩu Colt 45 chĩa vào đầu mình, lập tức chúng tôi có ý tưởng cho ca khúc."[34] Không lâu sau đó, họ hoàn thiện "Exit Music (For a Film)" – ca khúc được chơi ở phần giới thiệu thành phần tham gia sản xuất ở cuối bộ phim, song không được đưa vào phần soundtrack theo yêu cầu của ban nhạc[35]. Yorke cho rằng ca khúc này đã góp phần định hình nên cảm xúc cho phần còn lại của album mà đây "là lần đầu tiên mà chúng tôi thu âm một ca khúc mà mỗi nốt nhạc khiến đầu óc phải quay cuồng – một thứ khiến tôi tự hào, một thứ mà tôi có thể bật thực sự, thực sự to mà không lúc nào phải co mình sợ hãi."[12]

Điền trang St Catherine được xây từ thời Victoria, sau đó được tu sửa bởi William Blanchard vào thế kỷ 16. Minh tinh Jane Seymour sau đó mua lại căn nhà cùng chồng là David Flynn vào năm 1984 trước khi bỏ ra tới 3 triệu £ để nâng cấp lại toàn bộ điền trang

Ban nhạc quay trở lại thu âm vào tháng 9 năm 1966 ở điền trang lịch sử St Catherine gần Bath, thuộc quyền sở hữu của minh tinh Jane Seymour[36]. Greenwood cho rằng địa điểm mới là một nơi bị bỏ hoang, song đôi lúc "phù hợp để kết hợp với việc đi lang thang"[37]. Sự thay đổi không gian này cũng đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình sản xuất album. Greenwood khi so sánh điền trang với những phòng thu trước đó của ban nhạc cho rằng việc thu âm ở St. Catherine "ít nhất khá giống với công việc trong phòng thí nghiệm, một thứ chưa bao giờ tương tự như trong phòng thu và một thứ biến công việc trở thành hoạt động thu âm chung của một nhóm người"[37].

Radiohead tận dụng tối đa số phòng cũng như lượng nhạc cụ mộc có trong căn nhà: phần hát trong "Exit Music (For a Film)" được bổ sung bằng những hiệu ứng tiếng vọng thu tại khu vực cầu thang bằng đá khối; trong khi "Let Down" được thu âm khoảng lúc 3 giờ sáng trong phòng khách chính[38]. Việc tách biệt khỏi thế giới bên ngoài cũng góp phần khiến ban nhạc có một nhịp sống khác biệt, với quỹ thời gian co giãn và tùy hứng phù hợp với công việc. O'Brien nhớ lại: "Áp lực duy nhất chính là việc hoàn thiện [bản thu]. Chúng tôi không có bất cứ thời hạn cụ thể nào, và chúng tôi có một sự tự do tuyệt đối để làm tất cả những gì mình muốn. Chúng tôi đôi lúc cũng trì hoãn vì chúng tôi có chút lo lắng về những thứ mới hoàn thiện."[39] Yorke hoàn toàn hài lòng về chất lượng thu âm tại đây, anh nói: "Trong một căn nhà rộng lớn vùng đồng quê, tôi không còn phải dùng thứ "phân tách"[gc 1] đáng sợ của thập niên 80 nữa... Đây không phải lúc để mong mọi thứ hoàn toàn chỉn chu và mỗi nhạc cụ cần được thu âm riêng lẻ."[40] O'Brien cũng hài lòng với công việc thu âm, cho rằng tới 80% album được thu âm hoàn toàn trực tiếp[37][40]. Anh bình luận: "Tôi rất ghét việc phải ghi đè, vì nó tạo cảm giác không tự nhiên... Có một điều gì đó luôn xuất hiện khi bạn chơi trực tiếp; có lẽ phần nhiều tới từ việc bạn phải để ý mọi người và hiểu rằng còn nhiều người khác nữa để nó được tạo nên cùng lúc."[40][41] Rất nhiều đoạn hát cho album được Yorke thu âm chỉ trong một lần duy nhất[41].

Radiohead quay trở lại Canned Applause vào tháng 10 để cùng chỉnh sửa[42], hoàn thiện những phần còn sót từ buổi thu tại điền trang St. Catherine. Tới Giáng sinh, họ phác thảo danh sách ca khúc rút gọn xuống còn 14 bài[43]. Phần thu dàn dây được thực hiện tại phòng thu Abbey Road Studios vào tháng 1 năm 1997. Album được chỉnh âm tại đây, sau đó được trộn âm trong 2 tháng sau đó tại nhiều địa điểm khác nhau trong thành phố[44]. Godrick yêu thích cách chỉnh sửa nhanh gọn và liền tay, ông nói: "Tôi có cảm giác như mình là một phần của nó vậy. Tôi bắt đầu nghịch ngợm với vài thứ và hoàn thiện chúng... Tôi thường mất nửa ngày cho việc trộn âm. Nếu mà phải mất nhiều thời gian hơn có nghĩa là bạn đã làm hỏng nó. Điều khó khăn đó là cố gắng giữ cho chúng tươi mới và đúng với mục đích."[13]

Âm nhạc và ca từ[sửa | sửa mã nguồn]

Ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ sĩ nhạc jazz Miles Davis (trái, 1986) và cây bút chính trị Noam Chomsky (phải, 2004) là hai trong số những nhân vật ảnh hưởng lớn tới OK Computer

Yorke thừa nhận điểm bắt đầu của album tới từ "sự sâu lắng choáng ngợp và thứ âm thanh gây sửng sốt" từ album Bitches Brew (1970) của Miles Davis[45]. Anh nói về Bitches Brew trên tạp chí Q: "Nó như thể tạo nên một thứ kỳ vĩ rồi lặng lẽ nhìn nó đổ sụp vậy, đó chính là vẻ đẹp của nó. Đây chính là cốt lõi mà chúng tôi muốn thực hiện với OK Computer."[46] Yorke cũng nhắc tới những ca khúc "I'll Wear It Proudly" của Elvis Costello, "Fall on Me" của R.E.M., "Dress" của PJ Harvey và "A Day in the Life" của The Beatles là những tác phẩm gây ảnh hưởng lớn tới cách viết nhạc trong album lần này của nhóm[12]. Radiohead còn đi xa hơn với việc phỏng theo phong cách thu âm soundtrack từ Ennio Morriconekrautrock từ ban nhạc Can – được Yorke miêu tả "lạm dụng quá trình thu âm"[12].

Theo Yorke, ban nhạc hi vọng đạt được "thứ cảm giác có chút gây sốc khi lần đầu nghe album, nhưng theo cách mà Pet Sounds của The Beach Boys làm được". Cũng từ đó, họ cũng hòa âm với piano điện, Mellotron, cello cùng nhiều nhạc cụ dây khác, glockenspiel và nhạc cụ điện[45]. Công cuộc thử nghiệm nhạc cụ của Radiohead được Johnny Greenwood tóm gọn "khi chúng tôi có đủ chất liệu để tạo nên một ca khúc hoàn hảo, không một ai biết được điều đó"[47]. Một đánh giá cho rằng OK Computer nghe như "một album điện DIY với giutar điện"[48]. Rất nhiều phần hát của Yorke được chọn chỉ với 1 lần thu duy nhất; anh cho rằng nếu anh cố gắng thử 1 lần nữa, anh "sẽ nghĩ về nó và khiến âm thanh trở thành khiếm khuyết"[46].

Ca từ[sửa | sửa mã nguồn]

Ca từ của album được viết bởi Yorke thực sự trừu tượng hơn những điều cá nhân và cảm xúc mà anh dành cho The Bends. Nhà phê bình Alex Ross cho rằng phần ca từ như kiểu "sự tổng hợp của những lời đối thoại xưa cũ, thứ ngôn ngữ công nghệ và vài trích đoạn nhật ký đầy bạo lực" và "hình ảnh của cảnh sát chống bạo động trong cuộc đối đầu chính trị, những cuộc đời đau khổ ở những khu ngoại ô khang trang, những yuppie lập dị, và cả những người ngoài hành tinh bay qua lại trên đầu"[49]. Những chủ đề được đề cập tới bao gồm giao thông, công nghệ, sự mất trí, cái chết và cuộc sống hiện đại ở Anh, toàn cầu hóa cũng như những đối đầu với chủ nghĩa tư bản[50]. Yorke nói: "Trong album này, thế giới bên ngoài trở về đúng với những gì của nó... Tôi chỉ Polaroid[gc 2] lại mọi thứ vốn đang diễn ra quá nhanh quanh tôi."[51] Anh giải thích "Nó giống như một chiếc camera bí mật được đặt trong phòng, ghi lại từng nhân vật xuất hiện – những nhân vật khác nhau trong từng ca khúc cụ thể. Chiếc camera đó không phải là tôi. Nó là một từ trung lập, vô cảm. Nhưng cũng không hoàn toàn vô cảm. Mà thực tế, nó hoàn toàn ngược lại."[52]

Yorke cũng lấy cảm hứng từ những cuốn sách mình đang đọc, trong đó có những tác phẩm của Noam Chomsky[53], cuốn The Age of Extremes của Eric Hobsbawm, The State We’re In của Will Hutton, What a Carve Up! của Jonathan CoeVALIS của Philip K. Dick[54]. Cho dù các ca khúc đều có chung một chủ đề, Radiohead lại không có ý định tạo nên một album chủ đề và nói ràng họ không hề muốn liên kết những ca khúc với nhau qua phương pháp kể chuyện[37][55]. Tuy nhiên, mục đích của họ lại là để khán giả phải nghe toàn bộ nội dung album. O'Brien nhớ lại: "Chúng tôi mất tới 2 tuần để sắp xếp thứ tự các ca khúc. Bối cảnh của từng ca khúc thực sự rất quan trọng... Đây không phải là một album chủ đề, nhưng ở đó có sự tiếp nối."[55]

Sáng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Ca khúc mở đầu "Airbag" lấy cảm hứng từ DJ Shadow và được dẫn dắt bởi chuỗi hợp âm gằn của guitar điện lập trình cùng những đoạn chơi trống của Selway. Ban nhạc lập trình đơn giản nhịp chơi trống qua phần mềm kỹ thuật số, chỉnh sửa qua Macintosh, cố gắng mô phỏng tối đa phong cách của Shadow cho dù kinh nghiệm của họ là khá hạn chế[56][57]. Phần chạy bass được bắt đầu và kết thúc khá ngẫu hứng, mang những hiệu ứng dub của thập niên 1970[58]. Nội dung ca khúc đề cập tới một vụ tai nạn giao thông và sự đầu thai, lấy ý tưởng từ một bài báo có tên "An Airbag Saved My Life" và cuốn Tử thư của Tây Tạng. Yorke viết "Airbag" nhằm thể hiện những suy nghĩ về sự an toàn trong giao thông hiện đại, và "ý tưởng rằng bất cứ lúc nào bạn ra đường bạn cũng có thể chết"[52]. Nhà phê bình âm nhạc Tim Footman cho rằng những cải tiến kỹ thuật cũng như nội dung chính là "chìa khóa nghịch lý" của album: "Những nhạc sĩ và nhà sản xuất cảm thấy thích thú với những công nghệ mới; trái lại thì ca sĩ lại nhắc tới những vấn đề xã hội, đạo đức và tâm lý... Đây là thứ phản chiếu đối lập trong văn hóa âm nhạc, với những chiếc guitar "thật" cùng đàm thoại với thứ chủ đề khó nhằn và âm thanh trống được thiết kế lập trình."[59]

"Paranoid Android" được chia nhỏ làm 4 đoạn, trở thành ca khúc dài nhất của album với 6:23. Những giai điệu khác nhau của ca khúc được lấy từ "Happiness Is a Warm Gun" của The Beatles và "Bohemian Rhapsody" của Queen, xen lẫn với cấu trúc AABA truyền thống[60]. Phong cách thể hiện được ban nhạc lấy cảm hứng từ nhóm Pixies[61]. Ca khúc được Yorke viết sau một đêm nhiều khó chịu trong một quán bar ở Los Angeles, khi mà anh chứng kiến một người phụ nữ đã dùng vũ lực sau khi bị ai đó trót làm đổ nước lên người[52]. Tiêu đề ca khúc được lấy từ nhân vật Marvin the Paranoid Android trong cuốn The Hitchhiker's Guide to the Galaxy của Douglas Adams[61].

Việc sử dụng keyboard trong "Subterranean Homesick Alien" là ví dụ điển hình cho thấy ban nhạc đang cố gắng bắt chước phong cách của Bitches Brew[62][63].

"Đó là khi chúng tôi khao khát tới tuyệt vọng để trở thành Miles Davis... Thật sự trơn tru. Và nó từng được đặt tên là 'Uptight'." – Thom Yorke[64]

Nhan đề ca khúc được lấy cảm hứng từ sáng tác "Subterranean Homesick Blues" của Bob Dylan với chủ đề mang đậm tính khoa học viễn tưởng nhắc tới một người luôn bị ám ảnh bởi việc bị người ngoài hành tinh bắt cóc. Nhân vật kể chuyện kể lại rằng, sau khi trở lại Trái Đất, bạn bè của anh ta đã không tin những gì anh nói và anh trở nên lạc lõng[65]. Phần ca từ được Yorke lấy ý tưởng từ một bài luận khi còn ở trường Abingdon về phong trào Martian[gc 3], một phong trào văn học tại Anh duy lý một cách châm biếm những khái niệm trần tục của cuộc sống con người dưới góc nhìn của những "người Hỏa tinh" (martian)[66].

Tác phẩm Romeo and Juliet của William Shakespeare, đặc biệt là bộ phim phóng tác năm 1968[67], tạo nên cảm hứng cho phần ca từ của "Exit Music (For a Film)"[61]. Ban đầu Yorke định sáng tác ca khúc trực tiếp từ vở kịch, song rốt cuộc phần lời được viết nên lại tóm lược nội dung câu chuyện[68].

{{quote|"Chúng tôi viết ca khúc này cho bộ phim Romeo + Juliet. Tôi từng xem ấn bản của Zeffirelli khi 13 tuổi và tôi đã khóc rất nhiều, vì tôi không hiểu vì sao mà buổi sáng sau khi họ hôn nhau họ lại không chạy trốn. Đây là ca khúc mà tôi muốn khuyên người ta hãy chạy thật xa trước khi những điều tồi tệ ập tới. Một ca khúc rất cá nhân." – Thom Yorke[64]

Bản thân Yorke cũng so sánh đoạn mở đầu của ca khúc này, kết hợp giữa phần hát trên nền guitar acoustic, với album trực tiếp At Folsom Prison của Johnny Cash[69]. Phần hiệu ứng âm thanh đám đông cùng nhiều giọng sửa điện tử khác cũng được lồng ghép trong ca khúc này[70]. Ca khúc được đẩy lên đỉnh điểm với đoạn xuất hiện của dàn trống[70], và đoạn này được đánh dấu bởi hiệu ứng bóp méo âm thanh của fuzz pedal[30]. Phong cách âm nhạc trong đoạn này gần với ban nhạc trip hop Portishead, song tay bass Colin Greenwood gọi nó khá "khoa trương, nặng nề và thiếu sáng tạo"[71]. Ca khúc kết thúc với tiếng hát nhỏ dần của Yorke cùng tiếng đàn guitar acoustic và hiệu ứng âm thanh đám đông[68].

"Let Down" bao gồm nhiều đoạn chạy appergio của guitar cũng như piano điện. Johnny Greenwood chơi guitar với nhịp hoàn toàn khác với các nhạc cụ khác[72]. O'Brien cho rằng ca khúc này bị ảnh hưởng nhiều từ Phil Spector – người nổi tiếng với kỹ thuật "Wall of Sound" của mình[56]. Về phần ca từ, Yorke nói đó "là cảm giác bạn tham gia giao thông nhưng bạn không có khả năng kiểm soát nó, bạn đơn giản là đi qua cả ngàn chỗ và cả ngàn người song bạn hoàn toàn không thuộc về nó"[61].

"Tôi đang say xỉn trong hộp đêm và bất thần trong đầu tôi lại có xuất hiện ý nghĩ kỳ cục nhất: điều gì xảy ra nếu tất cả những kẻ đang uống đều đang tự sát bên những chai rượu? Nếu những chiếc chai kia được treo lên trần nhà, và sàn nhà thì biến mất, thì thứ còn lại duy nhất để níu kéo không phải chính là những chiếc chai đó sao? Nó cũng giống như nỗi sợ lớn lao về việc bị lừa gạt vậy." – Thom Yorke[64]

Bình luận về câu hát "Don't get sentimental/It always ends up drivel", Yorke nhớ lại: "Tính cảm xúc có thể khiến người ta xúc động mà đung đưa theo nó. Chúng tôi tập trung vào cảm xúc và cảm nhận của con người. Đó chính là "Let Down". Việc trở nên quá xúc động thực sự giả tạo. Hoặc thà rằng tưởng tượng đưa tất cả các cảm xúc được đặt lên một chiếc máy bay trong khi đó là một đoạn quảng cáo xe hơi hay chỉ là một bài hát nhạc pop."[46] Yorke đặt nặng thứ cảm xúc hoài nghi của Thế hệ X và cho rằng nó không chỉ thể hiện riêng trong "Let Down" mà còn trong quan điểm chung của toàn album[73].

Nhà phê bình Steve Huey cho rằng "Karma Police" là "một thứ gì đó không chính thống, vì ở đó không tồn tại một đoạn điệp khúc đúng nghĩa: những đoạn vào được xen lẫn với vài giai điệu ngắn, nhẹ nhàng hơn... và sau 2 lần như vậy, ca khúc chuyển sang đoạn kết hoàn toàn khác biệt."[74] Đoạn đầu tiên của ca khúc được chơi với tiếng guitar acoustic và piano[74], với những hợp âm được lấy từ "Sexy Sadie" của The Beatles[14][75]. Tới 2:34, ca khúc chuyển sang đoạn hòa ca dàn nhạc với câu hát "For a minute there, I lost myself" được lặp lại[74]. Ca khúc kết thúc với phần chơi guitar feedback qua hiệu ứng delay của pedal bởi O'Brien[56][75]. Nhan đề và ca từ của "Karma Police" được bắt nguồn từ một cuộc đùa vui trong tour diễn The Bends. Jonny Greenwood nói "Bất cứ khi nào có ai đó đối xử một cách tồi tệ, ta sẽ phải nói "Rồi sớm muộn cũng sẽ có một tay cảnh sát thích đáng tới tóm cổ hắn ta thôi"[gc 4]."[61]

"Fitter Happier"[gc 5] đơn giản là bản chơi nhạc chơi nền cho đoạn đọc lời chỉnh âm qua ứng dụng SimpleText trên Macintosh[76]. Được viết sau thời kỳ chững lại của văn học, "Fitter Happier" được Yorke miêu tả như danh sách những khẩu hiệu cấp tiên cho thập niên 1990 mà anh gọi là "thứ tức giận nhất mà mình từng viết"[61][77].

"Mọi người thì ở tầng dưới, nhảy nhót, còn tôi thì ngồi phía trên và viết nó trong vòng 10 phút. Tôi cảm thấy kích động và hoang mang tột đỉnh, và cuối cùng thật sự thoải mái khi để phần hát cho một chiếc máy tính vô tri vô giác." – Thom Yorke[64]

Ca khúc này vốn được chọn là ca khúc mở đầu album, song cuối cùng bị loại bỏ do ban nhạc e ngại những ảnh hưởng tiêu cực từ nó[39]. Steve Lowe cho rằng ca khúc là "lối phân tích sâu sa về những phong cách sống hỗn tạp ít nhiều ý nghĩa" với "sự mâu thuẫn nhằm phổ biến những giá trị xã hội của yuppie"[14]. Trong số những đánh giá về tính tưởng tượng thiếu kết dính trong ca từ, Footman đánh giá chủ để của ca khúc như "hiện thân vật chất đầy đủ song tinh thần lại trống rỗng của tính nhân văn phương Tây hiện đại, một nửa làm công ăn lương, một nửa Stepford Wive, hướng về những thùng chứa đầy những Prozac, Viagra hay bất kể những thứ gì khác mà bảo hiểm có thể trang trải."[78] Sam Steele gọi phần ca từ là "suối nguồn của những hình tượng lĩnh hội: những mảnh vỡ từ truyền thông, hòa lẫn với những khẩu hiệu quảng cáo về phong cách sống và những lời cầu mong sức khỏe. Đó chính là tiếng vo ve của xã hội ồn ào nhiều từ ngữ, và một trong số những thông điệp có vẻ như muốn nói rằng chúng ta đang sống trong một thế giới giả tạo, nơi mà chúng ta lớn lên mà không nhận biết được sự thật từ những mưu mô."[79]

"Electioneering" được mở đầu với tiếng chuông lắc rồi sau đó là những đoạn gằn của guitar điện chính là ca khúc mang hơi hướng nhạc rock nhất của toàn album; phong cách của nó hoàn toàn có thể được so sánh với những giai điệu của Radiohead thời kỳ Pablo Honey[76][80]. Đây cũng là ca khúc mang ý nghĩa chính trị trực diện nhất, bao hàm nhiều hoài nghi về những công việc chính trị[81][82]. "Electroneering" được lấy ý tưởng một phần từ cuốn Manufacturing Consent của Chomsky giải thích vai trò của truyền thông trong mô hình xã hội tuyên truyền[53]. Yorke liên hệ trực tiếp chính trị gia và giới nghệ sĩ với "kẻ truyền giáo rỗng tuếch đối diện với lượng micro vô hạn"[55][83]. Bình luận về chủ đề này, Yorke nói: "Bạn có thể nói gì về Quỹ Tiền tệ Quốc tế hay những chính trị gia? Hay là ai đó cố vươn tay tới những nước châu Phi để tận dụng những nhân công nô lệ hay sao cũng được. Bạn có thể nói gì? Tôi viết nên câu "Cattle prods and the IMF"[gc 6] cho những người hiểu điều đó."[12] O'Brien thì cho rằng ca khúc đề cập tới việc đi tour quảng bá cho album: "Khi bạn phải vất vả cho việc đi tour kéo dài, chẳng hạn như ở Mỹ, bạn phải bay từ thành phố này qua thành phố khác suốt nhiều tuần lễ để gặp gỡ nhà báo và đại diện các nhà sản xuất. Sau quãng thời gian đó, bạn thấy mình như một chính trị gia phải hôn lên những đứa nhóc và bắt tay mọi ngườ suốt cả ngày."[34]

"Climbing Up the Walls" được miêu tả là "sự hỗn loạn hoành tráng", kết hợp giữa hòa âm dàn dây, âm thanh hỗn tạp cùng những tiếng định âm kim loại rất gằn. Phần chơi dàn dây được sáng tác bởi Jonny Greenwood từ 16 nhạc cụ khác nhau được lấy cảm hứng từ tác phẩm Threnody to the Victims of Hiroshima của Krzysztof Penderecki. Anh nói: "Tôi cảm thấy phấn khích trước viễn cảnh được viết nên một thứ gì đó không giống với "Eleanor Rigby", có nghĩa là phần dàn dây sẽ được trình bày không phải như những gì vốn có từ 30 năm trở lại đây."[55] Một đánh giá viết về phần góp giọng của Yorke và giai điệu phi điệu tính của dàn nhạc: "Giọng của Yorke tan chảy mà không có chút sợ hãi với những tiếng thét đông cứng, cũng như Johnny tạo âm thanh như thể quất ngã một cách ngày một dữ dội cả triệu con voi vậy." Về phần ca từ, Yorke đã thể hiện lại những trải nghiệm của cá nhân tại một bệnh viện tâm thần trong chiến dịch Care in the Community nhằm những hỗ trợ những bệnh nhân tâm thần, kết hợp cùng với nội dung vài bài viết trên tờ The New York Times về một kể giết người hàng loạt[34].

"No Surprises", được thu trong 1 lần duy nhất[84], hòa âm bởi guitar điện (lấy cảm hứng từ ca khúc "Wouldn't It Be Nice" của The Beach Boys)[85], guitar acoustic, glockenspiel và hòa ca[86]. Với "No Surprise", ban nhạc cố gắng lấy cảm xúc từ "What a Wonderful World" (1968) của Louis Armstrong cùng phong cách của nghệ sĩ nhạc soul, Marvin Gaye[34]. Yorke nói rằng nội dung của ca khúc đề cập tới "một người cố gắng hết sức để giữ tất cả lại cùng nhau song thất bại"[12]. Phần ca từ mang ít nhiều hàm ý về việc tự sát[79] hoặc về cuộc sống tăm tối, cùng với việc không hài lòng về những quan điểm xã hội và chính trị[87]. Nhiều câu hát lại liên tưởng tới những hình ảnh vùng đồng quê[88] hoặc ngoại ô[54]. Một trong những câu hát ẩn dụ nhất đó chính là "a heart that's full up like a landfill"[gc 7]. Theo Yorke, anh viết ca khúc này để "chửi bới thứ văn học đại trà" và "ấp ủ từ những suy nghĩ không lành mạnh của tôi về những điều có thể làm được với chai và hộp nhựa... Tất cả những thứ cần được hỏa thiêu, tất cả những mảnh vụn của cuộc sống này. Chúng không biến mất, chúng vẫn tồn tại ngay đây. Thứ mà chúng ta làm, thứ mà cả tôi vẫn làm, là đốt tất cả chúng đi."[89] Nhiều đánh giá cho rằng cảm xúc nhẹ nhàng của ca khúc là quá đối lập với phần ca từ[90]. Steele viết: "kể cả chủ đề nói tới việc tự tử... tiếng guitar của Ed O'Brien cứ như thứ nước chườm cho vết thương còn rỉ máu, còn ca khúc thì như lời nguyện ngọt ngào của trẻ thơ vậy."[79]

"Lucky" được lấy cảm hứng từ chiến sự ở Bosnia. Sam Taylor cho rằng đây là "ca khúc duy nhất [của The Help Album] có thể miêu tả tình trạng bi thương của chiến tranh", trong khi tính nghiêm túc của chủ đề và thứ âm sắc tối tăm của nó là "quá "chân thực" để làm sụp đổ phong cách Britpop"[91]. Ca khúc này vốn ban đầu định ẩn chứa nhiều màu sắc chính trị hơn, nhưng những bản phác thảo sau đó đã được cắt xén với "hàng trang hàng trang những ghi chú"[39]. Ca từ đề cập tới một người sống sót sau vụ rơi máy bay, thể hiện rõ ràng những lo lắng của Yorke về việc sử dụng phương tiện giao thông[82]. Phần hòa âm chủ yếu của "Lucky" được trình bày với 3 guitar[17], được phát triển sau những giai điệu gằn được chơi trong đoạn mở đầu bởi O'Brien[52]. Nhiều đánh giá so sánh cách thể hiện ca khúc của ban nhạc với phong cách chơi guitar của Pink Floyd, và xa hơn nữa, là arena rock[15][92][93].

Album kết thúc với sáng tác của Johnny Greenwood, "The Tourist", mà được anh gọi là "thứ không nên xuất hiện... mỗi 3 giây". Anh nói: ""The Tourist" nghe không giống chút nào với Radiohead. Đây là ca khúc với nhiều khoảng lặng."[34] Greenwood viết ca khúc này sau khi thấy những vị khách du lịch vội vã ở Pháp, còn Yorke đóng góp phần ca từ viết về trải nghiệm du lịch khi tới Prague[94]. Yorke chọn đây là ca khúc kết thúc album vì "có quá nhiều album thích kết thúc bằng những thứ ồn ào, những thứ di chuyển rất nhanh thậm chí không thể nắm bắt được. Vậy nên rất hiển nhiên tôi muốn "Tourist" kết thúc album này. Ca khúc như thể được viết bởi tôi và cho tôi khi tôi viết "Này thằng ngu, đi chậm lại". Cũng vì lẽ đó, tôi có lẽ cũng cần chậm lại. Và đó cũng là lý do duy nhất có thể: cần phải chậm lại."[45] Ca khúc, như "một bản blues waltz không ngờ trước", được kết thúc với tiếng guitar điện dừng lại đột ngột, chỉ còn trống và bass trước khi hoàn toàn tắt hẳn bằng những tiếng chuông nhỏ[17].

Nhan đề và bìa đĩa[sửa | sửa mã nguồn]

OK Computer ban đầu được đặt tên theo ca khúc "Palo Alto" như là một phần của album. Cho dù bản thân ca khúc này sau đó bị loại bỏ, tiêu đề đó vẫn nằm trong ý tưởng của ban nhạc. Theo Jonny Greenwood, "[nó] tự bám rễ và tạo nên những nguồn cơn kỳ lạ để chúng tôi thực hiện công việc"[53]. Yorke nói: "Nó làm liên tưởng tới việc chấp nhận tương lai, nó làm liên tưởng tới việc sợ hãi tương lai – tương lai của chính chúng ta và của những người khác. Việc cần làm là đứng trong một căn phòng với máy tính đang bật trong khi mọi thiết bị khác đều tắt... và âm thanh được tạo ra như vậy đấy."[95] Yorke cũng tự nhận xét rằng nhan đề đó là "một câu vứt đi, ghê tởm", khiến anh cảm thấy giống với ca khúc quảng cáo của hãng Coca-Cola "I'd Like to Teach the World to Sing"[53]. Cây viết Leander Kahney của tạp chí Wired cho rằng nhan đề có lẽ là để ghi nhận ảnh hưởng của chiếc máy tính Macintosh "thiết bị hoạt động qua nhận biết giọng nói của chiếc máy tính Macintosh với mỗi câu lệnh "OK Computer" thay cho việc phải nhấn vào nút "OK" như truyền thống."[96] Những nhan đề khác được ban nhạc tham khảo có Ones and Zeroes – lấy cảm hứng từ hệ nhị phân – và Your Home May Be at Risk If You Do Not Keep Up Payments[97].

Phần bìa đĩa của album được thiết kế từ hình ảnh và chữ viết của Stanley Donwood và Yorke, được đặt tên "The White Chocolate Farm"[98]. Donwood bị Yorke thuyết phục thực hiện quay phim ban nhạc mỗi ngày suốt quá trình thu âm. Yorke giải thích "Nếu tôi cần phải thể hiện chút ý tưởng thị giác về âm nhạc, tôi chỉ làm thế khi thực sự tin tưởng. Cứ nhắc tới vấn đề này là tôi lại rối tung lên."[54] Màu sắc chủ đạo là màu trắng và xanh dương[99]. Theo Donwood, đó là kết quả của "việc cố tạo ra thứ màu sắc trắng ngà"[100]. Hình ảnh miếng dán nắm tay nhau chỉ được sử dụng 2 lần, 1 là trong phần booklet[gc 8] theo kèm và 2 là trong ấn bản CD. Yorke nói rằng bìa đĩa là hình ảnh ẩn dụ của việc khám phá "Có ai đó vừa phải bán một thứ mà họ không muốn thế, và ai đó phải tỏ ra tốt bụng chỉ để bán được thứ gì đó. Đó là những điều tôi muốn thể hiện."[39] Giải thích về kiểu cách thiết kế nói chung, anh nói: "Nó khá là buồn, song cũng khá là vui. Tất cả những thiết kế và những thứ khác... Đó là những điều mà tôi chưa thể nói hết qua các ca khúc."[39]

Những hình ảnh được đưa lên bìa đĩa bao gồm đường cao tốc, máy bay, gia đình cùng những đứa trẻ, xen lẫn với vài logo và biển chỉ đường[101]. Cụm từ "Lost Child" được nhìn thấy khá rõ ở phần bìa, ngoài ra phần booklet còn có một vài câu sử dụng tiếng Esperanto và những chỉ dẫn sức khỏe bằng cả tiếng Anh và Hy Lạp. Việc sử dụng những từ ngữ rời rạc khiến tạp chí Uncut bình luận "Thứ hỗn độn đối lập đã tạo ra hiệu ứng gần giống với phong cách sống của những gã điên."[17] Với màu trắng chủ đạo, ý tưởng của Donwood là trình bày việc sửa chữa qua việc gạch xóa chứ không phải sử dụng chức năng undo[100], đã được thể hiện khắp nơi trong thiết kế[102]. Phần phụ chú bao gồm đầy đủ ca từ, trình bày với những cấu trúc đặc biệt, những cách viết không phổ thông[82] và cùng vài ghi chú nhỏ[gc 9]. Những ca từ đó cũng được sắp xếp và bày biện theo vài hình ảnh khác nhau[103]. Nhằm thể hiện thái độ không hợp tác, phần ghi chú cho nhà sản xuất về phần bản quyền được viết một cách khá mỉa mai "Ca từ được sản xuất lại cho dù chính chúng tôi đã viết nên chúng"[104].

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Selway thừa nhận rằng khi ban nhạc mang album tới hãng đĩa của họ tại Mỹ, Capitol Records, họ đã phản ứng "đây ít nhiều là một "sự tự sát về thương mại". Họ không thực sự đầu tư cho nó. Vào lúc đó, chúng tôi có chút sợ hãi. Làm sao mà có thể chấp nhận nó?"[9] Capitol đã giảm doanh số ước tính của album từ 2 triệu xuống còn nửa triệu bản[105]. Theo O'Brien, hãng đĩa tại Anh của họ, Parlophone, vẫn giữ quan điểm lạc quan trong khi hầu hết các hãng đĩa khác trên toàn thế giới đều giảm doanh số bán ước tính của album[106]. Đại diện của các hãng đĩa đều cảm thấy thất vọng với việc thiếu khả năng cạnh tranh của các đĩa đơn, đặc biệt là việc không có một chút nét tương đồng nào với bản hit nổi tiếng trước đó của ban nhạc, "Creep"[107].

Chiến dịch quảng bá của Parlophone là có một không hai. Hãng đĩa quyết định dành một trang giấy kín những mặt báo lớn nhất và bến tàu ở Anh cho phần lời của ca khúc "Fitter Happier" với phông chữ màu đen lớn trên nền trắng[9]. Phần lời và đồ họa sử dụng trong album được thiết kế cho áo thun[39]. Yorke nói "Chúng tôi chọn quan điểm từ "Filter Happier"" để tạo nên thứ mà các nhà phê bình gọi là "thứ concept nhất quán" giữa chủ đề của album và chiến dịch quảng bá[39]. Những sản phẩm phụ khác bao gồm ổ đĩa mềm với screensaver hình ban nhạc và một đài thu FM mô phỏng hình dáng chiếc máy tính cá nhân[108]. Tại Mỹ, Capitol gửi tặng 1000 đĩa cassette tới những nhân vật có tiếng nói trong giới báo chí và ngành công nghiệp âm nhạc tại đây, theo kèm là một CD được dán bên trong[109]. Khi được hỏi về chiến dịch quảng bá OK Computer, giám đốc Gary Gersh của Capitol trả lời "Công việc của chúng tôi là nhận lấy một ban nhạc lề-trái và biến họ trở nên trung lập hơn. Đó chính là mục đích chính của chúng tôi, và chúng tôi quyết không từ bỏ việc đó cho tới khi họ trở thành ban nhạc xuất sắc nhất thế giới."[110]

Radiohead chọn "Paranoid Android" làm đĩa đơn đầu tiên cho album, cho dù nó có thời lượng dài bất thường và không có một đoạn điệp khúc rõ ràng.[111][112]. Colin Greenwood thừa nhận đây là "thứ thay đổi không dễ nghe trên radio, bước đột phá, điều bàn tán [mà các đài phát thanh] cần nhắm tới" ngoài ra cũng ghi nhận việc Capitol ủng hộ lựa chọn của ban nhạc[112]. Ca khúc được lên sóng Radio 1 qua chương trình The Evening Session vào tháng 4 năm 1997, sau đó trở thành đĩa đơn vào tháng 5[113]. Với việc thường xuyên lên sóng phát thanh cùng với việc video clip hay được trình chiếu trên kênh MTV[114], "Paranoid Android" có được vị trí số 3 tại Anh và trở thành ca khúc có thứ hạng cao nhất của Radiohead tại đây[115].

Radiohead sau đó tiến hành tour diễn vòng quanh thế giới Against Demons để quảng bá cho OK Computer, bắt đầu bằng buổi diễn tại Barcelona ngày 22 tháng 5 năm 1997[116]. Album sau đó được phát hành ngày 21 tháng 5 tại Nhật, 16 tháng 6 tại Anh, 17 tháng 6 tại Canada và 1 tháng 7 tại Mỹ[117]. Ngoài ấn bản CD, album còn được bày bán theo ấn bản LP-kép đĩa than, cassetteMiniDisc[118]. Album có được vị trí số 1 tại Anh trong 2 tuần. Nó còn đứng trong top 10 nhiều tuần lễ sau đó và trở thành album bán chạy thứ 8 của năm tại đây[119]. Cùng lúc đó, ban nhạc đi tour tại Anh và Ireland[120], ngoài ra còn ở châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản và Úc, cuối cùng kết thúc ngày 29 tháng 8 năm 1999 tại New York[119]. Tour diễn trở thành gánh nặng cho ban nhạc, như Yorke nói "Tour diễn đã kéo dài quá lâu. Tôi là người đầu tiên cảm thấy mệt mỏi về nó, như những gì những thành viên khác thừa nhận 6 tháng sau đó. Rồi 6 tháng tiếp theo, không còn ai muốn nói về điều đó nữa."[121]

"Karma Police" được phát hành vào tháng 8 năm 1997, còn "No Surprises" được phát hành vào tháng 1 năm 1998[122]. Cả hai đĩa đơn đều có mặt trong top 10 tại Anh, trong khi "Karma Police" có được vị trí số 14 tại Billboard Modern Rock Tracks[123][124]. "Lucky" được phát hành tại Pháp, song không được xếp hạng[125]. "Let Down", vốn dự định làm đĩa đơn đầu tiên của album[126], cũng có được vị trí 29 tại Billboard Modern Rock Tracks[124]. Ban nhạc có ý định thực hiện video ca nhạc cho tất cả các ca khúc, song dự án bị hủy bỏ do những khó khăn về tài chính và quỹ thời gian eo hẹp[127]. Tương tự, kế hoạch remix toàn bộ album với nhóm trip hop Massive Attack cũng nhanh chóng bị hủy bỏ[128]. Bộ phim tài liệu quay lại quá trình đi tour OK Computer của ban nhạc – Meeting People Is Easy – đạo diễn bởi Grant Gee, được công chiếu vào tháng 11 năm 1998[129].

Tới tháng 2 năm 1998, album bán được ít nhất nửa triệu bản tại Anh, và 2 triệu bản trên toàn thế giới[81]. Hiện nay, OK Computer đã bán được khoảng 1, 4 triệu bản tại Mỹ[130], 3 triệu bản trên toàn châu Âu[131], và ngoài ra khoảng 3 triệu bản nữa trên toàn thế giới[132]. Album có được 3 lần chứng nhận Bạch kim ở Anh[133] và 2 lần ở Mỹ[134], cùng vô số chứng nhận tại nhiều quốc gia khác.

Đón nhận của công chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AllMusic 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg
Chicago Tribune 3.5/4 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svg[135]
Entertainment Weekly B+[136]
The Guardian 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[137]
NME 10/10[138]
Pitchfork Media 10/10[139]
Q 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[140]
Rolling Stone 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[141]
Spin 8/10[48]
The Village Voice B−[142]

OK Computer nhận được hầu hết những đánh giá tích cực. Những đánh giá ở Anh và Mỹ đều cho rằng đây là một sản phẩm biểu tượng của thời đại và vượt trên những ảnh hưởng và tác động thông thường[143][144] và sự thỏa mãn từ ban nhạc khi dám thử nghiệm để thách thức thính giả. Theo Footman "Kể từ năm 1967 với Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band, phải tới giờ mới có nhiều đánh giá cùng đồng ý ngay lập tức, không chỉ về những thành tựu của album, mà còn bởi tính lâu dài của nó và cả sự tài tình trong việc gói gọn những nét đặc biệt của lịch sử."[145] Ở Anh, album nhận được nhiều lời khen từ NME,[138], Melody Maker[146], The Guardian[137], và Q[140]. Nick Kent viết trên tạp chí Mojo rằng "Nhiều thứ đã không còn bán được nữa, song trong 20 năm tới, tôi cược rằng OK Computer vẫn sẽ được coi là album chìa khóa của năm 1997 – sản phẩm đưa nhạc rock xa hơn những hình ảnh chắp vá nghệ thuật và những kiểu ca khúc khuôn mẫu từ thời đại trước."[111]

Album cũng có được những phản hồi tích cực từ Bắc Mỹ. Rolling Stone[141], Spin[48]Pitchfork Media[139] đều dành cho album những đánh giá tích cực. Trong bài viết trên tạp chí The New Yorker, nhà báo Alex Ross ca ngợi OK Computer về tính cách tân của nó, đồng thời đối lập cách chấp nhận rủi ro của Radiohead với thứ "dadrock" luôn dè dặt của Oasis. Ross viết "Xuyên suốt album, sự đối lập giữa cảm xúc và phong cách đã lên tới tột đỉnh... Ban nhạc này đã đạt tới thứ cân bằng nhất trong lịch sử nhạc rock."[147]

Những đánh giá từ Entertainment Weekly[136], Chicago Tribune[135]Time[148] là lẫn lộn cho dù có nhiều lời ca ngợi. Trong một bài viết trên The Independent, Andy Gill cho rằng "Về tham vọng cũng như việc khám phá con đường mới, OK Computer, rốt cuộc, lại không hề ấn tượng như The Bends khi nó đã trình bày lại hầu hết những nút thắt cảm xúc tương tự, song với những hòa âm tốt hơn. Nó thật sự dễ gây ấn tượng, nhưng lại không dễ để yêu thích khi nó quá dễ dàng chìm vào chủ đề về nỗi chán chường."[149] Robert Christgau từ The Village Voice dành cho OK Computer điểm số B– và gọi album là "Đồ bỏ đi của tháng" trong bài viết của riêng mình. Christgau cho rằng album thiếu "tính tâm hồn", "khô khan" và "lố bịch" khi so sánh với những sản phẩm của Pink Floyd[142]

Album sau đó được xuất hiện trong nhiều danh sách "Album của năm" bởi thính giả và giới chuyên môn. OK Computer đứng đầu tại các danh sách của Mojo, Vox, Entertainment Weekly, Hot Press, Muziekkrant OOR, HUMO, Eye WeeklyInpress, ngoài ra còn chia sẻ vị trí quán quân với Homework của Daft Punk trên tạp chí The Face. Album cũng giành được vị trí á quân tại các danh sách của NME, Melody Maker, Rolling Stone, Village Voice, SpinUncut. QLes Inrockuptibles cũng đề tên album vào những bản danh sách không xếp hạng của họ[150]. OK Computer cũng được đề cử ở giải Sao Thủy năm 1997 cho album Anh quốc và Ireland xuất sắc nhất năm[151]. Album dễ dàng nhận được Album alternative của năm song chỉ được đề cử Album của năm tại Giải Grammy năm 1998[152].

Những đánh giá trên toàn thế giới cho album hầu hết là tích cực, tới mức các thành viên của ban nhạc đã cho rằng giới báo chí đang làm quá lên. Điều làm ban nhạc đặc biệt khó chịu là việc nhiều bài viết suy dẫn album với thể loại progressive rockart rock, thậm chí với siêu phẩm The Dark Side of the Moon năm 1973 của ban nhạc Pink Floyd[153]. Yorke phản ứng "Tôi viết ra những ca khúc nhạc pop đó... không có một ý tưởng là mang tới "nghệ thuật" cả. Đó chỉ là suy nghĩ của chúng tôi về những điều khác nhau trong quá trình thu âm."[95] Yorke thậm chí còn thấy bất ngờ khi người nghe tìm thấy những ảnh hưởng tới album, anh nói "Thứ thực sự khiến tôi choáng váng là việc người ta có thể hiểu tất cả mọi thứ, mọi chất liệu, âm thanh và thứ không khí mà chúng tôi muốn tạo nên."[154] Johnny Greenwood nói "Ở Anh, tôi nghĩ hầu hết những đánh giá đều rất tốt, bởi vì album trước đó của chúng tôi [The Bends] bị đánh giá rất thấp và bị coi là khó chấp nhận."[45]

Tôn vinh[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

OK Computer được xứng tên trong rất nhiều danh sách album vĩ đại nhất. Rất nhiều nguồn đánh giá uy tín như NME, Melody Maker, Alternative Press[155], Spin[156], Pitchfork Media[157], Time[158], Metro Weekly[159]Slant[160] đều xếp album trong danh sách album xuất sắc nhất thập niên 1990 và của mọi thời đại. Năm 2003, album có được vị trí 163 trong danh sách "500 album vĩ đại nhất" của tạp chí Rolling Stone[161]. Những bài đánh giá tương tự từ BBC Music[162], The A.V. Club[163], Slant[164]Paste[165] đều dành cho album những nhận xét tích cực, trong khi Rolling Stone tặng album 5 sao tuyệt đối trong Rolling Stone Album Guide với bài viết bởi Rob Sheffield "Radiohead đã đạt tới đỉnh cao bị lãng quên bởi những Nirvana, Pearl Jam, U2, R.E.M. và nhiều người khác; tất cả người hâm mộ trên toàn thế giới đều ngưỡng mộ việc họ đã cố gắng hết sức khi mà gần như không ai còn thực sự để ý nữa."[166] Theo trang web thống kê Acclaimed Music, OK Computer có vị trí số 12 trong danh sách album nhạc rock được đánh giá cao nhất[167].

Nhiều nguồn đánh giá cho rằng album chưa thực sự xứng đáng với những lời ca ngợi, hoặc nhận xét rằng sự nghiệp của Radiohead đã ảnh hưởng tiêu cực tới thành công chung của album. Qua một bài điều tra từ đài BBC Radio 6 Music, OK Computer đứng vị trí số 6 trong số những album "được ca tụng thái quá nhất" thế giới[168]. Nhà báo David H. Green của The Daily Telegraph gọi đây là một kiểu "ca thán tự sướng", song vẫn giữ quan điểm rằng album là "minh chứng của thế kỷ 20 rằng rock vẫn sẽ là pháo đài kiên cố của những bình luận về âm nhạc quần chúng", chứ không phải danceâm nhạc điện tử[169]. Album cũng được xếp loại "Sacred Cows" của tạp chí NME cho "những album gây tranh cãi" mà cây viết Henry Yates bình luận "Không có một sự thách thức, tính hài hước chết chóc hay tia sáng lé loi nào đằng sau tấm bình phong, đơn giản đó là sự mềm mại và nỗi chán nản được trút bỏ" và đánh giá OK Computer như là "thời khắc mà Radiohead đã trở nên tuyệt hảo [so với The Bends] và bắt đầu trở nên "quan trọng"."[170] Tờ Spin thậm chí còn gọi ban nhạc là "huyền thoại" khi viết "Radiohead Can Do No Wrong"[gc 10] trong khi Chris Norris lập luận rằng OK Computer sẽ tạo tiền đề cho hàng loạt những kỳ vọng vào mỗi thành công sau này của Radiohead[171].

Bình luận và diễn giải[sửa | sửa mã nguồn]

OK Computer thể hiện rõ thái độ chỉ trích và hoài nghi tới chính phủ mới của Thủ tướng Tony Blair

OK Computer được ra mắt ngay trước kỳ bỏ phiếu quốc hội tại Anh năm 1997 và 1 tháng trước chiến thắng của Đảng Lao động của ứng cử viên Tony Blair. Album vì thế được coi là cách bày tỏ thái độ bất đồng và hoài nghi tới chính phủ mới cũng như tới quan điểm lạc quan tại Anh lúc đó. Dorian Lynske viết "Ngày 1 tháng 5 năm 1997, những người ủng hộ Đảng Lao động cùng nhau cạn chén chúc mừng trong giai điệu của ca khúc "Things Can Only Get Better"[gc 11]. Chỉ vài tuần sau, OK Computer xuất hiện như bóng ma của Banquo[gc 12] để cảnh báo "No, things can only get worse"[gc 13]."[172] Theo Amy Britton, album "cho thấy mọi người chưa sẵn sàng để ủng hộ đảng cầm quyền, cho dù phải thừa nhận thứ cảm xúc mới mẻ trải rộng khắp nước Anh – những nỗi lo tiền thiên niên kỷ mới... những tổ chức lớn mà cộng đồng không thể chống lại – đó chính là thế giới mà OK Computer ghi lại chứ không phải làn sóng lạc quan của người dân Anh."[173]

Trong một bài phỏng vấn, Yorke lo ngại rằng quan điểm mới của Blair sẽ hoàn toàn đối lập với con đường của Đảng Bảo thủ từng dẫn dắt nước Anh suốt 2 thập niên trước. Anh cho rằng cái chết của Diana còn có nhiều ý nghĩa hơn, vào đúng lúc mà công chúng Anh nhận ra rằng "hoàng gia đã chi phối chúng ta bằng những viên đạn suốt hàng trăm năm qua, và giờ là truyền thông và cả chính quyền này"[39]. Việc ban nhạc cũng không mặn mà lắm cho việc quảng bá thương mại OK Computer nhấn mạnh thêm quan điểm chính trị chống lại chủ nghĩa tư bản, sau này được bộc lộ rất rõ rệt trong các sản phẩm kế tiếp[174].

Giới phân tích cho rằng quan điểm của Radiohead là hoàn toàn trái ngược với những ban nhạc rock trước đây. Nhà báo David Stubbs cho rằng, nếu như punk rock là phản ứng chống lại việc lãng phí thời gian cũng như sự nghèo khó thì OK Computer lại chống lại "sự tiện nghi vật chất" của thời kỳ quá tải và dư thừa[175]. Cây viết Alex Ross nói album "là hình ảnh công kích dữ dội Thời đại Công nghệ và sự lệ thuộc vào nó của tầng lớp trẻ tuổi", đồng thời đưa ban nhạc "thành thần tượng cho những người nhận thức được sự cách ly với xã hội — như Talking Heads hay R.E.M. đã từng trở thành trước đây"[49]. Jon Pareles từ tờ The New York Times tìm thấy nhiều điểm tương đồng giữa album này với những sản phẩm của Pink Floyd hay Madness thông qua những mối quan tâm của Radiohead "về văn hóa vô cảm và việc tạo nên những người lao động dễ bảo cũng như cổ vũ việc tự thân vận động và chống lại sự trầm cảm."[176]

Một số khác cho rằng âm thanh của album sẽ đại diện cho thiên niên kỷ mới[37][177], hoặc mang dự báo[178], cả lĩnh vực văn hóa lẫn chính trị. Theo cây bút Steven Hyder từ The A.V. Club trong bài viết "Whatever Happened to Alternative Nation", "Radiohead đã đi đầu ngọn sóng, tập trung vào sự cao ngạo, sự chi phối tới mất trí của truyền thông cũng như sự tồn tại hiển nhiên của cái chết bất thình lình như những đặc trưng của thế kỷ 21."[179] Trong cuốn 1000 Recordings to Hear Before You Die, Tom Moon viết về OK Computer"một vùng đất tiên tri đau khổ với những mặt tối của công nghệ,... đồng hành với những nỗi ám ảnh kinh hãi và cả hình ảnh tiên đoán trước về một Big Brother liên quan tới những mối lo lắng thường trực về mức cảnh báo màu cam sau Sự kiện 11 tháng 9."[180] Chris Martin của ban nhạc Coldplay nhấn mạnh rằng "Thật lý thú nếu ta tưởng tượng thế giới sẽ ra sao nếu Dick Cheney ngồi nghe OK Computer của Radiohead. Tôi nghĩ thế giới sẽ trở nên tốt đẹp hơn. Album đó thực sự tuyệt vời. Nó đã thay đổi cuộc đời tôi, vậy thì sao nó không thể thay đổi cuộc đời ông ấy?"[181]

Ảnh hưởng âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

"Rất nhiều người từng lắng nghe OK Computer và nói "Đây là thứ quy chuẩn. Nếu tôi có thể làm ra thứ gì tốt bằng một nửa, tôi nghĩ hẳn là tôi đã làm tốt rồi." Nhưng tôi chưa bao giờ được nghe một thứ hoàn toàn được bắt nguồn từ OK Computer – một thứ đầy mê hoặc như nó đã từng cho thấy rằng Radiohead thực tế đã hoàn thiện một thứ phức tạp hơn nhiều so với vẻ ngoài của nó."

– Josh Davis (DJ Shadow)[182]

"Toàn bộ âm thanh và trải nghiệm cảm xúc của nó đã vượt qua mọi giới hạn. Nó chạm tới rất nhiều thứ cảm xúc bị chôn vùi mà con người từ lâu đã không muốn khám phá hay nhắc tới nữa."

OK Computer ra đời cùng lúc với sự thoái trào của Britpop[gc 14]. Qua những ảnh hưởng của OK Computer, cách chơi guitar chủ đạo tại Anh đã trở thành "hoang tưởng kiểu Radiohead song lại thành thật, nhầy nhụa song đầy say mê"[183]. Rất nhiều nghệ sĩ trẻ ở Anh cũng bắt đầu đi theo xu thế và quan điểm tương tự. Một trong những ví dụ điển hình nhất chính là phong cách Post-Britpop mà ban nhạc Travis đã hợp tác cùng nhà sản xuất Godrich để tạo nên album The Man Who, trở thành album bán chạy thứ 4 trong năm 1999 tại đây[184]. Nhiều tờ báo ở Anh cho rằng Travis đã bắt chước âm thanh từ Radiohead[185]. Steven Hyden của A.V. Club viết vào năm 1998 về The Man Who rằng "những gì mà Radiohead đã tạo nên cùng OK Computer đã lớn hơn cả bản thân ban nhạc" và nhận định album đã ảnh hưởng "tới làn sóng những nghệ sĩ rock ballad ở Anh cực thịnh trong thập niên 2000"[179].

Nhiều đánh giá cho rằng sự nổi tiếng của OK Computer tạo tiền đề cho thế hệ alternative rock mới của Anh phát triển[gc 15], ngoài ra còn giúp cho vô số nghệ sĩ tìm ra được phong cách nghệ thuật mới mà album đem tới, trong đó có thể kể tới trưởng nhóm Michael Stipe của R.E.M., cựu thành viên của The Smiths Johnny Marr, DJ Shadow, cựu thành viên của Guns N' Roses Slash, Nicky Wire của Manic Street Preachers, trưởng nhóm Neil Hannon của The Divine Comedy[gc 16], chủ sở hữu nhãn đĩa Mo'Wax James Lavelle, cựu thành viên nhóm Depeche Mode Alan Wilder và nhạc sĩ Esa-Pekka Salonen[187]. Coldplay[181][188], Bloc Party [189]TV on the Radio[190] đều khẳng định quan điểm âm nhạc của họ bị ảnh hưởng lớn từ OK Computer, mà theo đó album đầu tay của TV on the Radio được mang tên OK Calculator như một lời tri ân đặc biệt[191]. Radiohead cũng nói rằng việc khắp nơi có "âm thanh giống chúng tôi" là một trong những lý do chính khiến họ thay đổi hoàn toàn phong cách trong album bước ngoặt của họ, Kid A[192].

Cho dù ảnh hưởng đặc biệt của OK Computer được thừa nhận rộng khắp, nhiều đánh giá tin rằng sự bi quan mang tính trải nghiệm của nó thì không bao hàm rộng tới vậy. Footman nói những nhóm nhạc "theo hiệu ứng Radiohead" thực sự "khao khát tính sáng tạo trong âm thanh [của OK Computer], chứ không chú trọng tới phần nội dung ca từ"[193]. David Cavanagh nhận xét rằng những ảnh hưởng chính yếu của OK Computer đã được bắt nguồn từ những giai điệu ballad trong The Bends. Ông viết "những sản phẩm hậu-OK Computer nổi tiếng sau này – như Urban Hymns của The Verve, Good Feeling của Travis, Word Gets Around của Stereophonics, Life thru a Lens của Robbie Williams – thực tế đều đã đóng cánh cửa sáng tạo đầy tính nghiên cứu mà OK Computer vừa mới mở ra."[17] John Harris cho rằng album là một trong "những điểm nhấn thoáng qua rằng nhạc rock Anh sẽ trở lại với con đường sáng tạo truyền thống" sau sự thoái trào của Britpop[194]. Ngoài việc nói rằng nhạc rock Anh sẽ phát triển "cùng nhau theo khuynh hướng thận trọng hơn", ông cũng cho rằng OK Computer sẽ chính là hạt nhân chủ đạo, và Radiohead sẽ trở thành "tiếng kêu lanh lảnh" góp phần lấp đầy những chỗ trống mà Britpop để lại[194].

OK Computer cũng góp phần làm hồi sinh hình ảnh của progressive rock cũng như cách xây dựng album chủ đề, ngoài ra cũng được nhiều ban nhạc hậu bối khen ngợi giúp khả năng của họ phát triển. Brandon Curtis từ nhóm The Secret Machines nói: "Những ca khúc như "Paranoid Android" đã trực tiếp thay đổi cách viết nhạc theo hướng thể nghiệm hơn. OK Computer trở nên đặc biệt quan trọng khi nó đem tới cách sáng tác và cấu trúc ca khúc hoàn toàn khác biệt."'[195]' Steven Wilson của ban nhạc Porcupine Tree cho rằng "Tôi không còn nghĩ rằng tham vọng là một từ ngữ cần phải né tránh nữa. Radiohead như là "Con ngựa thành Troia" theo nghĩa tôn trọng nhất tôi dành cho họ. Một ban nhạc đi lên từ phong trào indie rock truyền thống song lại phát triển ngoài tầm phủ sóng của cánh nhà báo, rồi tiến tới thực hiện – và trên hết – những sản phẩm tham vọng và thành công."[196] Tuy nhiên Radiohead lại phủ nhận tất cả những lời so sánh liên quan tới phong cách họ cũng như những nhận xét về sự thành công của album chủ đề[95]. Johnny Greenwood phản ứng lại tất cả những đánh giá trên khi nói "Tôi nghĩ một cái tiêu đề và việc thực hiện bằng máy tính qua giọng nói không thể tạo nên một album chủ đề. Tôi nghĩ đó là một quan điểm sai lầm."[95]

Tái bản[sửa | sửa mã nguồn]

Radiohead chia tay EMI – công ty mẹ của Parlophone – vào năm 2007 sau những thất bại trong việc gia hạn hợp đồng. EMI vẫn được quyền sở hữu những lưu trữ của Radiohead thu âm khi họ còn hợp đồng[197]. Sau thời kỳ sản xuất hàng loạt đĩa than, EMI tái bản LP-kép của OK Computer vào ngày 19 tháng 8 năm 2008 đi cùng với những album khác Kid A, AmnesiacHail to the Thief trong serie "From the Capitol Vaults"[198]. OK Computer trở thành đĩa than bán chạy thứ 10 của năm với khoảng 10.000 ấn phẩm bán được[199]. Sản phẩm tái bản nhận được sự ủng hộ của giới báo chí qua việc gây chú ý hơn tới thị trường đĩa than cũng như tới quan điểm của công chúng trong việc tiếp cận những sản phẩm thu âm qua định dạng trên[200][201].

OK Computer được tái bản một lần nữa ngày 24 tháng 3 năm 2009 cùng với 2 album Pablo HoneyThe Bends mà không có sự đồng ý của Radiohead. Sản phẩm này được bày bán dưới 2 định dạng: bản 2 CD "Collector's Edition" và bản 2 CD 1 DVD "Special Collector's Edition". CD thứ nhất là album phòng thu gốc, còn CD thứ 2 là những đĩa đơn mặt B của OK Computer cùng nhiều bản thu trực tiếp, còn DVD bao gồm tuyển tập những video ca nhạc cũng như những buổi trình diễn sân khấu[202]. Không có một phần nào trong lần tái bản này là chưa từng được phát hành trước đó.[203]

Đánh giá chuyên môn
"Collector's Edition"
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
AllMusic 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[204]
The A.V. Club A[205]
Pitchfork Media 10/10[206]
Rolling Stone 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[207]
Q 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[208]
Uncut 5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar full.svg[209]

Trong bài phỏng vấn vào tháng 3 năm 2009, O'Brien nói rằng EMI không hề thông báo tới ban nhạc về kế hoạch tái bản này "Tôi nghĩ người hâm mộ đã có hầu hết [nội dung của bản tái bản], đó đều là những thứ có trên Youtube. Đây chỉ đơn giản là công ty cố gắng kiếm bù lại số tiền đã mất, chứ đó không phải là ý định của người nghệ sĩ."[210] Phản ứng báo chí trong buổi giới thiệu sản phẩm đều nhấn mạnh việc EMI tận dụng những lưu trữ cũ của Radiohead. Larry Fitzmaurice của tạp chí Spin quy kết EMI đã lên kế hoạch "tái bản rồi tái-tái bản các sản phẩm [của Radiohead] cho tới khi tiền không thể chảy vào túi được nữa"[202], trong khi Ryan Dombal từ Pitchfork cho rằng nó "thực sự khó chấp nhận nếu biết rằng bản tái bản này không là gì khác ngoài một công cụ kiếm tiền cho EMI/Capitol – một công ty hàng đầu vốn được biết đến qua việc hỗ trợ những ban nhạc tiên phong"[203]. Nhà báo Daniel Kreps từ Rolling Stone lại bảo vệ EMI khi cho rằng "Dù ta có thể dễ dàng lên án việc Capitol tiếp tục vắt kiệt những lưu trữ quý giá, thực tế đó là một việc hoàn toàn có thể hiểu được."[211]

Bản tái bản có được những phản hồi tích cực, cho dù nhiều đánh giá lại khá lẫn lộn về một số chất liệu bổ sung. Những bài viết trên AllMusic[204], Uncut[209], Q[208], Rolling Stone[207]PopMatters[212] đánh giá cao những chất liệu bổ sung trên song lại khá dè dặt. Scott Plagenhoef từ Pitchfork dành tặng ấn bản tái bản điểm số tuyệt đối, cho rằng nó đáng đồng tiền của những người hâm mộ vốn chưa có những sản phẩm quý hiếm trước đó. Ông viết: "Ban nhạc không phải làm bất cứ điều gì ngoài việc đưa ra tiếng nói quyết định về việc phát hành sản phẩm, nếu không phải vì bất kể lý do nào khác ngoài kế hoạch tái bản tháng 9 của The Beatles vốn – còn tranh cãi – trở thành dấu chấm hết cho thời đại đĩa CD."[206] Josh Modell từ The A.V. Club ủng hộ cả phần bonus disc lẫn DVD và cho rằng "Còn điều gì mà chúng ta cần phải nói về OK Computer của năm 1997 mà ta chưa từng nói trước kia? Đây thực sự là sự dồn nén có vẻ đây mâu thuẫn trong nét tổng hợp về Radiohead."[205]

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ phần lời và nhạc sáng tác bởi Thom Yorke, Jonny Greenwood, Ed O'Brien, Colin GreenwoodPhil Selway

STT Tên bài hát Thời lượng
1. "Airbag"   4:44
2. "Paranoid Android"   6:23
3. "Subterranean Homesick Alien"   4:27
4. "Exit Music (For a Film)"   4:24
5. "Let Down"   4:59
6. "Karma Police"   4:21
7. "Fitter Happier"   1:57
8. "Electioneering"   3:50
9. "Climbing Up the Walls"   4:45
10. "No Surprises"   3:48
11. "Lucky"   4:19
12. "The Tourist"   5:24

Thành phần tham gia sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Ben at War Child" and Anne Pannecke (2014). “HELP album”. War Child UK. War Child UK. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2016. 
  2. ^ “Radiohead OK Computer Review”. Rolling Stone. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2015. 
  3. ^ “OK Computer”. Barnes & Noble. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2015. 
  4. ^ “Records Rewind: Radiohead – OK Computer (1997)”. The Edge. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2015. 
  5. ^ “Communication Breakdown”. Uncut. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2015. 
  6. ^ “OK Computer turns 18: why Radiohead’s album is still the best ever released”. Metro. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2015. 
  7. ^ “OK Computer”. Allmusic. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2011. 
  8. ^ http://blog.siriusxm.com/2016/06/30/music-versary-radiohead-released-ok-computer-in-the-united-states-on-july-1-1997/
  9. ^ a ă â b Cantin, Paul (ngày 19 tháng 10 năm 1997), “Radiohead's OK Computer confounds expectations”, Ottawa Sun 
  10. ^ a ă Richardson, Andy (ngày 9 tháng 12 năm 1995), “Boom! Shake the Gloom!”, NME 
  11. ^ Footman 2007, tr. 113.
  12. ^ a ă â b c d đ e ê Irvin, Jim (tháng 7 năm 1997), “Thom Yorke tells Jim Irvin how OK Computer was done”, Mojo 
  13. ^ a ă â Robinson, Andrea (tháng 8 năm 1997), “Nigel Godrich”, The Mix 
  14. ^ a ă â b Lowe, Steve (tháng 12 năm 1999), “Back to Save the Universe”, Select 
  15. ^ a ă Randall 2000, tr. 161.
  16. ^ Footman 2007, tr. 33.
  17. ^ a ă â b c Cavanagh, David (tháng 2 năm 2007), “Communication Breakdown”, Uncut 
  18. ^ Dalton, Stephen (tháng 8 năm 2001), “How to Disappear Completely”, Uncut 
  19. ^ Glover, Arian (ngày 1 tháng 8 năm 1998), “Radiohead—Getting More Respect.”, Circus 
  20. ^ Tạp chí Q, tháng 1 năm 2003
  21. ^ Footman 2007, tr. 34.
  22. ^ Randall 2000, tr. 189.
  23. ^ a ă Randall 2000, tr. 190–191.
  24. ^ Beauvallet, JD (ngày 25 tháng 1 năm 2000), “Nigel the Nihilist”, Les Inrockuptibles 
  25. ^ Doyle, Tom (tháng 4 năm 2008), “The Complete Radiohead”, Q 
  26. ^ Randall 2000, tr. 194.
  27. ^ a ă Folkerth, Bruce (ngày 13 tháng 8 năm 1997), “Radiohead: Ignore the Hype”, Flagpole 
  28. ^ a ă Randall 2000, tr. 195.
  29. ^ Walsh, Nick Paton (tháng 11 năm 1997), “Karma Policeman”, London Student (University of London Union) 
  30. ^ a ă Wylie, Harry (tháng 11 năm 1997), “Radiohead”, Total Guitar 
  31. ^ Pettigrew, Jason (tháng 9 năm 2001), “How to Reinvent Completely”, Alternative Press 
  32. ^ Footman 2007, tr. 25.
  33. ^ a ă “Thom Yorke loves to skank”, Q, Ngày 12 tháng 8 năm 2002 
  34. ^ a ă â b c “Radiohead: The Album, Song by Song, of the Year”, HUMO, Ngày 22 tháng 7 năm 1997 
  35. ^ Footman 2007, tr. 67.
  36. ^ Randall 2000, tr. 196.
  37. ^ a ă â b c Masuo, Sandy (tháng 9 năm 1997), “Subterranean Aliens”, Request 
  38. ^ Footman 2007, tr. 35.
  39. ^ a ă â b c d đ e Harris, John (tháng 1 năm 1998), “Renaissance Men”, Select 
  40. ^ a ă â Vaziri, Aidin (tháng 10 năm 1997), “British Pop Aesthetes”, Guitar Player 
  41. ^ a ă Diehl, Matt (tháng 6 năm 2004), “The 50th Anniversary of Rock: The Moments - 1996/1997: Radio Radiohead Get Paranoid”, Rolling Stone 
  42. ^ Randall 2000, tr. 198.
  43. ^ Randall 2000, tr. 199.
  44. ^ Randall 2000, tr. 200.
  45. ^ a ă â b Dave DiMartino (ngày 2 tháng 5 năm 1997). “Give Radiohead Your Computer”. Yahoo! Launch. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2009. 
  46. ^ a ă â Sutcliffe, Phil (tháng 10 năm 1999), “Radiohead: An Interview With Thom Yorke”, Q 
  47. ^ Bailie, Stuart (ngày 21 tháng 6 năm 1997), “Viva la Megabytes!”, NME 
  48. ^ a ă â Walters, Barry (tháng 8 năm 1997), “Radiohead: OK Computer: Capitol”, Spin 
  49. ^ a ă Ross 2010, tr. 88.
  50. ^ Footman 2007, tr. 142–150.
  51. ^ Sutherland, Mark (ngày 24 tháng 5 năm 1997), “Rounding the Bends”, Melody Maker 
  52. ^ a ă â b Sutcliffe, Phil (ngày 1 tháng 10 năm 1997), “Death is all around”, Q 
  53. ^ a ă â b Sakamoto, John (ngày 2 tháng 6 năm 1997), “Radiohead talk about their new video”, Jam! 
  54. ^ a ă â Lynskey, Dorian (tháng 2 năm 2011), “Welcome to the Machine”, Q 
  55. ^ a ă â b Wadsworth, Tony (ngày 20 tháng 12 năm 1997), “The Making of OK Computer”, The Guardian 
  56. ^ a ă â Randall, Mac (ngày 1 tháng 4 năm 1998). “Radiohead interview: The Golden Age of Radiohead”. Guitar World. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011. 
  57. ^ Footman 2007, tr. 42.
  58. ^ Footman 2007, tr. 43.
  59. ^ Footman 2007, tr. 46.
  60. ^ Randall 2000, tr. 214–215.
  61. ^ a ă â b c d Mark Sutherland (ngày 31 tháng 5 năm 1997), “Return of the Mac!”, Melody Maker 
  62. ^ Moran, Caitlin (tháng 7 năm 1997), “'Everything was just fear'”, Select 
  63. ^ Footman 2007, tr. 62.
  64. ^ a ă â b Moran, Caitlin (tháng 7 năm 1997). “I was feeling incredible hysteria and panic…”. Select: 92. 
  65. ^ Footman 2007, tr. 60–61.
  66. ^ Footman 2007, tr. 59–60.
  67. ^ Footman 2007, tr. 65.
  68. ^ a ă Footman & 67.
  69. ^ Randall 2000, tr. 154.
  70. ^ a ă Footman & 66.
  71. ^ Dalton, Stephen (tháng 9 năm 1997), “The Dour & The Glory”, Vox 
  72. ^ Footman 2007, tr. 73.
  73. ^ Gaitskill, Mary (tháng 4 năm 1998), “Radiohead: Alarms and Surprises”, Alternative Press 
  74. ^ a ă â Huey, Steve. “Karma Police”. AllMusic. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2008. 
  75. ^ a ă Footman 2007, tr. 79.
  76. ^ a ă Randall 2000, tr. 158–159.
  77. ^ Randall 2000, tr. 224–225.
  78. ^ Footman 2007, tr. 86.
  79. ^ a ă â Sam =Steele (tháng 7 năm 1997), “Grand Control to Major Thom”, Vox 
  80. ^ Footman 2007, tr. 93–94.
  81. ^ a ă “The 100 Greatest Albums in the Universe”, Q, Tháng 2 năm 1998 
  82. ^ a ă â Kuipers, Dean (tháng 3 năm 1998), “Fridge Buzz Now”, Ray Gun 
  83. ^ Randall 2000, tr. 226.
  84. ^ John Harris; Serge Simonart (tháng 8 năm 2001), “Everything in Its Right Place”, Q 
  85. ^ Footman 2007, tr. 110.
  86. ^ Bill Janovitz, “No Surprises”, AllMusic, Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2010, truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2008 
  87. ^ Footman 2007, tr. 108–109.
  88. ^ Stuart Berman (tháng 7 năm 1997), “Outsiders”, Chart 
  89. ^ Ken Micallef. 17 tháng 8 năm 1997Launch.htm “I'm OK, You're OK”. Yahoo! Launch. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2013. 
  90. ^ Scott Kara (tháng 9 năm 2000), “Experimental Creeps”, Rip It Up 
  91. ^ Sam Taylor (ngày 5 tháng 11 năm 1995), “Gives You the Creeps”, The Observer 
  92. ^ Sam Taylor (ngày 5 tháng 11 năm 1995), “Mother, Should I Build a Wall?”, The Observer 
  93. ^ Jim Shelley (ngày 13 tháng 7 năm 1996), “Nice Dream?”, The Guardian 
  94. ^ Rupert Howe (tháng 4 năm 2008), “OK Computer [Parlophone, 1997]”, Q 
  95. ^ a ă â b Clarke 2010, tr. 124.
  96. ^ Kahney, Leander (ngày 1 tháng 2 năm 2002), “He Writes the Songs: Mac Songs”, Wired, Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2011 
  97. ^ Footman 2007, tr. 36–37.
  98. ^ Krüger, Sascha (tháng 7 năm 2008), “Exit Music”, Visions (bằng tiếng Đức) 
  99. ^ Griffiths 2004, tr. 79.
  100. ^ a ă Ryan Dombal (ngày 15 tháng 9 năm 2010). “Take Cover: Radiohead Artist Stanley Donwood”. Pitchfork Media. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2011. 
  101. ^ Footman 2007, tr. 127–130.
  102. ^ Griffiths 2004, tr. 81.
  103. ^ Arminio, Mark (ngày 26 tháng 6 năm 2009), “Between the Liner Notes: 6 Things You Can Learn By Obsessing Over Album Artwork”, Mental floss, Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2011 
  104. ^ Odell, Michael (tháng 9 năm 2003), “Inside the Mind of Radiohead's Mad Genius!”, Blender 
  105. ^ Randall 2000, tr. 202.
  106. ^ Randall 2000, tr. 242.
  107. ^ Blashill, Pat (Tháng 1 năm 1998), “Band of the Year: Radiohead”, Spin 
  108. ^ Martins, Chris (ngày 29 tháng 3 năm 2011). “Radiohead Gives Out Free Newspaper in LA: Here's a Top Eight List of the Band's Most Peculiar Swag”. Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2011. 
  109. ^ Randall 2000, tr. 243.
  110. ^ Hoskyns, Barney (tháng 10 năm 2000), “Exit Music: Can Radiohead save rock music as we (don’t) know it?”, GQ 
  111. ^ a ă Kent, Nick (tháng 7 năm 1997), “Press your space next to mine, love”, Mojo 
  112. ^ a ă Sutherland, Mark (ngày 4 tháng 3 năm 1998), “Rounding the Bends”, Melody Maker 
  113. ^ Broc, David (tháng 6 năm 2001), “Remembering the Future – Interview with Jonny Greenwood”, MondoSonoro 
  114. ^ Gulla, Bob (tháng 10 năm 1997), “Radiohead: At Long Last, a Future for Rock Guitar”, Guitar World 
  115. ^ Randall 2000, tr. 242–243.
  116. ^ Randall 2000, tr. 202–203.
  117. ^ Footman 2007, tr. 38.
  118. ^ Footman 2007, tr. 126.
  119. ^ a ă Randall 2000, tr. 247.
  120. ^ Footman 2000, tr. 203.
  121. ^ Paphides, Peter (tháng 8 năm 1993), “Into the Light”, Mojo 
  122. ^ Clarke 2010, tr. 117–119.
  123. ^ a ă â “Radiohead – The Official Charts Company”. The Official BPI Charts Company. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2012. 
  124. ^ a ă â “Artist Chart History – Radiohead”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2008. 
  125. ^ Footman 2007, tr. 116.
  126. ^ Footman 2007, tr. 74.
  127. ^ Clarke 2010, tr. 113.
  128. ^ “Massive Attack Drops Plans To Remix Radiohead, Teams With Cocteau Twins”. MTV. Ngày 4 tháng 3 năm 1998. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2011. 
  129. ^ Clarke 2010, tr. 134.
  130. ^ Hilburn, Robert (ngày 3 tháng 6 năm 2001), “Operating on His Own Frequency”, Los Angeles Times, Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2012, truy cập ngày 13 tháng 8 năm 2012 
  131. ^ “James Blunt album sales pass 5m”. BBC News Online. Ngày 8 tháng 4 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  132. ^ Sexton, Paul (ngày 16 tháng 9 năm 2000), “Radiohead won't play by rules”, Billboard 
  133. ^ “British album certifications – Radiohead – OK Computer”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. Enter OK Computer in the field Search. Select Title in the field Search by. Select album in the field By Format. Click Go 
  134. ^ “American album certifications – Radiohead – OK Computer”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2016. 
  135. ^ a ă Kot, Greg (ngày 4 tháng 7 năm 1997), 4 tháng 7 năm 1997/entertainment/9707040186_1_ambition-ugly-star “Radiohead OK Computer (Capitol)”, Chicago Tribune, Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2011, truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2011 
  136. ^ a ă Browne, David (ngày 11 tháng 7 năm 1997), “OK Computer Review”, Entertainment Weekly, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011 
  137. ^ a ă Sullivan, Caroline (ngày 13 tháng 6 năm 1997), “Aching Heads”, The Guardian 
  138. ^ a ă Oldham, James (ngày 14 tháng 6 năm 1997), “The Rise and Rise of the ROM Empire”, NME 
  139. ^ a ă Schreiber, Ryan (ngày 31 tháng 12 năm 1997), “Radiohead: OK Computer: Pitchfork Review”, Pitchfork Media, Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2001, truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2009 
  140. ^ a ă Cavanagh, David (tháng 7 năm 1997), “Moonstruck”, Q 
  141. ^ a ă Kemp, Mark (ngày 10 tháng 7 năm 1997), OK Computer: Radiohead: Review”, Rolling Stone, truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2008 
  142. ^ a ă Christgau, Robert (ngày 23 tháng 9 năm 1997), “Consumer Guide Sept. 1997”, The Village Voice, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011 
  143. ^ Footman 2007, tr. 181–182.
  144. ^ Clarke 2010, tr. 121.
  145. ^ Footman 2007, tr. 182.
  146. ^ Parkes, Taylor (ngày 14 tháng 6 năm 1997), “Review of OK Computer”, Melody Maker 
  147. ^ Ross, Alex (ngày 29 tháng 9 năm 1997), “Dadrock”, The New Yorker, truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2008 
  148. ^ Farley, Christopher John (ngày 25 tháng 8 năm 1997), “Lost in Space”, Time, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2008 
  149. ^ Gill, Andy (ngày 13 tháng 6 năm 1997), “Andy Gill on albums: Radiohead OK omputer Parlophone”, The Independent, truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013 
  150. ^ Footman 2007, tr. 183–184.
  151. ^ “Mercury Prize 2008: The nominees”. BBC News Online. Ngày 22 tháng 7 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2008. 
  152. ^ Randall 2000, tr. 251, 255.
  153. ^ Varga, George (tháng 11 năm 2001), “Radiohead's Jazz Frequencies”, JazzTimes 
  154. ^ Gill, Andy (ngày 5 tháng 10 năm 2007), “Ok computer: Why the record industry is terrified of Radiohead's new album”, The Independent, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011 
  155. ^ Footman 2007, tr. 185.
  156. ^ a ă Smith, RJ (tháng 9 năm 1999), “09: Radiohead: OK Computer”, Spin 
  157. ^ DiCrescenzo, Brent (ngày 17 tháng 11 năm 2003). “Top 100 Albums of the 1990s”. Pitchfork Media. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2009. 
  158. ^ Tyrangiel, Josh (ngày 2 tháng 11 năm 2006), “OK Computer – The ALL-TIME 100 Albums”, Time, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011 
  159. ^ Gerard, Chris (ngày 4 tháng 4 năm 2014). “50 Best Alternative Albums of the ’90s”. Metro Weekly. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2014. 
  160. ^ “Best Albums of the '90s”. Slant. Ngày 14 tháng 2 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011. 
  161. ^ “162 OK Computer – Radiohead”. Rolling Stone. 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011. 
  162. ^ Lusk, Jon (ngày 5 tháng 8 năm 2011). “Radiohead: OK Computer”. BBC Music (BBC). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2007. 
  163. ^ Thompson, Stephen (ngày 29 tháng 3 năm 2002), “Radiohead: OK Computer”, The A.V. Club, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011 
  164. ^ Cinquemani, Sal (ngày 27 tháng 3 năm 2007), “Radiohead: OK Computer”, Slant, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011 
  165. ^ Kemp, Mark (ngày 27 tháng 3 năm 2009), “Radiohead: Pablo Honey, The Bends, OK Computer (reissues)”, Paste, Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011 
  166. ^ Brackett & Hoard 2004, tr. 671.
  167. ^ “Radiohead”. Acclaimed Music. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2014. 
  168. ^ “Most Overrated Album in the World”. BBC Radio 6 Music. Tháng 10 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2011. 
  169. ^ Green, David H. (ngày 18 tháng 3 năm 2009). “OK Computer Box Set: Not OK Computer”. The Daily Telegraph. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2011. 
  170. ^ Yates, Henry (ngày 3 tháng 4 năm 2011). “Sacred Cows – Is Radiohead's 'OK Computer' Overrated?”. NME. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2011. 
  171. ^ Norris, Chris (ngày 9 tháng 11 năm 2009). “Myth No. 1: Radiohead Can Do No Wrong”. Spin. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011. 
  172. ^ Lynskey 2011, tr. 496.
  173. ^ Britton 2011, tr. 259–261.
  174. ^ Clarke 2010, tr. 142.
  175. ^ Radiohead: OK Computer – A Classic Album Under Review (DVD). Sexy Intellectual. Ngày 10 tháng 10 năm 2006. 
  176. ^ Pareles, Jon (ngày 28 tháng 8 năm 1997). “Miserable and Loving It: It's Just So Very Good to Feel So Very, Very Bad”. The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2011. 
  177. ^ “Is OK Computer the Greatest Album of the 1990s?”, Uncut, Ngày 1 tháng 1 năm 2007, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2008 
  178. ^ Dwyer, Michael (ngày 14 tháng 3 năm 1998), “OK Kangaroo”, Melody Maker 
  179. ^ a ă Hyden, Steven (ngày 25 tháng 1 năm 2011), “Whatever Happened to Alternative Nation? Part 8: 1997: The ballad of Oasis and Radiohead”, The A.V. Club, Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2011 
  180. ^ Moon 2008, tr. 627–628.
  181. ^ a ă McLean, Craig (ngày 27 tháng 5 năm 2005), “The importance of being earnest”, The Guardian, Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2011, truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2011 
  182. ^ Tapper, James (ngày 17 tháng 4 năm 2005), “Radiohead's album best of all time – OK?”, Daily Mail, Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2011 
  183. ^ “The 50 Greatest Bands: 15”, Spin, Tháng 2 năm 2002 
  184. ^ “Yearly Best Selling Albums” (PDF). bpi.co.uk. BPI Ltd. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2014. 
  185. ^ Sullivan, Kate (tháng 5 năm 2000), “Travis”, Spin 
  186. ^ Thornton, Anthony: 'Neil Hannon's Record Collection', Q #146, November 1998, tr. 67
  187. ^ Xem thêm:
  188. ^ Aza, Bharat (ngày 15 tháng 6 năm 2007), “Ten years of OK Computer and what have we got?”, The Guardian, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011 
  189. ^ Nunn, Adie (ngày 4 tháng 12 năm 2003), “Introducing Bloc Party”, Drowned in Sound, truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2009 
  190. ^ Harrington, Richard (ngày 13 tháng 4 năm 2007), “TV on the Radio: Coming in Loud and Clear”, Washington Post, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2008 
  191. ^ Sellers, John (ngày 11 tháng 4 năm 2011), “Tough Questions for TVOTR's Tunde Adebimpe”, Spin, Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 11 năm 2011, truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2011 
  192. ^ Murphy, Peter (ngày 11 tháng 10 năm 2001), “How I learned to stop worrying and loathe the bomb”, Hot Press, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011 
  193. ^ Footman 2007, tr. 219.
  194. ^ a ă Harris 2004, tr. 369.
  195. ^ Allen, Matt (ngày 14 tháng 6 năm 2007), “Prog's progeny”, The Guardian, Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011 
  196. ^ “It's back... Prog rock assaults album charts”. BBC News. Ngày 23 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2012. 
  197. ^ Sherwin, Adam (ngày 28 tháng 12 năm 2007), “EMI accuses Radiohead after group's demands for more fell on deaf ears”, The Times, truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011 
  198. ^ “Coldplay, Radiohead to be reissued on vinyl”, NME, Ngày 10 tháng 7 năm 2008, Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 11 năm 2011, truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2011 
  199. ^ V, Petey (ngày 9 tháng 1 năm 2009), “Animal Collective Rides Vinyl Wave into '09, Massive 2008 Vinyl Sales Figures Confuse Everyone but B-52s Fans”, Tiny Mix Tapes, Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2011, truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011 
  200. ^ Kreps, Daniel (ngày 8 tháng 1 năm 2009), “Radiohead, Neutral Milk Hotel Help Vinyl Sales Almost Double in 2008”, Rolling Stone, Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2011, truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011 
  201. ^ “The 7in. revival – fans get back in the groove”, The Independent, Ngày 18 tháng 7 năm 2008, Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2010, truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2010 
  202. ^ a ă â b Fitzmaurice, Larry (ngày 15 tháng 1 năm 2009), “Radiohead's First Three Albums Reissued with Extras”, Spin, Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011 
  203. ^ a ă Dombal, Ryan (ngày 14 tháng 1 năm 2009), “Radiohead's First Three Albums Reissued and Expanded”, Pitchfork Media, Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011 
  204. ^ a ă Erlewine, Stephen Thomas, “OK Computer [Collector's Edition] [2CD/1DVD]”, AllMusic, Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011 
  205. ^ a ă Modell, Josh (ngày 3 tháng 4 năm 2009), Pablo Honey / The Bends / OK Computer, The A.V. Club, Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2011, truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2011 
  206. ^ a ă Plagenhoef, Scott (ngày 16 tháng 4 năm 2009). “Radiohead: Pablo Honey: Collector's Edition / The Bends: Collector's Edition / OK Computer: Collector's Edition”. Pitchfork Media. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011. 
  207. ^ a ă Hermes, Will (ngày 30 tháng 4 năm 2009), OK Computer (Collector's Edition)”, Rolling Stone, Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011 
  208. ^ a ă Segal, Victoria (tháng 5 năm 2009), “Reissues: Radiohead”, Q 
  209. ^ a ă Richards, Sam (ngày 8 tháng 4 năm 2009), “Album review: Radiohead Reissues – Collectors Editions”, Uncut, Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011 
  210. ^ Rossi, Italo (ngày 19 tháng 3 năm 2009). “Breakfast with Ed O'Brien”. Radioheadperu.org. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011. 
  211. ^ Kreps, Daniel (ngày 15 tháng 1 năm 2009), “Radiohead's First Three Albums Reissued with Extras”, Rolling Stone, Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011 
  212. ^ McCarthy, Sean (ngày 18 tháng 12 năm 2009), The Best Re-Issues of 2009: 18: Radiohead: Pablo Honey / The Bends / OK Computer / Kid A / Amnesiac / Hail to the Thief, PopMatters, Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2011, truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2011 
  213. ^ “Radiohead – OK Computer”. Australian-charts.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  214. ^ “Radiohead – OK Computer”. Austriancharts.at. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  215. ^ a ă “Radiohead – OK Computer”. Ultratop.be. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  216. ^ “Top Albums/CDs”, RPM 65 (17), Ngày 30 tháng 6 năm 1997, Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 1 năm 2012, truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2012 
  217. ^ “Radiohead – OK Computer”. Dutchcharts.nl. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  218. ^ “Radiohead – OK Computer”. Lescharts.com. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011. 
  219. ^ “Chartverfolgung / Radiohead / Longplay”. musicline.de. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  220. ^ “Radiohead – OK Computer”. Charts.org.nz. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  221. ^ “Radiohead – OK Computer”. Spanishcharts.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  222. ^ “Radiohead – OK Computer”. Swedishcharts.com. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  223. ^ “Radiohead – OK Computer”. Hitparade.ch. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2011. 
  224. ^ “Artist Chart History – Radiohead”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2008. 
  225. ^ “Search: Radiohead”. Charts.org.nz. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2008. 
  226. ^ “Search: Radiohead”. Australian-charts.com. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011. 
  227. ^ “Search: Radiohead”. Swedishcharts.com. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011. 
  228. ^ “Eenvoudige zoekopdracht: Radiohead”. Dutchcharts.nl. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2011. 
  229. ^ “Discos de Oro y Platino” (bằng tiếng Tây Ban Nha). CAPIF. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2013. 
  230. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 1997 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2017.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  231. ^ “Ultratop − Goud en Platina – 1997”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2012. 
  232. ^ “Canada album certifications – Radiohead – OK Computer”. Music Canada. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  233. ^ “France album certifications – Radiohead – OK Computer” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. 
  234. ^ “Les Albums Double Or:” (bằng tiếng Pháp). Infodisc.fr. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2012. 
  235. ^ “Italy album certifications – Radiohead – OK Computer” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2012.  Chọn Album e Compilation ở mục Sezione. Nhập Radiohead vào mục Filtra. Chọn 2012 ở mục Anno.
  236. ^ “Norway album certifications – Radiohead – OK Computer” (bằng tiếng Na Uy). IFPI Na Uy. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2012. 
  237. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 1987−1998” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2012. 
  238. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Radiohead; 'OK Computer')”. IFPI Switzerland. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
  239. ^ “Britain album certifications – Radiohead – OK Computer” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2013.  Nhập OK Computer vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Album trong khung By Format. Nhấn Search
  240. ^ “American album certifications – Radiohead – OK Computer” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  241. ^ “IFPI Platinum Europe Awards – 2006”. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2012. 
Ghi chú
  1. ^ "Phân tách" – "seperation" – mà Yorke nói tới ở đây là kỹ thuật trộn âm stem rất cơ bản của phòng thu, có từ thập niên 1960. Với kỹ thuật này, kỹ thuật viên sẽ tách từng đoạn nhỏ rồi chỉnh sửa chi tiết, trước khi gộp chúng lại rồi chỉnh sửa tổng thể lần nữa.
  2. ^ Yorke đã động từ hóa "Polaroid". Polaroid Corporation hay gọi tắt là Polaroid là hãng sản xuất máy ảnh và máy quay phim kỹ thuật số, thành lập năm 1937 tại Mỹ.
  3. ^ Phong trào thơ Martian là một phong trào thơ cuối thập niên 1970 đầu thập niên 1980 ở Anh. Những đại diện tiêu biểu chính là Craig RaineChristopher Reid. Chủ nghĩa Martian (Martianism) còn được sử dụng ngoài lĩnh vực thi ca. Nguồn gốc tên gọi này tới từ một trong những nhà thơ tiên phong Martin Amis.
  4. ^ Bản thân khái niệm "karma" có rất nhiều nghĩa. Ngoài nghĩa chính ở đây là quan hệ nhân quả, việc sử dụng từ "karma" của Radiohead còn bao hàm cả những ý còn lại.
  5. ^ "Fitter, happier" – Thích ứng hơn, vui vẻ hơn – là một cụm chơi chữ vần mà Yorke sử dụng. "Fitter" còn có nghĩa ám chỉ việc máy móc hóa.
  6. ^ Tạm dịch "Kềm chích điện và IMF – Quỹ Tiền tệ Quốc tế".
  7. ^ Tạm dịch "trái tim đầy ứ như những bãi chứa rác".
  8. ^ Thông thường, trong mỗi ấn phẩm nhạc thường có một cuốn "sách" nhỏ, có thể bao gồm những hình ảnh, ảnh chụp, lời bài hát hoặc vài dòng phụ chú liên quan tới album. Những thiết kế này có thể bắt nguồn từ quá trình chuẩn bị, hoặc đơn giản là phần giới thiệu chung cho toàn bộ album. Cuốn "sách" nhỏ đó được gọi là booklet.
  9. ^ Ví dụ, câu hát "in a deep deep sleep of the innocent" trong ca khúc "Airbag" được trình bày thành ">in a deep deep sssleep of tHe inno$ent/completely terrified". Xem thêm tại Footman 2007, tr. 45.
  10. ^ Tạm dịch "Radiohead không làm bất cứ điều gì sai".
  11. ^ Tạm dịch "Mọi thứ chỉ có thể tốt hơn thôi".
  12. ^ Nhân vật trong tác phẩm Macbeth của Shakespeare.
  13. ^ Tạm dịch "Không, mọi thứ chỉ có thể tồi tệ hơn thôi".
  14. ^ Britpop, đạt cực thịnh vào giữa thập niên 1990 và được đi đầu bởi những ban nhạc đình đám như Oasis, BlurPulp, được đặc trưng bởi cách gợi nhớ tới phong cách British rock của những năm 1960 và 1970. Phong cách âm nhạc này chính là chìa khóa cho làn sóng xuất khẩu văn hóa Anh ra thế giới, Cool Britannia. Kể từ năm 1997, hàng loạt sự kiện dẫn tới sự thoái trào của phong cách này; điển hình như việc Blur từ bỏ những âm thanh truyền thống của Britpop trong album Blur hay album Be Here Now của Oasis thất bại trong việc có được sự chú ý từ giới chuyên môn cũng như công chúng. Xem thêm tại Footman 2007, tr. 177–178.
  15. ^ Đặc biệt, nhiều đánh giá đã liệt kê được những nghệ sĩ bị ảnh hưởng lớn từ album như Muse, Snow Patrol, Keane, Travis, Doves, Badly Drawn Boy, Editors hay Elbow. Xem thêm tại:
  16. ^ "Họ đã mang guitar tới một đẳng cấp mới", Hannon nhấn mạnh, "họ tạo nên thứ âm thanh chưa từng có song không hề mất đi cái nhìn về thứ âm thanh tuyệt hảo – thứ đã trở thành thành công ấn tượng."[186]


Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]