Radiohead

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Radiohead
Radiohead.jpg
Từ trái qua phải: Thom Yorke, Jonny Greenwood, Colin Greenwood, Ed O'Brien, Phil Selway
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quán Abingdon, Oxfordshire, Anh
Thể loại Alternative rock, experimental rock, nhạc điện tử, art rock[1][2]
Năm hoạt động 1985–nay
Hãng đĩa XL, Ticker Tape Ltd., Hostess, TBD, Parlophone, Capitol
Hợp tác với Atoms for Peace, 7 Worlds Collide
Website radiohead.com
Thành viên hiện tại
Thom Yorke
Jonny Greenwood
Colin Greenwood
Ed O'Brien
Philip Selway

Radiohead là ban nhạc tới từ Abingdon, Oxfordshire, được thành lập vào năm 1985. Ban nhạc bao gồm các thành viên Thom Yorke (hát chính, guitar, piano), Jonny Greenwood (guitar lead, keyboard cùng nhiều nhạc cụ khác), Colin Greenwood (bass), Phil Selway (trống, định âm, hát nền) và Ed O'Brien (guitar, hát nền).

Radiohead phát hành đĩa đơn đầu tay "Creep" vào năm 1992. Ca khúc trở thành bản hit toàn cầu sau khi được đưa vào album đầu tay Pablo Honey (1993) của nhóm. Họ càng trở nên nổi tiếng ở Anh với album tiếp theo, The Bends (1995). Album phòng thu thứ 3, OK Computer (1997), chính thức đưa ban nhạc nổi tiếng toàn cầu. Với những âm thanh và chủ đề về sự tha hóa của xã hội, OK Computer được coi là một trong những biểu tượng của thập niên 1990[3] và là một trong những album vĩ đại nhất mọi thời đại[4][5][6].

Kid A (2000) và Amnesiac (2001) đánh dấu bước chuyển lớn về phong cách của Radiohead khi hòa trộn nhạc điện tử, krautrockjazz. Hail to the Thief (2003) pha trộn piano và guitar rock, nhạc cụ điện với ca từ lấy cảm hứng từ chiến tranh là album cuối cùng mà ban nhạc cộng tác với hãng EMI. Radiohead cho phát hành album thứ 7 In Rainbows (2007) dưới hình thức tải kỹ thuật số mà ở đó người nghe thoải mái trả giá cho sản phẩm. Tuy nhiên, album vẫn có được thành công vang dội. Album thứ 8 của họ, The King of Limbs (2011), là trải nghiệm về nhịp và các chất liệu mới, và cũng là một sản phẩm tự phát hành của ban nhạc.

Radiohead đã bán được ít nhất 30 triệu đĩa trên toàn cầu[7]. Các sản phẩm của họ được người hâm mộ và giới chuyên môn đưa vào danh sách âm nhạc xuất sắc nhất thập niên 1990 và 2000[8][9]. Năm 2011, Radiohead được tạp chí Paste đánh giá là nghệ sĩ Anh vĩ đại thứ 3 mọi thời đại, chỉ sau The BeatlesThe Rolling Stones[10]. Năm 2005, họ đứng ở vị trí số 73 trong danh sách "100 nghệ sĩ vĩ đại nhất" của tạp chí Rolling Stone; Jonny Greenwood[11] và Ed O'Brien đều có tên trong danh sách "100 nghệ sĩ guitar vĩ đại nhất", còn Thom Yorke đứng thứ 66[12] trong danh sách "100 ca sĩ vĩ đại nhất", cùng của tạp chí trên[13]. Năm 2009, Radiohead về nhì trong cuộc bình chọn bởi độc giả tờ Rolling Stone cho những nghệ sĩ vĩ đại nhất thập niên 2000[14].

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu tiên (1985-1991)[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành viên của Radiohead gặp nhau tại trường trung học Abingdon, một ngôi trường nam sinh ở vùng Abingdon, Oxfordshire[15]. Ca sĩ Thom Yorke và cây bass Colin Greenwood học cùng khóa, trong khi tay guitar Ed O'Brien và tay trống Phil Selway hơn 1 tuổi còn nghệ sĩ đa nhạc cụ Jonny Greenwood thì kém 2 tuổi so với anh trai Colin. Năm 1985, họ lập nên nhóm On a Friday lấy cảm hứng từ việc họ thường xuyên tập vào thứ 6 hàng tuần ở phòng âm nhạc của trường[16]. Jonny Greenwood là người cuối cùng gia nhập nhóm sau khi chia tay ban nhạc Illiterate Hands của Nigel Powell và anh trai của Thom, Andy Yorke[17][18]. Ban nhạc biểu diễn lần đầu vào năm 1986 tại Jericho Tavern, Oxford,[19] và Jonny Greenwood lúc đó chơi harmonica và keyboard, song nhanh chóng trở thành guitar lead[16]. Vào thời điểm đó, ban nhạc còn chơi cả saxophone[20].

Yorke, O'Brien, Selway và Colin Greenwood cùng nhau ra trường vào năm 1987 để theo học đại học, song nhóm On a Friday tiếp tục tập luyện vào các dịp lễ và cuối tuần[21]. Ở trường đại học, Yorke tham gia vào ban nhạc Headless Chickens và chơi những chất liệu sau này tạo nên phong cách của Radiohead[22]. Tới năm 1991, trừ Jonny Greenwood thì toàn bộ On a Friday đều tốt nghiệp đại học, ban nhạc tái hợp và thu bản demo có tên Manic Hedgehog và tiếp tục đi trình diễn ở khu Jericho Tavern. Oxfordshire và khu Thames Valley là nơi phát triển phong cách indie vào cuối những năm 1980 và cũng là nơi tập trung những nhóm shoegazing nổi tiếng như RideSlowdive[23].

Khi On a Friday trình diễn ngày một nhiều hơn, các hãng thu âm bắt đầu để ý tới họ. Chris Hufford, nhà quản lý của Slowdive và sở hữu phòng thu Courtyard Studios ở Oxford, tới nghe một buổi diễn của On a Friday ở Jericho Tavern. Quá ấn tượng, ông cùng đồng nghiệp Bryce Edge liền mang đi sản xuất bản demo và trở thành quản lý của On a Friday[21], và họ vẫn là quản lý của ban nhạc cho tới tận ngày nay. Năm 1991, may mắn đã tới với họ khi A&R của hãng EMI là Keith Wozencroft lại tới cửa hàng mà Colin Greenwood làm việc, mà qua đó On a Friday được EMI chấp nhận thu âm 6 album phòng thu[21]. Đổi lại, theo yêu cầu của EMI, ban nhạc phải đổi tên thành Radiohead, bắt nguồn từ ca khúc "Radio Head" trích từ album True Stories (1986) của Talking Heads[21].

Pablo Honey, The Bends và những thành công đầu tiên (1992-1995)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Pablo HoneyThe Bends

Radiohead thu âm sản phẩm đầu tay là EP Drill cùng Chris Hufford và Bryce Edge tại Courtyard Studios. Album được phát hành vào tháng 5 năm 1992, song không vào nổi bảng xếp hạng. Ban nhạc nhờ tới Paul Kolderie và Sean Slade – những người từng hợp tác với những nhóm indie đình đám ở Mỹ như Pixies hay Dinosaur Jr. – để sản xuất album đầu tay của mình, vốn được thu âm rất nhanh trong tháng 10 năm 1992[16]. Đĩa đơn "Creep" được ra mắt vào cuối năm, và Radiohead có được chút chú ý từ báo chí Anh, nhưng các đánh giá không hoàn toàn tích cực; tờ NME gọi họ là "lời bào chữa yếu đuối cho một ban nhạc rock"[24], trong khi "Creep" bị đưa vào danh sách đen của BBC Radio 2 vì "quá thê lương"[25].

Radiohead cho phát hành album đầu tay Pablo Honey vào tháng 2 năm 1993. Album có được vị trí số 22 tại Anh, và sau "Creep", các đĩa đơn tiếp theo "Anyone Can Play Guitar" và "Stop Whispering" đều không được xếp hạng. "Pop Is Dead", một ca khúc khác, cũng chỉ bán được với doanh thu hạn chế. Nhiều đánh giá so sánh ban nhạc với làn sóng nhạc grunge đang nổi lên ở đầu thập niên 1990, gán cho họ biệt danh "phiên bản lỗi của Nirvana"[26], và Pablo Honey hoàn toàn thất bại trong việc có được đánh giá chuyên môn cũng như doanh số thương mại[24]. Cho dù có vài đánh giá tốt về cách chơi guitar và giọng falsetto của Yorke, Radiohead chỉ đi tour nhỏ tại các trường đại học và hộp đêm[27].

Đầu năm 1993, ban nhạc bắt đầu có được sự chú ý nhiều hơn từ nhiều thính giả. "Creep" được phát ngày một nhiều hơn trên đài phát thanh Israel bởi DJ Yoav Kutner, và tới tháng 3, ca khúc trở thành bản hit ở quốc gia này khiến Radiohead được mời tới trình diễn ở Tel Aviv trong chuyến đi tour lớn đầu tiên trong sự nghiệp của mình[28]. Cùng thời gian đó, đài KITS ở San Francisco cũng chọn "Creep" trong danh sách của mình, và nhiều đài khác của Mỹ cũng làm tương tự. Radiohead đi tour Bắc Mỹ ngay tháng 6 năm 1993, và video âm nhạc của "Creep" thực sự khuấy đảo kênh truyền hình MTV[21]. Ca khúc có được vị trí số 2 tại bảng xếp hạng Modern Rock, vào được top 40 tại bảng xếp hạng Pop rồi quay lại vị trí số 7 tại UK Singles Chart khi EMI cho phát hành đĩa đơn này tại Anh vào tháng 9[29].

Thành công không dự đoán trước của đĩa đơn tại Anh khiến EMI phải thay đổi chiến lược quảng bá, và ban nhạc được quan tâm hơn với hơn 150 buổi diễn trên 4 châu lục suốt năm 1993[27]. Radiohead suýt tan rã do những áp lực từ thành công của Pablo Honey trong năm thứ 2 của tour diễn[30]. Các thành viên cho rằng tour diễn thực sự khó để khiến họ thích nghi, nhấn mạnh rằng họ "vẫn chơi các ca khúc mà họ đã thu âm từ 2 năm trước... nó như kiểu cứ cố gắng níu kéo sợi dây thời gian vậy" trong khi họ đang gặp khó khăn trong việc thực hiện các ca khúc mới[31].

Radiohead bắt đầu dự án album mới vào năm 1994, và họ thuê nhà sản xuất đình đám John Leckie từ Abbey Road Studios. Căng thẳng gia tăng với những đòi hỏi quá cao từ thành công của "Creep"[32]. Radiohead cảm thấy không thoải mái, cho dù đã thu nháp cùng các chất liệu mới[33]. Để thay đổi, họ liền đi tour tại vùng Cận đông, Australasia và Mexico và lấy lại niềm tin sau những buổi diễn trực tiếp[33]. Tuy nhiên, vẫn cảm thấy phiền muộn về thành công bất ngờ của mình, Yorke trở nên ảo tưởng về "cuộc sống tột đỉnh quyến rũ, ngổ ngáo mà ngọt ngào của MTV" mà anh cho rằng mình sẽ bán ra toàn thế giới[34].

EP My Iron Lung được phát hành vào cuối năm 1994, đánh dấu việc Radiohead tập trung vào những chủ đề sâu sắc hơn cho album thứ 2 của họ[35]. Được quảng bá qua vài đài phát thanh, đĩa đơn có được thành công hơn mong đợi, lần đầu tiên chứng tỏ ban nhạc sở hữu một lượng người hâm mộ khá vững chắc dù chỉ với 1 bản hit[36]. Sau khi giới thiệu thêm một số ca khúc khác trong các dịp đi tour, Radiohead tiến hành thu âm vào cuối năm và cho phát hành The Bends vào tháng 3 năm 1995. Album sử dụng nhiều đoạn riff rất chất lượng và tận dụng tối đa đội hình 3 guitar của nhóm, cùng với đó là trình độ keyboard được cải tiến rõ rệt[16]. Album nhận được những đánh giá tốt hơn so với Pablo Honey, cả về mặt sáng tác lẫn trình diễn[24].

Trong khi Radiohead bị coi là kẻ đứng ngoài làn sóng Britpop đang phổ biến rộng khắp, ban nhạc lại có được thành công ngay tại quê hương với The Bends[23] khi các đĩa đơn "Fake Plastic Trees", "High and Dry", "Just" và "Street Spirit (Fade Out)" cùng nhau có được thứ hạng cao tại các bảng xếp hạng, và ca khúc "Street Spirit" còn giúp họ lần đầu xuất hiện trong top 5. Năm 1995, Radiohead đi tour tại Bắc Mỹ và châu Âu với sự hỗ trợ từ nhóm R.E.M., một trong những ban nhạc rock ảnh hưởng nhất và xuất sắc nhất thế giới vào thời điểm đó[31]. Những lời đồn đại được lan truyền giữa những người hâm mộ Michael Stipe, ngoài ra những video âm nhạc đặc biệt của "Just" hay "Street Spirit" cũng giúp Radiohead có chút tiếng tăm bên ngoài nước Anh.

Tuy nhiên, người hâm mộ Radiohead lại không cảm thấy thỏa mãn khi chỉ có ca khúc "Creep" được phát sóng thường xuyên trên đài phát thanh. "High and Dry" cũng có được chút thành công, song The Bends chỉ có được vị trí số 88 tại Anh, và tới nay trở thành album được xếp hạng thấp nhất của ban nhạc[37]. Tuy nhiên, Radiohead vẫn cảm thấy hài lòng với album. Jonny Greenwood nói: "Tôi nghĩ bước ngoặt chính là khoảng 9-10 tháng sau khi The Bends được ra mắt và rồi nó được xuất hiện trong các cuộc bầu chọn cho album của năm. Đó cũng đúng là lúc mà chúng tôi cảm thấy thật sự đúng đắn khi cùng nhau lập nên ban nhạc."[38]

OK Computer, vinh quang và nổi tiếng toàn cầu (1996-1998)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: OK Computer

Cuối năm 1995, Radiohead thu âm hoàn chỉnh ca khúc mới có tên "Lucky", nằm trong album từ thiện The Help Album của tổ chức War Child[39] với sự cộng tác của Nigel Godrich – kỹ thuật viên trẻ tuổi từng làm việc với họ trong đĩa đơn mặt B năm 1996, "Talk Show Host". Ban nhạc quyết định thực hiện album tiếp theo cùng Godrich, và kế hoạch bắt đầu ngay năm 1996. Tới tháng 7, họ đã thu âm được 4 ca khúc tại phòng thu Canned Applause của mình ở vùng quê gần Didcot, Oxfordshire[40].

Tháng 8 năm 1995, ban nhạc là khách mời trong buổi diễn của Alanis Morissette, tranh thủ trình bày những ca khúc mới của mình trước khi thu âm. Khi họ quay lại phòng thu, trái với truyền thống thu âm thông thường, họ dọn tới điền trang từ thế kỷ 15 có tên St Catherine ở gần Bath[41]. Quá trình thu âm diễn ra hoàn toàn thoải mái, và ban nhạc chơi nhạc mọi giờ trong ngày, tập luyện tại nhiều căn phòng khác nhau và cùng nhau nghe The Beatles, DJ Shadow, Ennio MorriconeMiles Davis để tìm cảm hứng[16][38]. Radiohead tiếp mạch từ "Talk Show Host" để viết nên ca khúc mới có tên "Exit Music (For a Film)" phục vụ bộ phim Romeo + Juliet của đạo diễn Baz Luhrmann ra mắt vào cuối năm. Hầu hết các ca khúc của album được hoàn thiện vào dịp cuối năm 1996, và tới tháng 3 năm 1997, toàn bộ album được trộn và chỉnh âm.

Radiohead ra mắt album phòng thu thứ 3, OK Computer, vào tháng 6 năm 1997. Bao gồm nhiều ca khúc rock giàu tính giai điệu, sản phẩm mới này cũng cho thấy ban nhạc dám thử nghiệm nhiều cấu trúc ca khúc mới pha trộn những ảnh hưởng từ ambient, avant gardenhạc điện tử và được tạp chí Rolling Stone gọi đây là album "gây chấn động nghệ thuật nhạc rock"[42]. Radiohead từ chối cho rằng album thuộc thể loại progressive rock, song những đánh giá của thập niên 1990 thường so sánh OK Computer với các sản phẩm của Pink Floyd – ban nhạc thập niên 1970 ảnh hưởng lớn tới cách chơi guitar của Greenwood. Nhiều người cho rằng album có nhiều điểm tương đồng với siêu phẩm The Dark Side of the Moon (1973)[43][44][45], cho dù Yorke nói rằng ca từ của album được lấy cảm hứng từ "tốc độ sống" của thế giới thập niên 1990. Phần ca từ với nhiều nhân vật tượng trưng khác nhau từng được một tờ tạp chí gọi là "dấu chấm hết cho thiên niên kỷ nhạc blues"[46], trái ngược với những ca khúc mang tính cá nhân trong The Bends. OK Computer có được sự công nhận rộng rãi, và Yorke thừa nhận rằng anh "vui mừng vì phản ứng nhận được. Không ai trong số chúng tôi dám nói rằng nó tốt hay dở. Nó thật sự khiến tôi sướng phát điên lên khi mọi người đều hiểu tất cả mọi thứ, mọi chất liệu và âm thanh cũng như âm hưởng mà chúng tôi muốn tạo nên."[47]

OK Computer cũng là album đầu tiên của Radiohead đạt vị trí quán quân tại Anh, mở đầu cho thành công của ban nhạc trên toàn thế giới. Cho dù chỉ có được vị trí số 21 tại Mỹ, album vẫn được nhắc tới rộng rãi tại nhiều nơi ở quốc gia này, giúp ban nhạc giành được những giải Grammy đầu tiên, đặc biệt là Album Alternative của năm và đề cử cho Album của năm[48]. "Paranoid Android", "Karma Police" và "No Surprises" là các đĩa đơn của album, và trong số này "Karma Police" là đĩa đơn thành công nhất trên bình diện quốc tế[29].

Tour diễn vòng quanh thế giới Against Demons được diễn ra ngay sau ngày phát hành của OK Computer. Đạo diễn của video "No Surprise", Grant Gee, đi theo quay phim cho ban nhạc, sau này được biên tập thành bộ phim tài liệu Meeting People Is Easy (1999)[49]. Bộ phim minh họa rõ nét sự thờ ơ của ban nhạc với ngành công nghiệp âm nhạc cũng như báo chí, ngoài ra còn cho thấy những bước tiến vượt bậc của họ kể từ tour diễn đầu tiên vào giữa năm 1997 cho tới giữa năm 1998, tức là chỉ trong vòng trọn vẹn 1 năm[16]. Bộ phim cũng bao gồm nhiều ca khúc được thu âm thử song chỉ được phát hành vào nhiều năm sau đó, như "How to Disappear Completely", "Life in a Glasshouse", "I Will" và "Nude". Meeting People Is Easy tham gia Liên hoan phim Maryland cùng năm, và được công chiếu hạn chế ở vài quốc gia. Cùng khoảng thời gian đó, họ cho phát hành một video tuyển tập có tên 7 Television Commercials và 2 EP có tên Airbag/How Am I Driving?No Surprises/Running from Demons tổng hợp lại tất cả các đĩa đơn mặt B từ OK Computer.

Kid A, Amnesiac và thay đổi âm thanh (1999-2001)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Kid AAmnesiac

Sau tour diễn 1997-1998, Radiohead gần như không hoạt động. Họ chỉ xuất hiện duy nhất tại buổi diễn của tổ chức Ân xã Quốc tế ở Paris[50]. Yorke sau này thừa nhận rằng ban nhạc lúc đó đã suýt tan rã, và bản thân anh phải đối lực với nhiều áp lực[51]. Đầu năm 1999, Radiohead bắt đầu với dự án hậu-OK Computer. Cho dù không có vấn đề gì về thời hạn hoàn thiện với hãng đĩa, song căng thẳng lại ra tăng. Các thành viên có những định hướng khác nhau cho tương lai của ban nhạc, còn Yorke thì chỉ giãi bày nỗi niềm qua blog cá nhân, khiến anh trở nên ngày một trừu tượng và dễ bị xúc động trong hình thức và cách viết nhạc[51]. Radiohead cũng đi theo nhà sản xuất Nigel Godrich tới các phòng thu ở Paris, Copenhagen, Gloucester, và cả phòng thu mới của mình ở Oxford. Cuối cùng, tất cả đều thống nhất rằng ban nhạc cần một hướng đi mới, và tiến tới thay đổi vai trò của từng cá nhân trong nhóm[26]. Sau gần 18 tháng, quá trình thu âm cho album mới hoàn tất vào tháng 4 năm 2000[51].

Album phòng thu thứ 4 của họ, Kid A, được phát hành vào tháng 10 năm 2000 và chỉ là sản phẩm đầu tiên được hoàn thiện từ quãng thời gian thu âm trước đó. Không còn theo phong cách của OK Computer, Kid A bao gồm những chất liệu và phong cách tối giản kết hợp với nhiều nhạc cụ mới như ondes Martenot, nhịp lập trình bởi máy tính, dàn dây và dàn hơi nhạc jazz[51]. Album có được vị trí quán quân tại rất nhiều quốc gia, trong đó có cả Mỹ và trở thành album quán quân Billboard 200 đầu tiên của ban nhạc, đưa họ trở thành nghệ sĩ Anh đầu tiên có được vị trí số 1 tại đây kể từ ban nhạc Spice Girls vào năm 1996[52]. Thành công của album này thực tế được đánh dấu bằng hình thức marketing kiểu mới khi hầu hết album đã bị chia sẻ bất hợp pháp qua Napster vài tháng trước khi phát hành, ngoài ra còn có lượng lớn người ủng hộ từ thành công của OK Computer[53][54][55]. Cho dù Radiohead không cho phát hành bất cứ đĩa đơn nào với Kid A, các đĩa quảng bá "Optimistic" và "Idioteque" vẫn xuất hiện trên sóng phát thanh, và chuỗi 30 giây "blips" – bao gồm những trích đoạn video và giai điệu ngắn các ca khúc – được lên sóng truyền hình và phát tán tự do trên internet[56]. Ban nhạc nghiên cứu cuốn sách No Logo của cây bút chống-chủ-nghĩa-toàn-cầu-hóa Naomi Klein trong thời gian thực hiện album, vậy nên họ quyết định kéo dài tour diễn vòng quanh châu Âu vào mùa hè 2000 cho tới tận cuối năm dưới hình thức dựng lều bạt tự do để quảng bá, ngoài ra họ cũng bán cháy vé 3 buổi diễn tại Bắc Mỹ[56].

Kid A tiếp tục giúp Radiohead nhận Giải Grammy cho Album Alternative của năm, ngoài ra còn được đề cử cho Album của năm ngay đầu năm 2001. Album giành được sự ủng hộ của giới chuyên môn trong việc giúp thính giả tiếp cận với âm nhạc underground. Một vài đánh giá ở Anh cho rằng Kid A là "một sự tự sát thương mại" và "vô cùng khó bán", mặt khác yêu cầu ban nhạc trở lại phong cách trước đây[23][24]. Người hâm mộ của Radiohead bị chia đôi: một phần cảm thấy bối rối và bất ngờ, phần còn lại cho đây là sản phẩm tốt nhất của ban nhạc[34][57]. Tuy nhiên, Yorke từ chối cho rằng Radiohead thờ ơ với bất cứ thành công thương mại nào khi nói: "Tôi thực sự rất rất ấn tượng với việc Kid A được đón nhận tồi tệ thế này... bởi vì âm nhạc của nó đâu quá khó để nắm bắt. Chúng tôi đâu có tự làm khó mình... Chúng tôi chỉ muốn truyền đạt bằng một cách khác, và có vẻ chúng tôi đã làm nhiều người thất vọng... Những gì chúng tôi làm không phải là để như vậy."[23]

Amnesiac được phát hành vào tháng 6 năm 2001, bao gồm các ca khúc còn lại từ quá trình thu âm Kid A. Âm nhạc của Amnesiac vẫn mang phong cách của Kid A khi pha trộn nhạc điện tử với jazz, song có nhiều nét cơ bản hơn khi sử dụng guitar. Album có được thành công vang dội về thương mại và chuyên môn trên toàn thế giới, giành vị trí quán quân tại UK Albums Chart và á quân tại Billboard, tiếp tục được đề cử các giải Grammy và Giải thưởng âm nhạc sao Thủy[24][52]. Sau đó, ban nhạc đi tour tại châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản. Tuy nhiên, "Pyramid Song" và "Knives Out" – những đĩa đơn đầu tiên của Radiohead kể từ năm 1998 – lại có được thành công rất hạn chế, còn "I Might Be Wrong" – ca khúc vốn được chọn làm đĩa đơn thứ 3 – được chuyển vào sản phẩm thu âm trực tiếp sau này: I Might Be Wrong: Live Recordings được phát hành vào tháng 11 năm 2001 bao gồm 7 ca khúc từ Kid AAmnesiac trình bày bằng các nhạc cụ mộc, theo kèm là ca khúc chưa từng được phát hành "True Love Waits".

Hail to the Thief và chia tay EMI (2002-2004)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Hail to the Thief

Trong khoảng tháng 7 và 8 năm 2002, Radiohead đi tour tại Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, trình bày nhiều ca khúc mới. Họ thu âm trong vòng 2 tuần tại Los Angeles cùng Nigel Godrich, sau đó bổ sung thêm vài ca khúc trong thời gian ở Oxford, nơi mà ban nhạc tiếp tục công việc của mình cho tới tận năm sau. Các thành viên của ban nhạc hoàn toàn cảm thấy thoải mái và thư giãn, trái với thời kỳ thu âm Kid AAmnesiac[15]. Album thứ 6 của họ, Hail to the Thief, được phát hành vào tháng 6 năm 2003. Hòa trộn tất cả các âm thanh mà họ từng sử dụng, album lần này sử dụng nhiều hơn guitar với âm thanh điện tử cùng với phần ca từ đặc trưng của Yorke[58]. Hail to the Thief dễ dàng có được thành công về mặt thương mại, giành được vị trí quán quân tại Anh và vị trí số 3 tại Mỹ, theo kèm lần lượt là chứng chỉ Bạch kim và Vàng tại 2 quốc gia trên. Các đĩa đơn "There There", "Go to Sleep" và "2 + 2 = 5" đều được phát sóng rộng khắp trên các đài phát thanh. Tại giải Grammy năm 2003, Radiohead có được đề cử cho Album Alternative của năm, trong khi nhà sản xuất Godrich và kỹ thuật viên Darrell Thorp cũng được đề cử cho Album được biên tập xuất sắc nhất[59].

Yorke từ chối cho rằng tiêu đề Hail to the Thief (tạm dịch: Hoan hô kẻ cắp) hàm ý nói tới cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm 2000 khi tiết lộ rằng anh nghe tới cụm từ này qua đài BBC Radio 4 khi họ bình luận về tình hình chính trị tại Mỹ vào thế kỷ 19[15]. Yorke nhấn mạnh rằng ca từ tập trung khai thác chủ đề chiến tranh trong những năm 2001 và 2002 và "cái cảm giác rằng chúng ta bước vào thời kỳ của sự thiếu vị tha và đầy sợ hãi, nơi mà sức mạnh bày tỏ nền dân chủ và quyền được nghe chính bản thân mình lại đang khước từ chúng ta.""[60] song anh cũng cho rằng "[Radiohead] không thu âm các ca khúc phản chiến, chúng tôi không thực hiện các sản phẩm chính trị."[15] Sau khi phát hành album, Radiohead đi tour vòng quanh thế giới vào tháng 5 năm 2003, trong đó tính cả màn trình diễn khai mạc Liên hoan Glastonbury. Tour diễn kết thúc vào tháng 4 năm 2003 với màn trình diễn tại Liên hoan Coachella. Trong thời gian này, ban nhạc cho phát hành EP COM LAG tổng hợp tất cả các đĩa đơn mặt B của họ tính tới thời điểm đó.

Solo, In Rainbows và dự án "thoải mái trả tiền" (2005-2008)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: In Rainbows
Yorke trên sân khấu cùng Radiohead ở London năm 2006

Sau Hail to the Thief, Radiohead tạm thời gián đoạn để dành thời gian cho gia đình. Yorke cho ra mắt sản phẩm solo đầu tay The Eraser (2006), còn Jonny Greenwood sáng tác phần soundtrack cho các bộ phim Bodysong (2004) và There Will Be Blood (2007).

Radiohead bắt đầu chuẩn bị cho album thứ 7 vào tháng 2 năm 2005. Tới tháng 9, họ thu âm ca khúc "I Want None of This" cho tổ chức War Child trong album từ thiện Help: A Day in the Life. Album được bán trực tuyến, và "I Want None of This" là ca khúc được tải về nhiều nhất cho dù nó không được phát hành dưới dạng đĩa đơn. Ban nhạc lên kế hoạch thu âm album lần này cùng nhà sản xuất mới Spike Stent. Tuy nhiên tới cuối năm 2006, sau khi đi tour châu Âu và Bắc Mỹ với 13 ca khúc mới, Radiohead quay lại cộng tác cùng Nigel Godrich ở London, Oxford và vài địa điểm nhỏ lẻ vùng Somerset. Công việc hoàn tất vào tháng 6 năm 2007 và việc chỉnh âm được hoàn chỉnh ngay trong tháng sau.

Album thứ 7 của nhóm In Rainbows được phát hành thông qua trang web chính thức của ban nhạc vào tháng 10 năm 2007 qua định dạng tải kỹ thuật số mà theo đó, người mua thoải mái trả giá mà họ cho là hợp lý cho từng ca khúc hoặc album, trong đó có việc hoàn toàn miễn phí. Trang web chỉ duy nhất gợi ý "tất cả tùy thuộc vào bạn". 10 ngày sau khi ban nhạc giới thiệu, hình thức phát hành này nhận được nhiều lời đánh giá từ ngành công nghiệp âm nhạc. 1,2 triệu lượt tải về chỉ trong ngày đầu tiên, song quản lý nhóm lại xác định rõ ràng hình thức kinh doanh khi cho rằng internet chỉ là để quảng bá cho sản phẩm chính thức được chỉnh sửa và bày bán sau này. Colin Greenwood giải thích rằng cách phát hành qua internet nhằm tránh đi "danh sách ca khúc cố định" và "định dạng nhàm chán" cho các đài phát thanh hay TV, ngoài ra còn đảm bảo cho người hâm mộ trên toàn thế giới có thể được tiếp cận sản phẩm một cách đồng thời và loại bỏ được việc thiếu ấn bản phát hành chính thức. O'Brien cho rằng việc phát hành qua internet có thể khiến doanh số xuyên giảm nhưng lại đảm bảo gia tăng doanh thu. "Discbox" là chiếc đĩa thứ 2 được ghi trong thời gian thu âm, theo kèm là ấn bản đĩa than và CD với những hình ảnh khác, được bày bán vào cuối năm 2007.

In Rainbows chính thức lên kệ tại Anh vào tháng 12 năm 2007 bởi XL Recordings, và tại Bắc Mỹ vào tháng 1 năm 2008 bởi TBD Records, đạt vị trí quán quân tại cả Anh lẫn Mỹ. Đây chính là album thành công nhất của ban nhạc tại Mỹ, cho dù đã cho tải miễn phí hàng tháng trước đó, bên cạnh Kid A, và là album quán quân tại Anh thứ 5 của họ. In Rainbows nhận được hầu hết những phản hồi tích cực, thậm chí được coi là sản phẩm tốt nhất của ban nhạc. Các đánh giá tôn vinh album đã khám phá nhiều âm thanh mới cũng như ca từ mang tính cá nhân hơi so với các sản phẩm trước. Album nhanh chóng có được đề cử tại Giải thưởng âm nhạc Sao Thủy, rồi được trao Giải Grammy cho Album Alternative của năm vào đầu năm 2009. Đội ngũ sản xuất được giải Grammy cho thiết kế ấn bản Special Limited Edition, trong khi Radiohead lần thứ 3 được đề cử Album của năm. Ngoài 3 đề cử khác cho ban nhạc, đóng góp của Godrich cũng như video âm nhạc của ca khúc "House of Cards" cũng nhận được nhiều đề cử quan trọng.

The King of Limbs, 2 tay trống và sự kiện Toronto (2009-2012)[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: The King of Limbs

Tháng 5 năm 2009, Radiohead tiến hành thu âm album mới cùng Godrich[61]. Tới tháng 8, họ cho ra mắt 2 đĩa đơn thực hiện trong quá trình thu âm là "These Are My Twisted Words"[62] và "Harry Patch (In Memory Of)" để tưởng nhớ Harry Patch – người lính Anh cuối cùng còn sống từ Thế chiến I – và quyên góp ủng hộ Binh đoàn lê dương Anh[63][64].

Tháng 1 năm 2010, ban nhạc chơi một buổi diễn duy nhất ở nhà hát Henry Fonda tại Los Angeles, ủng hộ tổ chức Oxfam. Vé được đem bán đấu giá với số tiền lên tới hàng triệu $ và được dành hết cho các nạn nhân của Động đất Haiti 2010[65]. Ngày 30 tháng 8, Selway phát hành album solo đầu tay Familial. Tháng 10, video do người hâm mộ thực hiện về buổi diễn của Radiohead ở Los Angeles được đưa lên Youtube cũng như torrent với sự hỗ trợ của chính ban nhạc bên cạnh được dẫn "thoải mái trả tiền" nhằm ủng hộ Oxfam[66]. Tháng 9 năm 2010, Radiohead cho phát hành một video khác do người hâm mộ thực hiện ghi lại buổi diễn của họ ở Prague năm 2009[67][68]. 2 video Radiohead for HaitiLive in Praha có được số lượng người xem lớn và được coi là lời mời của ban nhạc tới người hâm mộ, qua đó giúp họ tiến xa hơn tới việc phát hành phi lợi nhuận qua internet[69][70].

Radiohead hoàn tất album phòng thu thứ 8 của mình vào tháng 1 năm 2011[71]. The King of Limbs được giới thiệu đúng ngày Lễ tình nhân rồi sau đó chính thức ra mắt vào ngày 18 tháng 2 qua trang chủ của ban nhạc[72]. Ấn bản CD và đĩa than được phát hành vào tháng 3, và một ấn bản đặc biệt "dạng báo" của album được bày bán vào tháng 5[73]. 300.000 tới 400.000 bản được bán qua trang web của Radiohead[74]; và album có được vị trí số 6 tại Billboard 200 với 69.000 bản trong tuần đầu tiên[75]. Tại Anh, album có được vị trí số 3 tại UK Albums Chart với 33.469 bản trong tuần đầu tiên[76]

Vì những vấn đề thu âm cũng như tính tương quan của các nhạc cụ rock mà ban nhạc gặp phải trong thời kỳ thu âm In Rainbows, Radiohead quyết định cải tiến trong The King of Limbs với việc sử dụng máy thu âm sẵn[74][77]. The King of Limbs nhận được đánh giá tích cực từ hầu hết giới chuyên môn, giành được 80 điểm trên Metacritic với lời bình "đánh giá nhìn chung tích cực"[78]. Album có được 5 đề cử tại giải Grammy lần thứ 54 cho Album Alternative của năm, Thiết kế xuất sắc nhất, Video ca nhạc ngắn xuất sắc nhất (cho ca khúc "Lotus Flower"), Trình diễn Rock xuất sắc nhất ("Lotus Flower") và Bài hát Rock xuất sắc nhất ("Lotus Flower"). 2 ca khúc được thực hiện trong thời kỳ The King of Limbs song không được đưa vào album là "Supercollider" và "The Butcher", sau này được đưa ra mắt nhân dịp Record Store Day ngày 16 tháng 4 năm 2011[79]. Hàng loạt bản remix của King of Limbs thực hiện bởi nhiều nghệ sĩ khác nhau được biên tập thành sản phẩm TKOL RMX 1234567, phát hành vào tháng 9 cùng năm[80].

Clive Deamer trở thành thành viên của Radiohead từ tour The King of Limbs. Ảnh chụp năm 2011

Với phần nhịp vô cùng phức tạp của The King of Limbs, Radiohead tuyển thêm tay trống Clive Deamer từ nhóm Portishead để đi tour và thu âm album From the Basement lần thứ 2, sau này được phát hành vào tháng 12 năm 2011 dưới tên The King of Limbs: Live from the Basement[81]. Buổi thu giúp ban nhạc có đĩa đơn mặt A-kép "The Daily Mail / Staircase", tải trực tuyến từ ngày 12 tháng 12 năm 2011[82]. Deamer tham gia cùng ban nhạc trong vài phần trình diễn. Selway nói về việc sử dụng 2 tay trống: "Điều đó thực sự hấp dẫn. 1 người chơi theo kiểu truyền thống, còn người kia thì chơi như một cái máy. Nó cứ như cơ chế thúc-đẩy vậy, như những đứa trẻ cùng chơi, thực sự rất cuốn hút."[83] Ngày 24 tháng 6, Radiohead bất ngờ xuất hiện tại Liên hoan Glastonbury, lần đầu trình diễn những ca khúc của The King of Limbs trước công chúng[84]. Tới tháng 9, họ chơi 2 buổi tại Roseland Ballroom ở New York[85] và xuất hiện trên truyền hình Mỹ trong chương trình đặc biệt The Colbert Report[86]Saturday Night Live[87]. Tháng 2 năm 2012, Radiohead bắt đầu tour diễn Bắc Mỹ kéo dài của mình bao gồm Mỹ, Canada và Mexico[88].

Ngày 16 tháng 6 năm 2012, chỉ khoảng 1 giờ trước trước khi mở cửa công viên Downsview ở Toronto trong buổi diễn cuối cùng của nhóm tại Bắc Mỹ, phần mái của sân khấu sập khiến kỹ thuật viên trống Scott Johnson thiệt mạng và 3 người khác trong ban kỹ thuật của ban nhạc bị thương nặng. Vụ sập cũng phá hủy phần lớn phần ánh sáng và nhiều thiết bị khác của buổi diễn. Không có thành viên nào của ban nhạc có mặt trên sân khấu lúc đó. Buổi diễn lập tức bị hủy bỏ, và tour diễn của Radiohead ở châu Âu bị hoãn lại[89][90][91][92][93][94]. Sau khi điều chỉnh lại lịch diễn, Radiohead trả tiền tang lễ cho Johnson và khán giả cho buổi diễn ở Nîmes, Pháp vào tháng 7[95]. Yorke sau này nói rằng việc hoàn thiện tour diễn sau đó "là cố gắng lớn nhất tới nay"[96]. Tháng 6 năm 2013, Bộ Lao động của bang Ontario tuyên án Live Nation Canada Inc, Live Nation Ontario Concerts GP Inc, Optex Staging & Services Inc với 13 tội danh theo Luật Chăm sóc sức khỏe và An toàn lao động[97].

Trong tour diễn tại Mỹ vào giữa năm 2012, Radiohead dành 1 ngày để thu âm 2 ca khúc mới cùng cựu thành viên nhóm The White StripesJack White. Tới tháng 4 năm 2013, Yorke tiết lộ rằng phần thu âm là "công việc chưa hoàn thành"[98].

Gián đoạn, solo và dự án album thứ 9 (2013-nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau tour The King of Limbs mà Radiohead có trình bày rất nhiều ca khúc mới[99], ban nhạc lại tới thời kỳ gián đoạn. Tháng 2 năm 2013, Yorke và Godrich cho phát hành album phòng thu Amok cùng ban nhạc của họ Atoms for Peace[100]. Ngày 11 tháng 2 năm 2014, Radiohead cho ra mắt ứng dụng Polyfauna cho iOS và Android mà họ gọi là "hợp tác thử nghiệm" giữa ban nhạc với phòng thu Universal Everything, sử dụng nhiều âm nhạc và cả khoa học viễn tưởng trong The King of Limbs[101]. Ngày 26 tháng 9, Yorke cho ra mắt album thứ 2 có tên Tomorrow's Modern Boxes[102], và ngày 7 tháng 10, Selway phát hành album solo thứ 2, Weatherhouse. Jonny Greenwood sáng tác nhạc cho bộ phim Inherent Vice, ra mắt vào tháng 10 năm 2014. Bản soundtrack này có cả ca khúc mới của Radiohead là "Spooks", trình bày bởi Greenwood và 2 thành viên của nhóm Supergrass[103]. Năm 2015, Yorke tham gia vào phần soundtrack bộ phim Subterranea cho triển lãm The Panic Office của Radiohead ở Sydney, Úc[104].

Vào tháng 2 năm 2015, Selway nói với tạp chí Drowned in Sound rằng Radiohead đã cùng nhau làm việc cho album mới trong khoảng tháng 9 tới Giáng sinh năm 2014, và công việc được khởi động lại vào tháng 3[105]. Cùng khoảng thời gian đó, Greenwood tiết lộ với Pitchfork rằng Radiohead tiếp tục thay đổi phương pháp làm việc khi "làm tới giới hạn" và "đưa cái rất cũ và cái rất mới" cùng nhau[106].

Phong cách[sửa | sửa mã nguồn]

Những nghệ sĩ đầu tiên ảnh hưởng tới Radiohead là Queen, Pink FloydElvis Costello, sau đó là các nghệ sĩ post-punk như Joy Division, Siouxsie and the Banshees và Magazine, cuối cùng là làn sóng alternative rock thập niên 1980 với R.E.M., Pixies, The SmithsSonic Youth[16][21][34][107]. Tới giữa thập niên 1990, Radiohead tiếp nhận phương pháp thu âm từ nhạc hip hop từ DJ Shadow[16]. Họ ngày một cuốn hút hơn với việc tạo âm thanh qua máy tính[108]. Những nghệ sĩ có ảnh hưởng lớn khác còn có Miles DavisEnnio Morricone, những huyền thoại thập niên 1960 như The BeatlesThe Beach Boys, và phương pháp "Wall of Sound" mà Phil Spector sản xuất cho các nhóm nhạc nữ[16][38]. Jonny Greenwood cũng từng nhắc tới Krzysztof Penderecki là một trong những người tạo cảm hứng cho OK Computer[38].

Âm nhạc điện tử của Kid AAmnesiac được Yorke phỏng theo phong cách glitch, ambient technoIDM từ các nghệ sĩ của Warp Records như AutechreAphex Twin với những album mở đầu cho thời kỳ âm nhạc máy tính[26]. Các nghệ sĩ nhạc jazz như Charles Mingus, Alice Coltrane hay Miles Davis, và các nhóm krautrock thập niên 1970 như CanNeu! cũng có ảnh hưởng lớn trong giai đoạn này[109]. Mối quan tâm của Jonny Greenwood tới âm nhạc cổ điển thế kỷ 20 cũng đóng vai trò quan trọng và những ảnh hưởng từ các nhạc sĩ như Penderecki và Olivier Messiaen là vô cùng rõ rệt. Rất nhiều ca khúc của Kid A đã sử dụng ondes Martenot – một trong những nhạc cụ điện tử đầu tiên được phổ biến bởi Messiaen[21]. Với Hail to the Thief, Radiohead quay lại với guitar rock. Kể từ In Rainbows, các thành viên của ban nhạc đã lấy cảm hứng từ rock, nhạc điện tử, hip hop và nhiều nghệ sĩ thể nghiệm như Björk, M.I.A, Liars, ModeselektorSpank Rock[110][111]. Sau khi chia tay hãng đĩa của mình, ban nhạc không còn thường xuyên thực hiện các buổi phỏng vấn, song thường xuyên đăng lên "bảng xếp hạng" các ca khúc ưa thích của họ qua blog Dead Air Space. Năm 2011, Yorke phủ nhận rằng Radiohead đã sẵn sàng để thay đổi phong cách âm nhạc của mình hay chuyển sang "âm nhạc thể nghiệm" khi tiết lộ rằng ban nhạc "thường xuyên đắm chìm trong âm nhạc" và họ đã tạo ảnh hưởng lên rất nhiều nghệ sĩ khác[112].

Kể từ ngày thành lập, âm nhạc và ca từ của Radiohead được định hướng bởi Yorke. Cho dù Yorke chịu trách nhiệm chính trong việc sáng tác ca từ, song việc sáng tác là công việc cộng tác chung, và nhiều bài phỏng vấn ghi lại rằng mỗi thành viên đều có những đóng góp nhất định[51]. Cũng chính vì vậy, tất cả các ca khúc đều ghi sáng tác của "Radiohead". Thời kỳ thu âm Kid A/Amnesiac đánh dấu thay đổi phong cách âm nhạc của Radiohead và cả những thay đổi sâu sắc hơn trong phương thức hoạt động nhóm[51][113]. Khi nhạc rock cơ bản được chuyển sang âm thanh điện tử, các thành viên trở nên linh hoạt hơn và chơi các nhạc cụ theo yêu cầu của từng ca khúc[51]. Trong Kid AAmnesiac, Yorke chơi cả keyboard lẫn bass, trong khi Jonny Greenwood chủ yếu chơi ondes Martenot còn cây bass Colin Greenwood hầu như sử dụng máy tính, O'Brien và Selway khám phá thêm những hiệu ứng của trống điện tử và thao tác bằng tay, trong khi vẫn tiếp tục nghiên cứu những cách phối hợp mới của guitar và trống để tạo ra những âm thanh mới[51]. Bản thu năm 2003 của Hail to the Thief chứng minh định hướng mới của Radiohead khi Yorke khẳng định "khả năng [của anh] trong ban nhạc đã thật sự không còn cân bằng và [anh] buộc phải thay đổi khả năng của các thành viên bằng mọi giá. Nhưng... nó thật sự có lợi hơn, bình đẳng hơn so với trước đây."[114]

Cộng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Radiohead luôn giữ mối quan hệ tốt đẹp với tất cả những cộng tác viên kể từ ngày đầu của sự nghiệp. Nhà sản xuất Nigel Godrich cũng xây dựng được tên tuổi của mình với Radiohead khi thành công cùng ban nhạc kể từ album The Bends, và là người sản xuất cả 6 album sau đó của họ kể từ OK Computer[115]. Ông thường được gọi là "thành viên thứ 6" của ban nhạc, như vai trò của George Martin như "Beatle thứ năm" với The Beatles[115]. Nghệ sĩ đồ họa Stanley Donwood là bạn với Yorke từ thuở sinh viên, và là người thiết kế tất cả phần bìa album của nhóm từ năm 1994[116]. Donwood và Yorke cùng được trao giải Grammy năm 2002 cho phần thiết kế đặc biệt của album Amnesiac như cuốn sách cổ[116]. Dilly Gent là người chịu trách nhiệm chính cho những video âm nhạc của Radiohead kể từ OK Computer, trở thành đạo diễn và chịu trách nhiệm nghệ thuật cho tất cả các dự án[117]. Andi Watson là người phụ trách ánh sáng và chuẩn bị sân khấu, thiết kế tất cả các buổi trình diễn trực tiếp như "khu rừng đèn LED" trong tour diễn In Rainbows[118]. Kỹ thuật viên chính của các buổi trình diễn, Peter Clements (hay "Plank"), cộng tác cùng nhóm kể từ The Bends, đảm bảo phần bố trí nhạc cụ, thiết bị âm thanh tại các buổi thu âm cũng như trình diễn trực tiếp[16].

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên biểu diễn trực tiếp
  • Clive Deamer – trống, bộ gõ, hát phụ (2011–nay)

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu

Danh hiệu và giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Radiohead: Biography”. Rolling Stone. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2009. ...the biggest art-rock act since Pink Floyd... 
  2. ^ “Radiohead - British rock group”. Encyclopedia Britannica. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2015. ...arguably the most accomplished art-rock band of the early 21st century... 
  3. ^ Erlewine, Stephen Thomas. "OK Computer" Allmusic. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2012
  4. ^ The 100 Greatest British Albums of All Time by Q Magazine
  5. ^ “Radiohead's album best of all time - OK?”. Mail Online. Truy cập 3 tháng 11 năm 2015. 
  6. ^ Radiohead's OK Computer named best album of the past 25 years – The Telegraph
  7. ^ Jonathan, Emma. "BBC Worldwide takes exclusive Radiohead performance to the world". BBC. 3 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2011.
  8. ^ “Radiohead gun for Beatles' Revolver”. BBC News. Ngày 3 tháng 9 năm 2000. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2008. 
  9. ^ “Radiohead — In Rainbows Is Overwhelming Critics Choice for Top Album”. Contact Music. Ngày 18 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2009. 
  10. ^ The 50 Best British Artist of All Time – Paste Magazine
  11. ^ “100 Greatest Guitarists: Jonny Greenwood”. Rolling Stone. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2014. 
  12. ^ “100 Greatest Singers: Thom Yorke”. Rolling Stone. Ngày 7 tháng 10 năm 1968. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2014. 
  13. ^ “The Greatest Artists of All Time: 73) Radiohead”. Rolling Stone. Ngày 22 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2008. 
  14. ^ “Green Day Named Top Artists Of The Decade By Rolling Stone Readers”. MTV News. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2014. 
  15. ^ a ă â b McLean, Craig (ngày 14 tháng 7 năm 2003). “Don't worry, be happy”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2007. 
  16. ^ a ă â b c d đ e ê g Randall, Mac (ngày 1 tháng 4 năm 1998). “The Golden Age of Radiohead”. Guitar World. 
  17. ^ Lewis, Luke (ngày 24 tháng 3 năm 2013). “This Is What Radiohead Looked Like In The ’80s”. Buzzfeed. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2013. 
  18. ^ Jones, Lucy (ngày 26 tháng 3 năm 2013). “9 Photos Of Artists Before They Hit The Big Time”. NME. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2013. 
  19. ^ Clarke, Martin (ngày 5 tháng 5 năm 2006). Radiohead: Hysterical and Useless. Plexus. ISBN 0-85965-383-8. 
  20. ^ “On A Friday: Radiohead In The ’80s - Stereogum”. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2015. 
  21. ^ a ă â b c d đ Ross, Alex (ngày 20 tháng 8 năm 2001). “The Searchers”. The New Yorker. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2011. 
  22. ^ “Rare Footage Surfaces of Thom Yorke Performing "High and Dry" With Pre-Radiohead Band”. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015. 
  23. ^ a ă â b Kent, Nick (ngày 1 tháng 6 năm 2001). “Happy now?”. Mojo. 
  24. ^ a ă â b c “Radiohead: The right frequency”. BBC News. Ngày 22 tháng 2 năm 2001. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2007. 
  25. ^ “Creepshow”. Melody Maker. Ngày 19 tháng 12 năm 1992. 
  26. ^ a ă â Smith, Andrew (ngày 1 tháng 10 năm 2000). “Sound and Fury”. The Observer (London). Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2007. 
  27. ^ a ă “Radiohead gigography: 1993”. Green Plastic Radiohead. 
  28. ^ Rubinstein, Harry (ngày 20 tháng 1 năm 2009). “The Radiohead — Israel connection”. israelity.com. 
  29. ^ a ă “Radiohead: Artist Chart History”. Billboard. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2007. 
  30. ^ Richardson, Andy (ngày 9 tháng 12 năm 1995). “Boom! Shake The Gloom!”. NME. 
  31. ^ a ă Harding, Nigel (1995). “Radiohead's Phil Selway”. consumable.com. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2007. 
  32. ^ Black, Johnny (ngày 1 tháng 6 năm 2003). “The Greatest Songs Ever! Fake Plastic Trees”. Blender. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2007. 
  33. ^ a ă Randall, Mac (ngày 12 tháng 9 năm 2000). Exit Music: The Radiohead Story. Delta. tr. 127–134. ISBN 0-385-33393-5. 
  34. ^ a ă â Reynolds, Simon (tháng 6 năm 2001). “Walking on Thin Ice”. The Wire. 
  35. ^ Mallins, Steve (ngày 1 tháng 4 năm 1995). “Scuba Do”. Vox magazine. 
  36. ^ Randall, Mac (ngày 12 tháng 9 năm 2000). Exit Music: The Radiohead Story. Delta. tr. 98–99. ISBN 0-385-33393-5. 
  37. ^ “Radiohead: Biography”. Rolling Stone. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2009. 
  38. ^ a ă â b DiMartino, Dave (ngày 2 tháng 5 năm 1997). “Give Radiohead to Your Computer”. LAUNCH. 
  39. ^ Courtney, Kevin (ngày 17 tháng 5 năm 1997). “Radiohead calling”. The Irish Times. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2007. 
  40. ^ Glover, Adrian (ngày 1 tháng 8 năm 1997). “Radiohead — Getting More Respect”. Circus. 
  41. ^ “The All-Time 100 albums”. Time. Ngày 13 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2007. 
  42. ^ Mark Kemp (ngày 10 tháng 7 năm 1997). “OK Computer | Album Reviews”. Rolling Stone. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011. 
  43. ^ Reising 2005, tr. 208–211
  44. ^ Griffiths 2004, tr. 109
  45. ^ Buckley 2003, tr. 843
  46. ^ “Subterranean Aliens”. Request Magazine. Ngày 1 tháng 9 năm 1997. 
  47. ^ “Renaissance Men”. Select. Tháng 12 năm 1997. 
  48. ^ “Screen Source presents: The 40th Annual Grammy Awards”. Screen Source. amug.com. Ngày 27 tháng 2 năm 1998. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2007. 
  49. ^ Deming, Mark (ngày 20 tháng 11 năm 2007). “Meeting People is Easy (1999)”. The New York Times. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2007. 
  50. ^ “Art for Amnesty”. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2007. 
  51. ^ a ă â b c d đ e Eccleston, Danny (ngày 1 tháng 10 năm 2000). “Radio- head Special Edition”. Q. 
  52. ^ a ă “US Success for Radiohead”. BBC News. Ngày 14 tháng 6 năm 2001. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2007. 
  53. ^ Evangelista, Benny (ngày 12 tháng 10 năm 2000). “CD Soars After Net Release: Radiohead's 'Kid A' premieres in No. 1 slot”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2007. 
  54. ^ Menta, Richard (ngày 28 tháng 10 năm 2000). “Did Napster Take Radiohead's New Album to Number 1?”. MP3 Newswire. 
  55. ^ Oldham, James (ngày 24 tháng 6 năm 2000). “Radiohead — Their Stupendous Return”. NME. 
  56. ^ a ă Zoric, Lauren (ngày 22 tháng 9 năm 2000). “I think I'm meant to be dead”. The Guardian. 
  57. ^ “Kid A by Radiohead”. Metacritic. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2007. 
  58. ^ “Radiohead: Hail to the Thief (2003): Reviews”. Metacritic. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2007. 
  59. ^ “Rock on the Net: 45th Annual Grammy Awards”. rockonthenet.com. Ngày 23 tháng 2 năm 2003. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2007. 
  60. ^ Sutcliffe, Phil (ngày 8 tháng 6 năm 2003). “Radiohead heeds the alarms”. The Los Angeles Times. 
  61. ^ Lindsay, Andrew (ngày 18 tháng 5 năm 2009). “Radiohead begin recording new album”. Stereokill.net. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2009. 
  62. ^ Lindsay, Andrew (ngày 17 tháng 8 năm 2009), "Radiohead officially release 'These Are My Twisted Words'", Stereokill.net. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010
  63. ^ “Harry Patch (In Memory Of)”. Radiohead.com. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2009. 
  64. ^ Harris, John (ngày 6 tháng 8 năm 2009). “Radiohead's farewell to old first world war soldier in song”. The Guardian (UK). Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2009. 
  65. ^ Kramer, Anna (ngày 8 tháng 2 năm 2010). “Musicians for Oxfam: Radiohead, will.i.am, and more”. oxfamamerica.org. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011. 
  66. ^ Roberts, Randall (ngày 28 tháng 12 năm 2010). “Video: View the full Radiohead for Haiti benefit concert online, compiled from fan footage”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2011. 
  67. ^ “Radiohead-Approved, Fan-Shot Concert Movie Released”. Pitchfork.com. Ngày 2 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2010. 
  68. ^ 'Radiohead in Prague' official page”. Ngày 23 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2010. 
  69. ^ Michaels, Sean (ngày 1 tháng 9 năm 2010). “’Radiohead lend their music to fan-made live DVD’”. The Guardian (UK). Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2010. 
  70. ^ “Radiohead help fans 'bootleg' their own gig”. NME. UK. Ngày 3 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2010. 
  71. ^ Greenwood, Colin (ngày 13 tháng 9 năm 2010), "Set Yourself Free", Index on Censorship. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2010
  72. ^ Swash, Rosie (ngày 19 tháng 2 năm 2011). “Radiohead release The King of Limbs”. The Guardian (UK). Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2011. 
  73. ^ Swash, Rosie (ngày 14 tháng 2 năm 2011). "Radiohead to release new album this Saturday". The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011.
  74. ^ a ă 'David Fricke (ngày 26 tháng 4 năm 2012). “Radiohead Reconnect – How the most experimental band in music learned to rock again”. Rolling Stone (115). 
  75. ^ Caulfield, Keith (ngày 6 tháng 4 năm 2011). “Britney Spears Snares Sixth No. 1 on Billboard 200 with 'Femme Fatale'. Billboard (Los Angeles: Prometheus Global Media). Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2011. 
  76. ^ Jones, Alan (ngày 3 tháng 4 năm 2011). “Adele claims album record but loses to Lopez in singles”. Music Week. United Business Media. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2011. 
  77. ^ “Versus Ed O'Brien”. BBC. Ngày 3 tháng 11 năm 2011. 
  78. ^ The King of Limbs Reviews, Ratings, Credits, and More at Metacritic”. Metacritic. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2011. 
  79. ^ “Record Store Day – Exclusive Product”. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011. 
  80. ^ Hyden, Steven (ngày 9 tháng 9 năm 2011). “Radiohead remix album set for release in September”. A.V. Club. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2011. 
  81. ^ “Radiohead: From the Basement – on DVD and BluRay”. Ngày 9 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2011. 
  82. ^ “Radiohead to release new singles The Daily Mail and Staircase”. Metro. Ngày 13 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2013. 
  83. ^ “Phil Selway and the evolution of rock drumming in the digital age”. Mono. Ngày 9 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2014. 
  84. ^ “Radiohead play ‘surprise’ Glastonbury show with sixth member”. NME. Ngày 24 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2015. 
  85. ^ Fusilli, Jim (ngày 29 tháng 9 năm 2011). “Radiohead Rocks Roseland – Speakeasy – WSJ”. The Wall Street Journal. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011. 
  86. ^ Freeman, Hadley (ngày 27 tháng 9 năm 2011). “Radiohead deliver a few surprises on The Colbert Report”. The Guardian. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2014. 
  87. ^ Anderson, Kyle (ngày 27 tháng 9 năm 2011). “Radiohead drop woozy 'Lotus Flower' and 'Staircase' on 'SNL': What did you think?”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2014. 
  88. ^ “Touring 2012 – RADIOHEAD | Dead Air Space”. Radiohead. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2011. 
  89. ^ “Toronto stage collapse kills 1 before scheduled Radiohead concert”. Msnbc. Ngày 16 tháng 6 năm 2012. 
  90. ^ “Radiohead stage collapse 'kills one' in Canada”. BBC News. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2014. 
  91. ^ “Stage in Toronto collapses before sold-out Radiohead concert”. CNN. Ngày 16 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2014. 
  92. ^ “Radiohead 'shattered' by crew member's death”. CBC News. Ngày 17 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2012. 
  93. ^ “Radiohead postpones more shows after stage collapse”. CBC News. Ngày 21 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2012. 
  94. ^ “Radiohead Postpones European Shows”. New York Times (blog). Ngày 21 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2012. 
  95. ^ Rolling Stone (ngày 11 tháng 7 năm 2012). “Radiohead Honor Late Drum Tech at First Show Since Stage Collapse | Music News”. Rolling Stone. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2012. 
  96. ^ “IAmA Atoms For Peace, Thom Yorke & Nigel Godrich AMA”. Reddit. Ngày 18 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2014. 
  97. ^ “Live Nation, engineer charged in Radiohead stage collapse”. CBC News. Ngày 7 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2013. 
  98. ^ “Thom Yorke and Nigel Godrich on Atoms for Peace, the State of Dance Music and What's Next for Radiohead | Music News”. Rolling Stone. Ngày 23 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2013. 
  99. ^ Jauregui, Andres (ngày 6 tháng 2 năm 2012). 'Full Stop,' New Radiohead Song, Performed In Chicago (VIDEO)”. Huffington Post. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2015. 
  100. ^ Petridis, Alexis (ngày 21 tháng 2 năm 2013). “Atoms for Peace: Amok – review”. The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2014. 
  101. ^ Carrie Battan (ngày 11 tháng 2 năm 2014). “Radiohead Release PolyFauna App”. Pitchfork Media. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2014. 
  102. ^ Gordon, Jeremy (ngày 26 tháng 9 năm 2014). “Thom Yorke Announces New Album Tomorrow's Modern Boxes | News”. Pitchfork Media. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2014. 
  103. ^ Michaels, Sean (ngày 7 tháng 10 năm 2014). “Radiohead's Jonny Greenwood hires Supergrass to cover Inherent Vice track”. The Guardian. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2014. 
  104. ^ “Thom Yorke produces new music for Australian exhibition of Radiohead artwork | Music News | triple j”. www.abc.net.au. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2015. 
  105. ^ Langham, Matt (ngày 4 tháng 2 năm 2015). “DiS Meets Radiohead's Philip Selway: "If it means something to some people then that is success". Drowned in Sound. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2015. 
  106. ^ Gordon, Jeremy (ngày 26 tháng 2 năm 2015). “Radiohead's Jonny Greenwood Recording Album in India”. Pitchfork. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2015. 
  107. ^ Klingman, Jeff (ngày 22 tháng 7 năm 2013). “10 Bullet Points from the Thom Yorke Interview on WTF with Marc Maron”. TheLmagazine.com. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013. 
  108. ^ Gillespie, Ian (ngày 17 tháng 8 năm 1997). “It all got very surreal”. London Free Press. 
  109. ^ Zoric, Lauren (ngày 1 tháng 10 năm 2000). “Fitter, Happier, More Productive”. Juice. 
  110. ^ “Radiohead's Secret Influences, from Fleetwood Mac to Thomas Pynchon”. Rolling Stone. Ngày 24 tháng 1 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2008. 
  111. ^ Kent, Nick (ngày 1 tháng 8 năm 2006). “Ghost in the Machine”. Mojo. tr. 74–82. 
  112. ^ “Radiohead: Everything In Its Right Place”. NPR. Ngày 6 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011. 
  113. ^ “Radiohead: Biography”. Rolling Stone. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2011. 
  114. ^ Dalton, Stephen (ngày 1 tháng 4 năm 2004). “Are we having fun yet?”. The Age (Melbourne). Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2007. 
  115. ^ a ă McKinnon, Matthew (ngày 24 tháng 7 năm 2006). “Everything in Its Right Place”. CBC. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2007. 
  116. ^ a ă “Stanley Donwood”. Eyestorm. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2007. 
  117. ^ “Dilly Gent videography”. mvdbase.com. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2007. 
  118. ^ Fischer, Jonathan L. (ngày 14 tháng 3 năm 2011). “Strobe Lights and Blown Speakers: Radiohead's Light Design”. The New York Times. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2012. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]