Phi tần của Đường Thái Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đường Thái Tông Lý Thế Dân

Đường Thái Tông phi tần (唐太宗妃嬪) là tập hợp ghi chép về các phi tần của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, vị Hoàng đế thứ hai của nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc.

Đường Thái Tông Lý Thế Dân khi còn sống có 1 chính thê là Văn Đức Thuận Thánh hoàng hậu Trưởng Tôn thị và khoảng 15 phi tần khác có danh phận.

Phi tần có danh phận[sửa | sửa mã nguồn]

Vi Quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Quý phi Vi thị (貴妃韋氏, 597 - 665), tên thật Vi Khuê (韋珪), biểu tự Trạch (泽), người huyện Đỗ Lăng đất Kinh Triệu, là cháu gái của Bắc Chu Thái phó Vi Hiếu Khoan (韦孝宽), con gái của Vi Viên Thành (韦圆成) và chính thất Dương thị (楊氏). Trong Cựu Đường thưTân Đường thư đều không có truyện của bà, sinh thời hành trạng chỉ được viết qua bia mộ của bà và trong mộ bia của A Sử Na Trung (阿史那忠). Theo đó, Vi thị trước từng hạ giá lấy con trai của con trai Hộ bộ Thượng thư nhà Tùy Lý Tử Hùng (李子雄) là Lý Hiếu Mân (李孝珉), sinh một con gái, do Mân mất sớm nên tái giá làm thiếp của Thái Tông. Năm 624, Vi thị sinh ra con gái tên Lý Mạnh Khương (李孟姜).

Năm 626, Thái Tông đăng cơ, liền phong Vi thị làm Quý phi, Mạnh Khương được phong Lâm Xuyên công chúa (臨川公主), còn con gái riêng của Quý phi với Lý Hiếu Mân được phong làm Định Tương Huyện chúa (定襄县主), giá cấp A Sử Na Trung. Năm 628, Vi Quý phi sinh hạ Kỷ vương Lý Thận (李慎).

Khi Đường Cao Tông Lý Trị lên ngôi, Vi Quý phi được tôn làm Kỷ Quốc thái phi (紀国太妃). Năm 665, Vi Thái phi qua đời ở Hà Nam, được bồi táng cùng Đường Thái Tông ở Chiêu lăng.

Dương Quý phi[sửa | sửa mã nguồn]

Quý phi Dương thị (贵妃杨氏),— vốn là con gái của Dương Huyền Tưởng (杨玄奖), trưởng tử của Dương Tố,— sinh ra Triệu vương Lý Phúc (李福), mộ táng không rõ, về sau được bồi táng ở Chiêu lăng. Cựu Đường thư và Tân Đường thư đều gọi là Dương phi (杨妃), không rõ phong hiệu khi còn sống, vì khi đó Quý phi phong hiệu là của Vi Quý phi, không rõ phong hiệu Quý phi của Dương phi có từ lúc nào. Sau khi Đường Cao Tông Lý Trị lên ngôi, bà được tôn phong làm Triệu Quốc thái phi (赵国太妃).

Dương phi[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ phi Dương thị (次妃杨氏), con gái của Tùy Dạng Đế Dương Quảng, sinh ra Ngô vương Lý Khác (吳王李恪) và Thục Điệu vương Lý Âm (蜀悼王李愔). Đương thời không rõ hành trạng của bà, sinh mẫu là ai. Năm 618, Tùy Dạng Đế bị giết ở Giang Đô, và căn cứ theo năm sinh của Ngô vương Khác (năm 619, tức Vũ Đức năm thứ 2), Dương thị trở thành phi tần của Đường Thái Tông trong thời gian trước đó vài năm.

Năm 626, Đường Thái Tông đăng cơ, Dương thị sau được phong Phi (妃), không rõ danh hiệu, nhưng do khi đó Quý phi Vi Khuê và Hiền phi Yến thị còn đang tại vị nên danh hiệu của bà nhiều khả năng là Thục phi (淑妃) hay Đức phi (德妃), là hàng phi tần chỉ dưới bậc Hoàng hậu trong hậu cung thời Đường. Không rõ hành trạng của Dương phi sau đó thế nào.

Âm phi[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ phi Âm thị (次妃陰氏), người Vũ Uy, Lương Châu, sinh ra Tề vương Lý Hựu (李祐). Bà là cháu nội của khai quốc công thần nhà TùyÂm Thọ (阴寿), con gái Âm Thế Sư (阴世师).

Năm 617, Đường Cao Tổ khởi nghĩa chống nhà Tùy tại Thái Nguyên, Âm Thế Sư trung thành với nhà Tùy, để đáp trả đã sát hại Lý Trí Vân (李智云), con trai thứ năm của Đường Cao Tổ, phá hủy nhiều mộ phần của họ Lý. Sau này nhà họ Âm bị tru sát, chỉ còn lại Âm thị và anh trai là Âm Hoằng Trí (阴弘智). Âm thị được Thái Tông nạp làm thiếp từ trước khi ông lên ngôi, sau được phong Phi (妃), không rõ danh hiệu, nhưng do khi đó Quý phi Vi Khuê và Hiền phi Yến thị còn đang tại vị nên danh hiệu của bà nhiều khả năng là Thục phi (淑妃) hay Đức phi (德妃).

Năm 643, do con trai là Tề vương Hựu mắc tội mưu phản nên bị truất xuống hạng Tần (嬪), không rõ danh hiệu.

Yến Đức phi[sửa | sửa mã nguồn]

Đức phi Yến thị (德妃燕氏, 609 - 671), xuất thân thế tộc họ Yến tại huyện Xương Bình, Trác quận. Cháu nội của U châu Tổng quản nhà TùyYến Vinh (燕荣), con gái Yến Bảo Thọ (燕宝寿) và phu nhân họ Dương (杨氏), anh trai là Ngạc Vận nhị châu thứ sử, Xương Bình Quận công Yến Kính Tự (燕敬嗣). Dương phu nhân xuất thân Hoàng tộc nhà Tùy, là con gái thứ ba của Quan vương Dương Hùng (观王杨雄). Bà được gả cho Thái Tông làm thiếp khi ông còn là Tần vương, phong làm Quý nhân (贵人).

Năm 627, Yến thị được phong Hiền phi (贤妃), sang năm 644 lại được tấn phong Đức phi (德妃). Thời Đường Cao Tông tôn làm Việt Quốc Thái phi (越国太妃). Con là Việt Kính Vương Lý Trinh (越敬王 李貞) và Giang Thương Vương Lý Hiêu (江殤王 李囂).

Yến thị có quan hệ họ hàng với 3 phi tần khác của Thái Tông là Sào Vương phi Dương thị (巢王妃 杨氏), Tiệp dư Dương thị (婕妤杨氏) và Tài nhân Võ Mị (才人武媚), ngoại tổ phụ Dương Đạt (楊達) của Võ Mị là em trai của Quan vương.

Từ Hiền phi[sửa | sửa mã nguồn]

Hiền phi Từ thị (賢妃徐氏, 627 - 650), tên là Từ Huệ (徐惠), người Hồ châu, con gái Từ Hiếu Đức (徐孝德), chị gái của Tứ châu Thứ sử Từ Tế Đam (泗州刺史 徐齐聃) và Từ tiệp dư (徐婕妤) của Đường Cao Tông.

Từ thị là tài nữ nổi danh đương thời, phi tần được sủng ái bậc nhất những năm cuối đời Thái Tông, nhập cung làm Tài nhân (才人) rồi dần phong đến bậc Sung dung (充容). Mất ít lâu sau khi Thái Tông băng hà, được truy tặng Hiền phi (賢妃) và an táng tại Chiêu lăng.

Các phi tần khác[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Chiêu dung Vi thị (昭容韋氏, 607 - 656), tên thật là Ni Tử (尼子), con gái Vi Khuông Bá (韦匡伯), em họ của Quý phi Vi Khuê. Vi thị được Thái Tông nạp làm thiếp từ trước khi ông lên ngôi, sau được phong Chiêu dung (昭容).
  2. Đao nhân Cao thị (刀人高氏, 597 - 626), tiểu tự Huệ Thông (惠通), người Bột Hải, cháu gái của Cao Thành Tịnh (高成并), con gái của Mật Châu, Cao Mật huyện lệnh Cao Thế Đạt (高世达) thời nhà Tùy.
  3. Chiêu nghi Mỗ thị (昭儀 某氏, 601 - 682), không rõ danh tính, an táng tại Chiêu lăng.
  4. Tiệp dư Mỗ thị (婕妤 某氏), không rõ danh tính, an táng tại Chiêu lăng.
  5. Tiệp dư Dương thị (婕妤楊氏), con gái thứ ba của Dương Cung Đạo (楊恭道)[1].
  6. Mỹ nhân Tiêu thị (美人 蕭氏), con gái Tiêu Thước (蕭鑠).
  7. Tài nhân Thôi thị (才人 崔氏), con gái của Thôi Hoành Đạo (崔宏道).
  8. Tài nhân Tiêu thị (才人 蕭氏), con gái Tiêu Khanh (蕭鏗).
  9. Vương thị (王氏), con trai là Tương vương Lý Uẩn (蔣王 李惲).
  10. Tam phẩm Cung nhân Chu thị (三品宮人 周氏).
  11. Ngũ phẩm Cung nhân Mỗ thị (五品宮人 某氏).
  12. Thất phẩm Điển đăng (七品典燈).
  13. Lư Giang Vương thiếp (廬江王妾).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]