Tiémoué Bakayoko

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tiémoué Bakayoko
Bakayoko 2018.jpg
Bakayoko thi đấu cho Chelsea vào năm 2018
Thông tin cá nhân
Ngày sinh 17 tháng 8, 1994 (25 tuổi)[1]
Nơi sinh Paris, Pháp[1]
Chiều cao 1,89 m (6 ft 2 12 in)[1]
Vị trí Tiền vệ trung tâm
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Monaco (mượn từ Chelsea)
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2000–2004 Paris 15ème O.
2004–2006 CA Paris-Charenton
2006–2008 Montrouge FC 92
2008–2013 Rennes
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2012–2014 Rennes B 16 (0)
2013–2014 Rennes 24 (1)
2014–2017 Monaco 63 (3)
2017– Chelsea 29 (2)
2018–2019Milan (mượn) 31 (1)
2019–Monaco (mượn) 0 (0)
Đội tuyển quốc gia
2010 U-16 Pháp 2 (0)
2011 U-17 Pháp 7 (0)
2011 U-18 Pháp 2 (0)
2014 U-20 Pháp 3 (0)
2014–2016 U-21 Pháp 13 (0)
2017– Pháp 1 (0)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 27 tháng 5 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 28 tháng 3 năm 2017

Tiémoué Bakayoko (sinh ngày 17 tháng 8 năm 1994) là cầu thủ bóng đá người Pháp thi đấu ở vị trí tiền vệ trung tâm cho câu lạc bộ Monaco theo hợp đồng cho mượn từ ChelseaĐội tuyển bóng đá quốc gia Pháp.

Anh bắt đầu sự nghiệp thi đấu tại Rennes vào mùa bóng 2013-14 và chuyển đến Monaco vào năm 2014 với phí chuyển nhượng 7 triệu £. Tại Monaco, anh giành được danh hiệu vô địch Ligue 1 trong mùa giải 2016-17 và có tên trong đội hình tiêu biểu UEFA Champions League 2016–17. Mùa hè 2017, anh gia nhập Chelsea với phí chuyển nhượng 40 triệu £.

Bakayoko có trận đấu đầu tiên cho đội tuyển Pháp vào tháng 3 năm 2017.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Bakayoko bắt đầu chơi bóng tại câu lạc bộ Paris 15sème O vào lúc 5 tuổi, sau đó lần lượt là CA Paris Charenton và Montrogue FC 92.[2] Vào năm 14 tuổi, anh bị học viện đào tạo Clairefontaine từ chối.[3]

Rennes[sửa | sửa mã nguồn]

Bakayoko có trận đấu đầu tiên trong sự nghiệp tại Ligue 1 trong cuộc đối đầu với Évian TG ngày 24 tháng 8 năm 2013.[4][5]

Monaco[sửa | sửa mã nguồn]

2014–2015[sửa | sửa mã nguồn]

Bakayoko gia nhập Monaco vào tháng 7 năm 2014 với phí chuyển nhượng 7 triệu £ và bản hợp đồng có thời hạn 5 năm.[6] Ngày 10 tháng 8 năm 2014, anh có trận đấu đầu tiên tại Ligue 1 cho Monaco gặp Lorient nhưng bị thay ra chỉ sau 32 phút thi đấu.[3] Anh bị một chấn thương đùi nghiêm trọng vào tháng 1/2015 khiến anh phải thi đấu 4 tháng.[7]

Sự có mặt của cựu cầu thủ Claude Makélélé tại Monaco với tư cách giám đốc kỹ thuật đã giúp cứu vãn sự nghiệp của Bakayoko nhờ những lời khuyên và hướng dẫn từ đàn anh.[8] Bakayoko học thêm quyền anh, đồng thời điều chỉnh chế độ ăn uống cũng như chuyển nhà để có thể chuyên tâm tập luyện và anh bắt đầu có được vị trí chính thức từ đầu mùa giải 2016-17.[7]

Trong trận đấu lượt về vòng 1/16 UEFA Champions League 2016–17 ngày 15 tháng 3 năm 2017, Bakayoko là người ấn định chiến thắng 3-1 của Monaco trước Manchester City bằng một pha đánh đầu. Bàn thắng này cũng chính thức đưa Monaco vào vòng tứ kết nhờ luật bàn thắng trên sân đối phương với tổng tỉ số 6-6 sau hai lượt trận.[9] Cuối mùa giải, anh được UEFA chọn vào Đội hình tiêu biểu UEFA Champions League 2016–17[10] và vô địch Ligue 1 cùng Monaco.[11]

Trong ba mùa bóng tại Monaco, Bakayoko có tổng cộng 92 lần được ra sân.[2]

Chelsea[sửa | sửa mã nguồn]

Bakayoko thi đấu cho Chelsea năm 2017

Ngày 15 tháng 7 năm 2017, Bakayoko trở thành cầu thủ của Chelsea sau khi vượt qua cuộc kiểm tra y tế với bản hợp đồng có thời hạn 5 năm sau thương vụ chuyển nhượng có giá trị khoảng 40 triệu £, giúp anh trở thành cầu thủ có giá trị chuyển nhượng cao thứ hai trong lịch sử Chelsea vào thời điểm đó.[12]

Anh có trận đấu ra mắt Chelsea vào ngày 20 tháng 8 năm 2017 trong chiến thắng 2-1 trước Tottenham Hotspur tại Premier League.[13] Anh có bàn thắng đầu tiên cho Chelsea trong trận mở màn UEFA Champions League 2017–18 ngày 13 tháng 9 với Qarabag FK, bàn thắng thứ 4 trong chiến thắng 6-0 của Chelsea.[14] Ngày 14 tháng 10, anh có pha lập công đầu tiên tại Premier League trong trận thua 1-2 của Chelsea trước Crystal Palace bằng một pha đánh đầu.[15]

Ngày 25 tháng 11, Bakayoko bị chỉ trích nặng nề bởi các cựu danh thủ Rio FerdinandFrank Lampard sau màn trình diễn kém và sai lầm dẫn đến bàn thua của Chelsea trong trận hòa 1-1 với Liverpool.[16] Sau khi chơi cực tệ trong trận thua West Ham trước đó một tuần, ngày 13 tháng 12, Bakayoko là người ghi bàn mở tỉ số trong chiến thắng 3-1 trước Huddersfield Town.[17] Ngày 31 tháng 1 năm 2018, anh lại mắc sai lầm dẫn đến bàn mở tỉ số của Bournemouth, trong trận đấu mà Chelsea đã để thua sốc 3-0.[18] 5 ngày sau đó, anh bị truất quyền thi đấu ngay trong hiệp 1 trận đấu với Watford, khiến sau đó Chelsea để thua 4-1.[19] Ngày 18 tháng 3, anh có lần đầu tiên trở lại đội hình ra sân của Chelsea sau chiếc thẻ đỏ trong trận đấu với Watford ở trận tứ kết Cúp FA với Leicester City nhưng huấn luyện viên Antonio Conte đã phải rút anh ra sân ngay đầu hiệp hai do lo ngại anh sẽ bị đuổi khỏi sân lần nữa sau khi đã có một thẻ vàng.[20]

Ngày 19 tháng 5 năm 2018, anh có mặt trong đội hình xuất phát của Chelsea trong trận chung kết Cúp FAvới Manchester United. Chelsea đã giành chiến thắng 1-0 và đây cũng là danh hiệu duy nhất trong mùa giải này của The Blues.[21] Trong mùa giải 2017-18, Bakayoko thi đấu tổng cộng 43 trận cho Chelsea, trong đó có 34 lần đá chính.[22]

Đầu mùa giải 2018-19, Bakayoko không nằm trong kế hoạch của tân huấn luyện viên trưởng Chelsea Maurizio Sarri và ông này đã loại Bakayoko ra khỏi danh sách thi đấu trận mở màn Premier League 2018-19 của Chelsea gặp Huddersfield Town.[23]

AC Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 14 tháng 8 năm 2018, đội bóng Ý AC Milan thông báo đã mượn được Bakayoko từ Chelsea với thời hạn một mùa giải kèm theo điều khoản có thể mua đứt anh vào cuối mùa với phí chuyển nhượng 35 triệu .[22][24]

Đầu mùa giải 2018-2019 tại Serie A, Bakayoko là tâm điểm của sự chỉ trích đến từ người hâm mộ bởi màn trình diễn tệ hại của mình. Thậm chí Milan đã có ý định trả anh về Chelsea ngay mùa đông. Tuy nhiên, sự tin tưởng đến từ huấn luyện viên Gennaro Gattuso đã giúp Bakayoko lấy lại tự tin và dần chứng tỏ được khả năng khi anh trở thành trụ cột không thể thiếu của Milan và là một trong những tiền vệ phòng ngự xuất sắc nhất Serie A mùa giải này.

Trở về Monaco (mượn)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 31 tháng 8 năm 2019, Bakayoko đồng ý quay lại câu lạc bộ Monaco theo dạng cho mượn đến hết mùa 2019–20[25], với điều khoản tùy chọn mua đứt với giá 42,5 triệu euro.[26]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 3 năm 2017, Bakayoko được triệu tập vào Đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp dể chuẩn bị cho hai trận đấu với LuxembourgTây Ban Nha để thay Paul Pogba vắng mặt vì chấn thương.[27] Anh có trận đấu đầu tiên cho đội tuyển vào ngày 28 tháng 3 năm 2017 trong trận đấu với Tây Ban Nha, vào sân từ ghế dự bị thay cho Adrien Rabiot.[2][28]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 26 tháng 5 năm 2019[29]
Số trận, bàn thắng theo câu lạc bộ, mùa giải và giải đấu
Câu lạc bộ Mùa giải Vô địch quốc gia Cúp quốc gia[a] Cúp liên đoàn[b] Cúp châu Âu Khác Tổng cộng
Hạng đấu Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn Số trận Số bàn
Rennes 2013–14 Ligue 1 24 1 3 0 1 0 28 1
Monaco 2014–15 Ligue 1 12 0 1 0 2 0 3[c] 0 18 0
2015–16 Ligue 1 19 1 2 1 1 0 1[d] 0 23 2
2016–17 Ligue 1 32 2 1 0 4 0 14[c] 1 51 3
Tổng cộng 63 3 4 1 7 0 18 1 0 0 92 5
Chelsea 2017–18 Premier League 29 2 5 0 4 0 5[c] 1 0 0 43 3
A.C. Milan (mượn) 2018–19 Serie A 31 1 4 0 6[d] 0 1[e] 0 42 1
Monaco (mượn) 2019–20 Ligue 1 0 0 0 0 0 0 0 0
Tổng cộng sự nghiệp 147 7 16 1 12 0 29 2 1 0 205 10

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2017[30]
Số trận và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và từng năm
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Số bàn
Pháp 2017 1 0
Tổng cộng 1 0

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Monaco

Chelsea

Cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Tiemoué Bakayoko - Player Profile - Football”. Eurosport British. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2017. 
  2. ^ a ă â Shilton, Alec (27 tháng 6 năm 2017). “Monaco star Tiemoue Bakayoko 'arrives for medical ahead of £35m Chelsea move'. The Sun. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  3. ^ a ă Doyle, Paul (17 tháng 7 năm 2017). “Tiemoué Bakayoko: a deft midfield monster who could become a superstar at Chelsea”. The Guardian. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2018. 
  4. ^ Pandey, Kaustubh (2 tháng 3 năm 2017). “Scout Report: Tiemoue Bakayoko | Monaco's midfield engine”. Outside of the Boot. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  5. ^ “Evian vs. Rennes - 24 August 2013 - Soccerway”. soccerway.com. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  6. ^ Pandey, Kaustubh (28 tháng 7 năm 2014). “Monaco have completed the signing of highly rated teenage midfielder Tiemoue Bakayoko on a five-year deal from Rennes.”. FourFourTwo. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  7. ^ a ă “Tiemoue Bakayoko: Meet Chelsea's new general who was straightened out by Makelele”. FourFourTwo. 14 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2018. 
  8. ^ “Makelele cứu vãn sự nghiệp của 'Patrick Viera đệ nhị'. VnExpress. 14 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2018. 
  9. ^ Samuel, Martin. “Monaco 3-1 Manchester City (agg 6-6): Guardiola's side crash out”. Mail Online. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  10. ^ “UEFA Champions League Squad of the Season”. UEFA. 5 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2018. 
  11. ^ “Monaco lần đầu vô địch Ligue 1 sau 17 năm”. VnExpress. 18 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2018. 
  12. ^ Thomas, Lyall. “Tiemoue Bakayoko seals £40m Chelsea transfer from Monaco”. Sky Sports. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  13. ^ Spencer, Jonathan. “Bakayoko and Christensen praised by Redknapp after Chelsea beat Spurs”. Mail Online. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  14. ^ “Chelsea thắng 6-0 trận ra quân Champions League”. VNExpress. 13 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2017. 
  15. ^ “Crystal Palace 2-1 Chelsea”. BBC Sport. 14 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  16. ^ 'Kiến tạo' cho Salah ghi bàn, Bakayoko nhận mưa 'gạch đá'. TTVH Online. 26 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  17. ^ “ĐIỂM NHẤN Huddersfield 1-3 Chelsea: Bakayoko, Willian tạo niềm tin. Chelsea không phải dựa vào Morata”. TTVH Online. 13 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  18. ^ “Chelsea fans want Tiemoue Bakayoko sold BEFORE the January window closes after shocking Bournemouth defeat”. Metro News. 13 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2018. 
  19. ^ Banks, Tony (6 tháng 2 năm 2018). “Watford 4 - Chelsea 1: Conte on the brink, Bakayoko red card, Deeney swears at fans”. Daily Express. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2018. 
  20. ^ “Antonio Conte explains Willian and Tiemoue Bakayoko substitutions in FA Cup win over Leicester”. London Evening Standard. 19 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018. 
  21. ^ “Hạ Man Utd, Chelsea đoạt Cup FA mùa 2017-2018”. VnExpress. 20 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018. 
  22. ^ a ă “Chelsea: Tiemoue Bakayoko signs for AC Milan on season-long loan”. BBC Sport. 14 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018. 
  23. ^ “Tiemoue Bakayoko undergoes medical with AC Milan as he looks to end Chelsea nightmare by sealing season-long loan move to Serie A giants”. Daily Mail Online. 13 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018. 
  24. ^ “Bakayoko completes Milan loan move with €35m purchase option”. Goal.com. 14 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018. 
  25. ^ “Tiemoue Bakayoko has joined his former club Monaco on loan for the season.”. chelseafc.com. 31 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  26. ^ “Chelsea's Bakayoko sent back to Monaco on loan with €42.5m option to buy”. Goal. 31 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2019. 
  27. ^ “Pháp triệu tập 'Patrick Viera mới' thế chỗ Pogba”. VnExpress. 19 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2018. 
  28. ^ “France vs. Spain – 28 March 2017”. Soccerway. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2018. 
  29. ^ Tiémoué Bakayoko tại Soccerway. Truy cập 11 August 2019.
  30. ^ “Tiémoué Bakayoko”. National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2019. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]