Đào (thực vật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Đào (cây))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bài này nói về đào như một loại cây, các nghĩa khác xem trang Đào (định hướng).
Đào
Peach flowers.jpg
Hoa đào
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Rosales
Họ (familia) Rosaceae
Phân họ (subfamilia) Prunoideae
Chi (genus) Prunus
Phân chi (subgenus) Amygdalus
Loài (species) P. persica
Danh pháp hai phần
Prunus persica
(L.) Batsch
Món tráng miệng từ quả đào.

Đào (danh pháp khoa học: Prunus persica) là một loài cây được trồng để lấy quả hay hoa. Nó là một loài cây sớm rụng lá, thân gỗ nhỏ, có thể cao tới 5–10 m. Lá của nó có hình mũi mác, dài 7–15 cm và rộng 2–3 cm. Hoa nở vào đầu mùa xuân, trước khi ra lá; hoa đơn hay có đôi, đường kính 2,5–3 cm, màu hồng với 5 cánh hoa. Quả đào cùng với quả của anh đào, mận, là các loại quả hạch.Quả của nó có một hạt giống to được bao bọc trong một lớp vỏ gỗ cứng (gọi là "hột"), cùi thịt màu vàng hay ánh trắng, có mùi vị thơm ngon và lớp vỏ có lông tơ mềm như nhung.

Tên gọi khoa học persica có lẽ có từ niềm tin ban đầu của người châu Âu cho rằng đào có nguồn gốc ở khu vực Ba Tư (Persia), nay là Iran. Sự đồng thuận lớn trong giới các nhà thực vật học ngày nay đã cho rằng nó có nguồn gốc từ Trung Quốc và được đưa vào Ba Tư cũng như khu vực Địa Trung Hải theo con đường tơ lụa vào khoảng thời gian ban đầu của lịch sử nhân loại, có lẽ vào khoảng thiên niên kỷ 2 TCN (Huxley và những người khác, 1992).

Các giống đào trồng được chia thành hai loại là "hột rời" và "hột dính", phụ thuộc vào việc hột có dính với cùi thịt hay không; cả hai loại này đều có cùi thịt trắng hay vàng. Quả đào với cùi thịt trắng thông thường có vị rất ngọt và ít vị chua, trong khi loại có cùi thịt màu vàng thông thường có vị chua kèm theo vị ngọt, mặc dù điều này cũng có sự dao động lớn. Cả hai màu thông thường đều có các vệt đỏ trong lớp thịt của chúng. Loại đào cùi trắng, ít chua là phổ biến nhất tại Trung Quốc, Nhật Bản và các quốc gia châu Á xung quanh, trong khi người châu ÂuBắc Mỹ ưa thích loại có cùi thịt màu vàng và có vị chua hơn.

Đào trơn[sửa | sửa mã nguồn]

Cây du đào vào buổi sáng.

Đào trơn còn gọi là du đào, xuân đào (P. p. var. nucipersica hay P. p var. nectarina) là một nhóm giống cây trồng của đào có lớp vỏ trơn, không lông tơ. Mặc dù về mặt thương mại, đào lông và đào trơn được xem là những loại quả khác nhau và người ta thường nhầm rằng đào trơn là giống lai tạo giữa đào lông và mận nhưng thực tế thì đào trơn thuộc về cùng một loài với đào lông. Nhiều nghiên cứu di truyền chỉ ra rằng đào trơn là kết quả của gien lặn, trong khi ở đào lông là gien trội.[1] Quả đào trơn cũng có thể mọc lên từ cây đào lông, trường hợp này thường do biến dị chồi. Cùi thịt quả đào trơn có thể màu trắng hay vàng, và có thể dính hay không dính với hột. Thường thì đào trơn nhỏ hơn và ngọt hơn đào lông một chút. Việc thiếu lông tơ khiến cho quả đào trơn trông đỏ hơn quả đào lông và điều này cũng có nghĩa là vỏ đào trơn dễ bị thâm hơn đào lông. Lịch sử ra đời của đào trơn không rõ ràng; những ghi chép đầu tiên có đề cập tới nó tại Anh là vào năm 1616, nhưng có lẽ nó đã được trồng sớm hơn thế rất nhiều tại Trung Á và Đông Á.

Đào trong văn hóa châu Á[sửa | sửa mã nguồn]

Đào được biết đến tại Trung Quốc và Nhật Bản không chỉ như là một loại quả phổ biến mà còn gắn liền với nhiều truyện dân gian và tín ngưỡng. Momotaro (Đào Thái Lang), một trong những nhân vật bán lịch sử và cao quý nhất tại Nhật Bản, được sinh ra trong một quả đào khổng lồ trôi theo dòng sông.

Tại Trung Quốc, quả đào được coi là được các vị tiên ăn do các tính chất huyền bí của nó đối với sự trường thọ dành cho những người ăn nó. Ngọc Hoàng, vị thần cai quản thiên đình, có vợ tên là Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu mời các vị tiên ăn những quả đào trường sinh và như thế đã đảm bảo cho sự tồn tại vĩnh cửu của họ. Các vị tiên được Tây Vương Mẫu thết đãi một bữa tiệc sang trọng tại hội bàn đào. Các vị tiên phải chờ đợi 6.000 năm để có được bữa tiệc sang trọng này; cây đào tiên chỉ ra lá sau mỗi một nghìn năm và cần tới 3.000 năm để làm quả chín. Các bức tượng bằng ngà voi họa lại những người tham dự bữa tiệc của Tây Vương Mẫu thông thường có ba quả đào.

Quả đào đóng một vai trò quan trọng trong tín ngưỡng Trung Hoa và là biểu tượng của sự trường thọ. Một ví dụ liên quan đến quả đào là chuyện về Trương Đạo Lăng (张道陵), được nhiều người cho là người đã sáng lập ra Lão giáo. Trương Quả Lão (張果老), một trong số Bát Tiên của người Trung Quốc, thường được họa lại là mang theo quả đào trường sinh. Hoa đào cũng được đánh giá cao trong văn hóa Trung Hoa, tương tự như hoa mai (mơ).

Do hương vị và cảm giác thơm ngon của nó khi mới tiếp xúc nên trong văn hóa Trung Hoa cổ đại thì "đào" còn là một từ mang nghĩa bóng để chỉ những cô dâu mới và nó cũng được dùng trong nhiều nền văn hóa khác một cách tương tự như thế để chỉ những người đàn bà trẻ đẹp (chẳng hạn trong tiếng Anh có từ peachy (dịch nghĩa là mơn mởn đào tơ)).

Nếu như văn hóa Trung Quốc và Nhật Bản chú trọng chủ yếu vào ý nghĩa của quả đào thì văn hóa Việt Nam chú trọng chủ yếu vào ý nghĩa của hoa đào. Đối với văn hóa dân gian Việt Nam, hình ảnh hoa đào được gắn với những cô gái trẻ, mảnh mai, và yếu đuối, thể hiện qua thành ngữ "liễu yếu đào tơ" hoặc lời một bài hát chèo cổ "Đào liễu có một mình. Ấy kìa hai vai em còn gánh nặng mà để nhật trình đường xa."

Hình ảnh hoa đào còn gắn bó với tình yêu và duyên nợ của trai gái nông thôn, xuất hiện trong rất nhiều ca dao dân gian Việt Nam.

Quả đào Sa Pa
"Đôi ta là nợ hay tình,
Là duyên là kiếp, đôi mình kết giao
Em như hoa mận hoa đào
Cái gì là nghĩa tương giao hỡi chàng?"
"Đôi ta như­ thể Đào Nguyên,
Khi vui nư­ớc như­ợc, khi phiền non băng.
Thâu đêm vui vẻ bóng hằng,
Chọn ngày vui tốt sinh hằng x­ướng ca.
Đào hoa lư­u thủy khác là,
Cõi trần đư­ợc mấy m­ươi mà chả chơi.
Giai nhân tài tử ở đời,
Thanh nhàn, lịch sự là ng­ười thần tiên."
"Đêm qua mận mới hỏi đào:
Vườn xuân đã có ai vào hái hoa?
Hoa đào chênh chếch nở ra.
Giơ tay muốn hái, sợ nhà có cây.
Lạ lùng anh mới tới đây.
Thấy hoa liền hái biết cây ai trồng?"
"Gặp đây anh nắm cổ tay
Anh hỏi câu này, nàng nói làm sao?
Cái gì là mận là đào
Cái gì là nghĩa tương giao ở đời"
"Mưa xuân, lác đác vườn đào
Công anh đắp đất, ngăn rào trồng hoa
Ai làm gió táp, mưa sa
Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn."
"Hoa đào héo nhụy anh thương
Anh mong bẻ lá, che sương cho đào."
"Lầm nghe núi cả non Bồng
Dạ cam mà chỉ ngọt bòng, ngon sao
Ra tay bẻ khóa vườn đào
Rẽ mây gạt gió, lọt vào kết duyên "
"Thân thiếp như cánh hoa đào
Đang tươi đang tốt thiếp trao cho chàng
Bây nhờ nhụy rữa hoa tàn
Vườn xuân nó kém sao chàng lại chê"

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoa đào là loài hoa biểu tượng của bang Delaware và quả đào là quả biểu tượng của bang Nam Carolina. Bang Georgia còn gọi là Peach State (Bang của Đào).
  • Mặc dù Cosmo Kramer, một nhân vật trong Seinfeld, ăn quả đào Mackinaw, nhưng không có giống, thứ nào như thế tồn tại.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Oregon State University: peaches and nectarines

Tham khảo và liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]