Linh dương đầu bò

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Linh dương đầu bò
Blue Wildebeest, Ngorongoro.jpg
Linh dương đầu bò ở Ngorongoro Crater
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Artiodactyla
Họ (familia) Bovidae
Phân họ (subfamilia) Alcelaphinae
Chi (genus) Connochaetes
Loài (species) C. taurinus
Danh pháp hai phần
Connochaetes taurinus
(Burchell, 1823)
  C. t. taurinus  C. t. cooksoni  C. t. johnstoni  C. t. albojubatus  C. t. mearnsi
  C. t. taurinus
  C. t. cooksoni
  C. t. johnstoni
  C. t. albojubatus
  C. t. mearnsi
Phân loài

C. t. taurinus
C. t. albojubatus
C. t. cooksoni
C. t. johnstoni

C. t. mearnsi

Linh dương đầu bò (danh pháp khoa học: Connochaetes taurinus) là một loài động vật thuộc họ Trâu bò. Linh dương đầu bò sống chủ yếu tại những khu vực đồng cỏ và thảo nguyên miền Nam và Đông Phi và thường sinh sống thành từng đàn lớn, có khi lên đến hàng ngàn hàng vạn cá thể. Tuổi thọ của Linh dương đầu bò có thể tới hơn hai mươi năm. Loài Linh dương đầu bò có năm phân loài. Con đực luôn chiếm một lãnh thổ riêng và dùng mùi để đánh dấu lãnh thổ. Quần thể lớn nhất là ở Serengeti, nơi có một triệu cá thể. Chúng là con mồi của các loại thú ăn thịt như sư tử, linh cẩu, và cá sấu sông Nin.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương đầu bò là loài thú lớn, chiều cao ở vai có thể đạt 115–145 cm, khối lượng cơ thể chừng 168–274 kg. Chúng có cơ thể khỏe mạnh đầy cơ bắp, mõm lớn và khỏe, chân tương đối thon mảnh giúp chúng di chuyển nhanh và nhẹ nhàng. Linh dương đầu bò có đầu và mặt giống như đầu bò, sừng lại khá giống sừng trâu, trong khi đuôi lại tương tự như là đuôi ngựa. Cặp sừng lớn có hình dạng như cặp dấu ngoặc đơn "()", sừng của những con đực có thể đạt đến 90 cm, trong khi sừng của những con cái thường nhỏ hơn. Những con đực cũng có kích thước lớn hơn với tổng chiều dài cơ thể có khi lên tới 2,5 m.

Phạm vi phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Bầy linh dương đầu bò vượt sông
Đàn linh dương đầu bò với một con ngựa vằn.

Những đàn linh dương đầu bò lớn hàng ngàn con có thể được quan sát thấy tại những khu vực đồng bằng xích đạo Tanzania Serengeti, Zambia. Những đàn nhỏ hơn có thể tìm thấy ở miền Bắc Botswana, Zimbabwe[2], một vài khu vực của Nam Phi. Loài linh dương đầu bò di cư tìm thứ ăn. Đôi khi cuộc hành trình của linh dương đầu bò được gọi là "cuộc di cư vòng tròn" vì chúng di chuyển quanh vùng Serengeti theo mùa mưa để kiếm ăn với quãng đường di chuyển lên tới 800 – 1.600 km.. Trong hành trình này, chúng phải vượt qua dòng sông Mara nơi chúng bị những con cá sấu săn mồi đợi sẵn mới có thể đến được vùng đất thảo nguyên nhiều thức ăn. Loài này có thể chạy với tốc độ 50 mph (80 km/h).

Linh dương đầu bò được tìm thấy trong mở và cây bụi bao phủ thảo nguyên ở phía nam và phía đông châu Phi, phát triển mạnh trong khu vực không quá ẩm ướt hay quá khô cằn. Chúng có thể được tìm thấy ở những nơi khác nhau từ các khu vực với bụi cây dày đặc để mở các vùng đồng bằng ngập lũ rừng. Linh dương đầu bò thích thảo nguyên có bụi cây và đồng cỏ của thảo nguyên phía Nam[3]. Môi trường sinh sống thích của chúng là thảo nguyên, đồng cỏ, rừng mở và rừng cây bụi. Linh dương đầu bòcó thể chịu đựng được các vùng khô hạn, miễn là một nguồn cung cấp nước uống có sẵn. Vì tất cả các linh dương đầu bò cần một đợt uống nhiều nước hàng ngày hoặc hai ngày một lần, chúng cần phải ở cách nguồn nước trong khoảng 15 đến 25 km. Chúng có hàm răng thích hợp với việc gặm cỏ ngắn. Cỏ ngắn của loại này thường chỉ được tìm thấy trên đất kiềm hoặc núi lửa. Linh dương đầu bò là con mồi yêu thích của sư tử, linh cẩu đốm và cá sấu sông Nin. Con non là mồi săn của loài báo săn, báo, và chó hoang.

Thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Linh dương đầu bò chủ yếu ăn cỏ và một vài loài thực vật thảo nguyên.

Sinh sản[sửa | sửa mã nguồn]

Bầy linh dương đầu bò đang ăn cỏ

Tuổi thọ linh dương đầu bò lên đến 20 năm. Linh dương đầu bò thành thục về sinh dục từ 1,5-2,5 năm đối với con cái và 3-4 năm đối với con đực. Con đực chiếm lãnh thổ riêng trong vài tuần hoặc một năm, kích thước lãnh thổ 2,5-4 acre và ranh giới lãnh thổ được đánh dấu bằng các đống phân, chất lỏng tiết từ tuyến trước ổ mắt và cào móng chân trên đất. Khoảng cách bình quân giữa các con đực chiếm lãnh thổ là 100-140 mét và có thể là 900-1600 mét tùy theo nơi ở. Chỉ có con đực có lãnh thổ riêng mới được giao phối với tất cả con cái trong đàn trong lãnh thổ của nó. Tuy đã có nhiều con cái trong đàn như vậy, con đực vẫn tìm cách "tán tỉnh" những con cái đi ngang qua Còn những con đực không có lãnh thổ và con cái thì tụ họp lại với nhau thành những đàn con đực lang thang. Con cái mang thai trong 8-8,5 tháng, mỗi lần sinh một con, thời điểm sinh sản 2-3 tuần trước mùa mưa. Con non có thể đứng dậy và chạy theo mẹ chỉ 15 phút sau khi sinh[4].

Phân loài[sửa | sửa mã nguồn]

Loài linh dương đầu bò có 5 phân loài:[5]

  • Connochaetes taurinus taurinus
  • Connochaetes taurinus albojubatus
  • Connochaetes taurinus cooksoni
  • Connochaetes taurinus johnstoni
  • Connochaetes taurinus mearnsi

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bản mẫu:IUCN2010.2 Database entry includes a brief justification of why this species is of least concern.
  2. ^ Mike Unwin, Southern African Wildlife, Globe Pequot Press, USA (2003) ISBN 10:1 84162 060 2
  3. ^ Kingdon, J., East African Mammals: An Atlas of Evolution in Africa, Volume III, Part C (Bovids), University of Chicago Press; Chicago. (1989)
  4. ^ Brindled gnu, Blue wildebeest
  5. ^ Wilson, Don E.; Reeder, DeeAnn M. biên tập (2005). Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 

Bản mẫu:Sơ khai họ trâu bò