William Butler Yeats

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
William Butler Yeats
Sinh 13 tháng 6, 1865
Sandymount, Dublin, Ireland
Mất 28 tháng 1, 1939
Miền nam nước Pháp
Công việc Nhà thơ
Quốc gia người Ireland

William Butler Yeats (13 tháng 6 năm 1865 - 28 tháng 1 năm 1939) là nhà thơ, nhà soạn kịch người Ireland đoạt giải Nobel Văn học năm 1923. Ông sinh ra giữa thời đại mà Ireland bắt đầu thức dậy một phong trào yêu nước, đỉnh cao là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc 1919-1923. Thời đại này đã mang lại một xung lực cho sáng tác của ông.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

William Butler Yeats sinh ra trong một gia đình nghệ sĩ, bố là họa sĩ chân dung nổi tiếng John Butler Yeats, em trai Jack Butler Yeats cũng là một họa sĩ. Bản thân William Butler Yeats cũng từng học trường nghệ thuật và có ý định sẽ sống bằng nghề hội họa nhưng thơ ca đã xâm chiếm tâm hồn ông ngay từ những thành công đầu tiên. Năm 1868 cả gia đình chuyển đến London, năm 1880 trở về Dublin và năm 1887 quay lại London. Tại đây ông bắt đầu in những bài thơ và kịch đầu tiên trên các báo và tạp chí. Năm 1889 ông xuất bản cuốn sách đầu tiên The Wandering of Oisin and Other Poems (Những cuộc viễn du của Oisin và các bài thơ khác) và bài trường ca The Wandering of Oisin – tác phẩm chính của tập sách này dựa theo mô-típ dân gian của Ireland.

Nữ nghệ sĩ Maud Gonne

Cũng trong thời gian này Yeats gặp gỡ và làm quen với nữ nghệ sĩ Maud Gone – một trong những người của phong trào giải phóng dân tộc Ireland, tham gia tích cực vào phong trào "Phục hưng Ireland". (Mục đích của phong trào này là phục hồi tiếng Gaeilge, tìm hiểu văn hóalịch sử Ireland, sáng tác những tác phẩm dựa trên những truyền thuyết, huyền thoại của Ireland, thành lập nhà hát dân tộc.) Năm 1904 Yeats cùng với một số bạn bè thành lập Nhà hát Abbey và liên tục làm việc tại nhà hát này đến khi chết.

Sau năm 1910, các vở kịch nghệ thuật của Yeats chuyển hướng đột ngột sang viết bằng thơ, phong cách bí ẩn, có nhiều khoảng trống. Những vở kịch sau đó (ông viết cho số ít khán giả chọn lọc) là những thử nghiệm với vũ điệu, âm nhạc và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những vở kịch Noh (能 ) của Nhật Bản. Từ năm 1922 đến năm 1928, Yeats là thượng nghị sĩ của Nhà nước Ireland tự do, tham gia nhiều hoạt động chính trị ở Ireland, sáng tác của ông thời kỳ này mất dần tính lãng mạn và trở nên thâm trầm sâu sắc. Hai tác phẩm đáng chú ý cuối cùng của ông là A Full Moon in March (Rằm tháng Ba, 1935) và Last Poems and Plays (Những bài thơ và những vở kịch cuối cùng, 1940).

Thơ ca của Yeats mang đậm hơi thở, phong cách dân tộc Ireland. Nhiều đề tài, hình tượng trong thơ ông được lấy từ kho tàng thơ ca dân gian kết hợp với khuynh hướng biểu tượng và lãng mạn trữ tình. Tác phẩm của ông giàu hình tượng với những quan sát tinh tế, kết hợp vẻ đẹp bên ngoài với chiều sâu trí tuệ bên trong. Năm 1923 ông được trao giải Nobel vì sự nghiệp sáng tác phản ánh cao độ tinh thần dân tộc trong những tác phẩm điêu luyện. Yeats có ảnh hưởng rất lớn đến thơ ca tiếng Anh trong thế kỉ 20. Tên tuổi của ông đặt ngang hàng với những nhà thơ lớn nhất của thế kỉ 20. Ông mất tại miền nam nước Pháp.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

William Butler Yeats năm 1908
Yeats trò chuyện với một người phụ nữ không rõ danh tính năm 1930
Chân dung Yeats do John Singer Sargent vẽ
  • The Wandering of Oisin and Other Poems (Những cuộc viễn du của Oisin và các bài thơ khác, 1889), thơ
  • John Sherman (1891), tiểu thuyết
  • The Countess Cathleen (Nữ bá tước Cathleen, 1892), kịch thơ
  • To the Rose Upon the Road of Time (Tặng bông hồng trên con đường thời gian, 1893), thơ
  • The Land of Heart's Desire (Xứ sở ham muốn của con tim, 1894), kịch thơ
  • Crossways (Những ngã tư đường, 1889), tập thơ
  • The Rose (Hoa hồng, 1893), tập thơ
  • The Wind Among the Reeds (Gió trong bãi sậy, 1899), thơ
  • Catheleen ni Houlihan (Catheleen con gái Houlihan, 1902), thơ
  • The Hour Glass (Đồng hồ cát, 1903), kịch
  • In the Seven Woods (Trong bảy cánh rừng, 1903), thơ
  • The King's Thereshold (Trước cửa Vua, 1904), kịch thơ
  • The Pot of Broth (Nồi nước sốt, 1904), hài kịch
  • The Shadowy Waters (Bóng nước, 1906), kịch thơ
  • The Green Helmet (Chiếc mũ màu xanh, 1910), thơ
  • Responsibilities (Trách nhiệm, 1914), thơ
  • Easter (Lễ Phục Sinh, 1916), thơ
  • At the Hawk's Well (Bên giếng Diều hâu, 1916), kịch
  • The Dreaming of the Bones (Những giấc mơ của xương, 1919), kịch
  • The Wild's Swans at Coole (Thiên nga ở Coole, 1919), thơ
  • Four Plays for the Dancers (Bốn vở kịch cho vũ nữ, 1921), thơ
  • Michael Robartes and Dancer (Michael Robartes và vũ nữ, 1921), thơ
  • The Player Queen (Hoàng hậu - diễn viên, 1922), kịch
  • A Vision (Bóng hình, 1925; tái bản 1937), tiểu luận
  • The Cat and the Moon (Con mèo và Mặt Trăng, 1926), kịch
  • Seven Poems and One Fragment (Bảy bài thơ và một đoạn, 1927), thơ
  • Parnell's Funeral (Đám tang cho Parnell, 1932, in 1935), thơ
  • The Winding Stair and Other Poems (Cầu thang xoáy ốc và những bài thơ khác, 1933), thơ
  • The King of the Great Clock Tower (Vua của tháp đồng hồ lớn, 1935), kịch
  • A Full Moon in March (Rằm tháng Ba, 1935), thơ
  • The Curse of Cromwell (Lời nguyền Cromwell, 1937), thơ
  • The Death of Cuchulain (Cái chết của Cuchulain, 1939), kịch

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

When You Are Old
 
WHEN you are old and grey and full of sleep,
And nodding by the fire, take down this book,
And slowly read, and dream of the soft look
Your eyes had once, and of their shadows deep;
 
How many loved your moments of glad grace,
And loved your beauty with love false or true,
But one man loved the pilgrim Soul in you,
And loved the sorrows of your changing face;
 
And bending down beside the glowing bars,
Murmur, a little sadly, how Love fled
And paced upon the mountains overhead
And hid his face amid a crowd of stars.
 
The Sorrow Of Love
 
THE brawling of a sparrow in the eaves,
The brilliant moon and all the milky sky,
And all that famous harmony of leaves,
Had blotted out man's image and his cry.
 
A girl arose that had red mournful lips
And seemed the greatness of the world in tears,
Doomed like Odysseus and the labouring ships
And proud as Priam murdered with his peers;
 
Arose, and on the instant clamorous eaves,
A climbing moon upon an empty sky,
And all that lamentation of the leaves,
Could but compose man's image and his cry.
 
The Indian to his love
 
The island dreams under the dawn
And great boughs drop tranquillity;
The peahens dance on a smooth lawn,
A parrot sways upon a tree,
Raging at his own image in the enamelled sea.
 
Here we will moor our lonely ship
And wander ever with woven hands,
Murmuring softly lip to lip,
Along the grass, along the sands,
Murmuring how far away are the unquiet lands:
 
How we alone of mortals are
Hid under quiet boughs apart,
While our love grows an Indian star,
A meteor of the burning heart,
One with the tide that gleams, the wings that gleam and dart,
 
The heavy boughs, the burnished dove
That moans and sighs a hundred days:
How when we die our shades will rove,
When eve has hushed the feathered ways,
With vapoury footsole by the water's drowsy blaze.
 
The heart of the woman
 
O what to me the little room
That was brimmed up with prayer and rest;
He bade me out into the gloom,
And my breast lies upon his breast.
 
O what to me my mother's care,
The house where I was safe and warm;
The shadowy blossom of my hair
Will hide us from the bitter storm.
 
O hiding hair and dewy eyes,
I am no more with life and death,
My heart upon his warm heart lies,
My breath is mixed into his breath.
 
The lover tells of the rose in his heart
 
ALL things uncomely and broken, all things worn out and old,
The cry of a child by the roadway, the creak of a lumbering cart,
The heavy steps of the ploughman, splashing the wintry mould,
Are wronging your image that blossoms a rose in the deeps of my heart.
 
The wrong of unshapely things is a wrong too great to be told;
I hunger to build them anew and sit on a green knoll apart,
With the earth and the sky and the water, re-made, like a casket of gold
For my dreams of your image that blossoms a rose in the deeps of my heart.
Khi em đã già[1]
 
Khi em đã già, mái tóc điểm bạc
Một mình em bên bếp lửa, cúi đầu
Em mở cuốn sách này, hãy đọc thật lâu
Có bóng xưa toả ra từ ánh mắt.
 
Biết bao kẻ yêu vẻ vui tươi phút chốc
Yêu vẻ đẹp của em, giả dối hoặc chân thành
Nhưng chỉ một người yêu tâm hồn hành hương của em
Và yêu nét buồn đổi thay trên gương mặt.
 
Em cúi xuống, giọng thì thào, khoan nhặt
Đượm vẻ buồn sao tình vội qua mau
Tình vút bay lên tận đỉnh núi cao
Giữa đám đông các vì sao giấu mặt.
 
Nỗi buồn của tình yêu
 
Dưới mái hiên chim sẻ kêu ríu rít
Ánh trăng thanh và cả dải ngân hà
Và tiếng lá đang hoà âm xào xạc
Át tiếng khóc than nhân thế mờ xa.
 
Nàng thiếu nữ bờ môi hồng ảm đạm
Tựa hồ như đau đớn cả trần gian
Nàng giống như Odyssey bi thảm
Như vua Priam trước cái chết hiên ngang.
 
Và trỗi dậy, tiếng chim kêu ríu rít
Và giữa bầu trời buồn bã ánh trăng
Và tất cả tiếng lá cây xào xạc
Hòa nhập vào tiếng khóc của trần gian.
 
Ấn Độ dành cho tình yêu
 
Một hòn đảo mơ màng dưới bình minh
Những cành cây êm đềm trong tĩnh lặng
Chim công múa trên bãi cỏ mịn màng
Chú vẹt đung đưa nhảy nhót trên cành
Ngó chằm chặp bóng mình trong nước biển.
 
Ở nơi này con tàu ta cập bến
Và ta lang thang tay nắm trong tay
Môi kề môi trong êm ái thì thào
Trên cỏ hoa và trên bờ cát trắng
Rằng cõi muộn phiền ở chốn xa xôi.
 
Ta bên nhau, xa cách với cuộc đời
Ta giấu mình trong cỏ hoa êm ả
Tình cháy lên bằng ngôi sao ấn Độ
Ngôi sao băng như lửa của con tim
Như sóng vỗ bờ, như cánh của chim.
 
Bồ câu trắng vờn bay trong rừng rậm
Một trăm ngày thở than và ai oán:
Khi ta chết đi bóng ta vẫn nơi này
Khi những con đường của chim đứt quãng
Bóng vẫn mơ màng trên sóng nước, trên mây.
 
Con tim phụ nữ
 
Căn phòng nhỏ có để làm gì đâu
Và nguyện cầu, nghỉ ngơi trong tĩnh lặng
Chàng dẫn tôi đi về miền u ám
Chúng tôi nằm ngực sát ngực bên nhau.
 
Tôi đâu có cần gì mẹ lo âu
Ngôi nhà đây, nơi này tôi sưởi ấm
Bóng đen của mái tóc tôi dày rậm
Giấu hai người khỏi những nỗi buồn đau.
 
Giấu trong mái tóc và đôi mắt khát khao
Tôi chẳng cần cuộc đời hay cái chết
Con tim chàng và tim tôi hoà nhập
Chúng tôi hít vào hơi thở của nhau.
 
Người yêu kể về bông hồng nở trong tim
 
Tất cả những gì buồn bã trên đời: nghèo nàn, già cũ
Tiếng kẽo kẹt bánh xe, tiếng trẻ khóc bên đường
Vẻ mệt mỏi của thợ cày, tia nước lạnh mùa đông
Làm sai hình ảnh của em, bông hồng trong tim anh đang nở.
 
Thật đã lắm nỗi buồn, anh muốn xây lại nó
Trên ngọn đồi cô đơn sẽ trải một màu xanh
Để Đất và Trời sẽ biến thành một cái tráp vàng
Đựng giấc mơ về em, bông hồng trong tim anh đang nở.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đây là bài thơ viết về người yêu, ngưòi đẹp, nữ nghệ sĩ Maud Gonne. Bài thơ mang sự ảnh hưởng rất chi tiết một bài sonnet nổi tiếng của Pierre de Ronsard (1524-1585) “Quand vous serez bien vieille, au soir à la chandelle…”(Khi mà em đã về gặp tuổi già…)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]