Chủ nghĩa đế quốc Trung Hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lãnh thổ Trung Quốc thời Đường, năm 669.

Chủ nghĩa đế quốc Trung Hoa là thuật ngữ chính trị dùng để mô tả và chỉ trích các đặc điểm nổi bật của nền chính trị Trung Quốc trong lịch sử. Các đặc điểm đó là chủ nghĩa đế quốc của người Trung Quốc, thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau, phức tạp và xuyên suốt lịch sử. Không thể hiểu được chủ nghĩa đế quốc Trung Hoa theo cách định nghĩa về chủ nghĩa đế quốc thông thường[1] của các nước tư bản phương Tây hay trường phái Marxist. Chủ nghĩa đế quốc Trung Hoa là một trường hợp đặc biệt của phương Đông. Mở rộng kiên trì qua hàng ngàn năm theo cách "tằm ăn dâu", trở thành dân tộc tính và bản chất nền chính trị; nhấn mạnh yếu tố văn hóa như nội lực hơn bất kỳ dân tộc nào khác, mang quan niệm bất kỳ dân tộc nào chấp nhận văn hóa Hán thì được gọi là Trung Quốc; lãnh thổ mở rộng trên lục địa một cách tiếp giáp chứ không rời rạc như các đế quốc hàng hải Châu Âu; đồng thời vừa chiếm hữu một cách trực tiếp qua sáp nhập vừa ảnh hưởng một cách gián tiếp qua hệ thống chư hầu.[1]

Do người Trung Quốc phần đông phủ nhận tư tưởng bành trướng của nước này, thuật ngữ này xuất phát từ bên ngoài Trung Quốc, thông thường được sử dụng bởi truyền thông của nhiều nước được xem là thù địch với Trung Quốc.[2] Nhìn nhận và đánh giá về chủ nghĩa đế quốc Trung Quốc thường gây ra các tranh cãi. Cơ sở phân tích đặc điểm chủ nghĩa đế quốc Trung Hoa trước hết thông qua các chính sách đối ngoại của Trung Quốc theo các thời kỳ lịch sử. Đồng thời, phân tích đặc điểm chủ yếu của chủ nghĩa đế quốc Trung Hoa qua quá trình mở rộng lãnh thổ không ngừng trong suốt 5.000 năm lịch sử của nước này, ban đầu từ một vùng lãnh thổ nhỏ của lưu vực Hoàng Hà để tạo nên đất nước có lãnh thổ rộng lớn như ngày nay.

Khái quát lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trong lịch sử, Trung Hoa được coi là một thế lực ham chiến trận và muốn bành trướng lãnh thổ của họ, thể hiện qua các hoạt động quân sự và các chính sách ngoại giao, là một nỗi lo ngại đáng kể của các nước lân cận.

Kể từ khi lập ra Nhà Chu đến Nhà Tần, lãnh thổ Trung Hoa dần mở rộng: nước Yên mở rộng về phía Bắc, nước Tần mở rộng về phía Tây, nước Sở đã mở rộng lãnh thổ về phía nam khi tiến hành xâm chiếm các vùng Bách Việt dần dần.

Triều đại đầu tiên là Nhà Tần thống nhất Trung Quốc từ việc đánh tan và hợp nhất 6 quốc gia khác của thời Chiến Quốc cũng như các lãnh thổ sinh sống bởi những dân tộc không nói tiếng Trung chẳng hạng như các bộ tộc Bách Việt (ngoại trừ người Âu Việt và Lạc Việt). Từ vùng thung lũng sông Hoàng Hà, cùng với sự mở rộng lãnh thổ Trung Hoa, nền văn minh Trung Hoa đã lan ra khắp các hướng, đặc biệt là về phía Nam. Trong lịch sử Trung Quốc, lãnh thổ của quốc gia này mở rộng hay thu hẹp là phụ thuộc sức mạnh của triều đại đương thời. Đỉnh cao là thời Nhà Đường, khi lãnh thổ Trung Quốc phía Nam kéo tới nơi ngày nay là miền Bắc Việt Nam, phía Bắc lên tới tận miền Bắc Triều Tiên, phía Tây lan tới vùng Trung Á; và Nhà Thanh khi lãnh thổ trải dài tới tận Trung Á, Tây Tạng và tới tận đảo Sakhalin ở đông bắc.

Các tư tưởng nền tảng[sửa | sửa mã nguồn]

Xem bài chi tiết: Chủ nghĩa dĩ Hoa vi trung,Tư tưởng Tứ di, Hoa Di phân biệt, Nho gia, Pháp gia

  • Trung Quốc là trung tâm:[3] bản thân từ "Trung Quốc" đã cho thấy sự tự cao của người Trung Hoa rằng xứ sở họ là trung tâm của thế giới loài người.[4]
  • Thiên mệnh: hoàng đế Trung Quốc được gọi là Thiên tử, thể hiện quan niệm thần thánh về nguồn gốc cao quý, là con của Trời, thay mặt Trời nắm lấy vai trò thiêng liêng trị vì Thiên hạ, mọi người và mọi vùng đất đều phải quy phục.[3]
  • Tự cho mình có sứ mệnh khai hóa các dân tộc thấp kém hơn nhưng đồng thời tồn tại sự khinh miệt với họ qua Tư tưởng Tứ diHoa Di phân biệt.[5]

Chính những tư tưởng nền tảng đã có từ thời cổ đại này đã chi phối quan niệm và điều chỉnh hành vi của các triều đại Trung Quốc xuyên suốt lịch sử. Gốc rễ của những quan niệm cơ bản đó dẫn đến tình cảm khinh thường các dân tộc xung quanh, tự cho mình quyền thống trị và các dân tộc xung quanh phải phục tùng. Vì vậy thường dẫn đến hành động bạo lực là các cuộc chinh phụcsáp nhập lãnh thổ xung quanh.[3]

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ nghĩa đế quốc Trung Quốc tập trung trên các khía cạnh chính:

Xâm chiếm lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Về xâm chiếm lãnh thổ, chủ nghĩa đế quốc Trung Quốc được mô tả bằng các khái niệm cụ thể hơn là "chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc", "chủ nghĩa bành trướng Đại Hán", "chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh". Tâm điểm của việc bành trướng là mở rộng lãnh thổ của các triều đại. Với đặc điểm là một nền văn minh lúa nước, hầu hết dân số sống định cư, đời sống chủ yếu là canh tác lúa nước, đất đai là rất quan trọng đối với nền kinh tế-xã hội Trung Quốc qua hàng ngàn năm. Thước đo quyền lực của chế độ phong kiến là tước vị và đất đai. Đất đai càng rộng lớn nghĩa là tước vị càng cao càng thể hiện quyền lực lớn. Đất đai rộng lớn đồng nghĩa sở hữu lượng nông dân đông đảo, góp phần vào uy thế và sức mạnh về nhân lực và của cải của một lãnh chúa. Hoàng đế Trung Quốc sở hữu đất đai, phong cấp cho hoàng tộc và các gia đình tướng lĩnh thân thuộc. Khi dân số Trung Quốc gia tăng họ di cư bởi nhu cầu đất nông nghiệp. Đất đai gắn liền với sở hữu dân cư, gắn liền với của cải và khả năng quyền lực vì vậy luôn là mục đích tranh giành, chiếm đoạt của các vua Trung Quốc. Khi chính quyền thống nhất hình thành, việc bành trướng lãnh thổ sẽ được đẩy sang các nước láng giềng. Sau các cuộc chinh phạt, Trung Quốc đặt ra các tỉnh thành những nước vừa chiếm được.

Trung Quốc chưa bao giờ ngừng việc xâm chiếm trong 3.000 năm qua, tính từ đầu nhà Chu, họ đã mở rộng không ngừng ra khỏi vùng Hoàng Hà ban đầu. Đến thời Hán, chủ quyền Trung Quốc trung ương đã chiếm đến miền bắc Việt Nam ở phía nam sau khi tiêu diệt quốc gia cát cứ Nam Việt (năm 111 TCN).

Cả một vùng rộng lớn, chủ yếu là Đồng bằng lưu vực sông Hoàng Hà, Đồng bằng lưu vực sông Trường Giang, và khu vực Hoa Nam là ổn định trong hầu hết thời gian. Đó là vùng trung tâm chính yếu của văn minh Trung Hoa, hay còn gọi là Trung Quốc bản thổ, rộng khoảng 4.000.000 km2.

Trong các giai đoạn sau đó, Trung Quốc chiếm thêm các vùng xa hơn. Đến nay, họ đã tích hợp 5 khu vực lớn:

  • Vân Nam: rộng khoảng 394.000 km2,[6] vùng này vốn là nước Đại Lý (937 - 1253) của người Bạch, bị Mông Cổ tiêu diệt và tích hợp vào Trung Quốc dưới thời Nhà Nguyên, đến thời Nhà Minh, năm 1382, quân Minh xâm lược[7] và giữ chủ quyền tới nay.
  • Tân Cương: rộng khoảng 1,6 triệu km2,[8] bị chinh phạt và đưa vào chủ quyền Trung Quốc vào thế kỷ VII,[note 1] dưới thời Nhà Đường, Nhà Tống và Nhà Minh tạm thời mất chủ quyền nhưng Nhà Nguyên và Nhà Thanh đã[9] tái lập sự kiểm soát. Trong đó, Nhà Thanh tái chiếm năm 1759, đến 1884 thì hợp nhất tất cả các lãnh thổ rời rạc của toàn vùng Tân Cương.
  • Tây Tạng: rộng khoảng 1,2 triệu km2, bị Mông Cổ chinh phục và nằm dưới quyền lực Nhà Nguyên,[10][11] gián đoạn độc lập vào Nhà Minh nhưng bị tái chiếm bởi Mãn Thanh dưới thời vua Càn Long. Tuyên bố độc lập dưới thời Trung Hoa Dân Quốc nhưng Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa đã cho quân tái chiếm vào năm 1959.
  • Nội Mông Cổ: là một vùng rộng lớn, khoảng 1,2 triệu km2,[6] nằm bên ngoài Vạn Lý Trường Thành, đến thời Minh họ chỉ áp đặt được hệ thống triều cống nhưng từ đầu Nhà Thanh, thập niên 20 thế kỷ XVII,[note 2] cho đến nay vùng này nằm trong sự quản lý chặt chẽ hơn của các chính quyền Trung Quốc.
  • Nội Mãn Châu: là một phần của triều đại Mãn Thanh, sau khi Nhà Thanh sụp đổ khu vực này tạm thời trong vòng tranh chấp giữa NgaNhật, người Nhật đã lập nhà nước Mãn Châu Quốc tìm cách phân tách ra khỏi Trung Quốc nhưng thất bại trong chiến tranh khiến chính quyền Mãn Châu Quốc bị giải thể và khu vực này bị chiếm lại dưới chính quyền Trung Hoa Dân Quốc.

Quan niệm dân tộc cực đoan[sửa | sửa mã nguồn]

Về tình cảm và tư tưởng dân tộc, chủ nghĩa đế quốc Trung Hoa được mô tả bằng khái niệm cụ thể là "Chủ nghĩa Đại Hán", hay "Tư tưởng Đại Hán", một tình cảm dân tộc chủ nghĩa cực đoan và tự cao của người Trung Quốc. Đây là một trong những đặc điểm lớn của chủ nghĩa đế quốc Trung Quốc. Trong khi chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc thường dùng mô tả và chỉ trích hành vi cụ thể của việc xâm chiếm lãnh thổ, chủ nghĩa Đại Hán là tình cảm dân tộc để hun đúc cho hành động đó.

Đồng hóa các dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Về đồng hóa các dân tộc, chủ nghĩa đế quốc Trung Quốc được mô tả bằng khái niệm cụ thể là Hán hóa. Yếu tố đặc sắc của Văn hóa Hán cùng với sự tiến bộ của nó trong tương quan so sánh với các nền văn hóa xung quanh là ưu thế của nền Văn minh Trung Hoa khi họ mở rộng ra bên ngoài. Đồng hóa văn hóa và đồng hóa nhân chủng theo nhiều cách bao gồm cưỡng ép là tác nhân quan trọng xuyên suốt lịch sử tạo nên lợi thế cho đế quốc Trung Hoa. Chúng là chất keo gắn chặt từng mảng chinh phạt vào hệ thống Trung Quốc. Nhờ vào Hán hóa, Đế quốc Trung Hoa được gắn kết, ít khả năng tan vỡ.

Hiệu quả nổi bật nhất là việc trải qua gần 1 thế kỷ dưới ách Mông Cổ, và gần 3 thế kỷ dưới ách Mãn Châu, Trung Quốc của Hán tộc vẫn phục hồi chủ quyền. Họ đồng hóa chính dân tộc đã chinh phạt họ và chiếm dụng, sở hữu đất đai cũng như các dân tộc đó trong đường biên giới Trung Quốc cho đến ngày nay.

Quá trình Hán hóa diễn ra chặt chẽ với việc hủy hoại và xóa dấu vết các nền văn hóa bản địa, chỉ có văn hóa Hán là duy nhất và sẽ lấp vào thay thế. Các dân tộc phải chấp nhận Hán hóa hoặc bị tiêu diệt.

Bá quyền nước lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Về khía cạnh bá quyền, chủ nghĩa đế quốc Trung Quốc được mô tả bằng khái niệm cụ thể là "Chủ nghĩa Đại Trung Hoa", "Tư tưởng Đại Trung Hoa", hay chỉ đơn giản là tư tưởng nước lớn của Trung Quốc. Khi việc bành trướng để chiếm và xác lập tỉnh thành không thể hay chưa thể, các triều đại Trung Quốc duy trì một hệ thống quyền lực lỏng lẻo vây xung quanh mình. Khác với việc lãnh thổ Trung Quốc nằm trực tiếp dưới quyền lực Hoàng đế Trung Quốc, có một lớp quốc gia xung quanh thuộc mức quyền lực yếu hơn, không trực tiếp nhưng vẫn nằm trong hệ thống của Thiên triều Trung Hoa.[12] Các nước ngoại biên Trung Hoa phải thể hiện sự thần phục của mình.[4][13] Những nước này được gọi là nước chư hầu, hay nước nhánh (chi lưu).

  • Nhận sắc phong: Các vua chư hầu xung quanh phải gửi thái tử (người sẽ thừa kế ngai vàng) đến hoàng cung của hoàng đế Trung Hoa làm con tin. Ở đó họ được các nho sư Trung Hoa dạy dỗ. Khi nào quốc vương nước chư hầu mất, vị thái tử sẽ được phép trở về để lên ngai vàng. Đây là cách họ tạo nên các nhà cầm quyền trung thành. Một số nước chư hầu khác thì phải đưa thái tử của mình đến chầu hoàng đế Trung Hoa để nhận sắc phong tước vị, rồi mới quay về. Thường là tước "Vương", trong một số trường hợp họ bị định tội, họ chỉ nhận được tước "Công". Một ví dụ là các vì vua Nhà Mạc trong lịch sử Việt Nam.
  • Triều cống: theo lệ vài năm một lần, các nước chư hầu phải có 1 chuyến triều cống đến triều đình Trung Quốc. Hàng cống phẩm thường là vàng, bạc, lụa là, ngọc trai,...thợ thủ công, thậm chí mỹ nữ để dâng lên hoàng đế Trung Hoa, thể hiện sự thần phục của mình. Mỗi nước chư hầu đều có hạn định và quy cách triều cống không giống nhau. Và điều này cũng thay đổi qua các thời kỳ của các triều đại Trung Quốc khác nhau.

Bất cứ triều đình của quốc gia châu Á nào từ chối các điều này, đồng nghĩa bất kính với hoàng đế Trung Hoa. Biện pháp trừng phạt thường là chiến tranh.[4][14]

Yêu sách lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Xung đột với các nước láng giềng[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm:

Tân Cương/Đông Turkestan[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng này vốn từng là lãnh thổ của các dân tộc du mục, trong đó đông đảo là người Duy Ngô Nhĩ theo Hồi giáo và nói tiếng Duy Ngô Nhĩ vốn gần với các ngôn ngữ Thổ. Từ thời Nhà Đường, Trung Quốc đã đánh chiếm vùng này, song sau đó phải từ bỏ và vùng này dần trở thành vùng đất bị Hồi giáo hóa và Thổ hóa. Các nhà nước Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ đã hoạt động độc lập cho tới khi Nhà Thanh bành trướng trở lại. Kể từ đó, đã có rất nhiều cuộc chiến tranh, nổi dậy và bạo lực dân tộc ở vùng này hòng tách khỏi Trung Quốc, song tất cả đều chỉ có độc lập một thời gian ngắn trước khi bị tái chiếm.

Người Duy Ngô Nhĩ đến nay luôn lo sợ việc mình trở thành thiểu số ngay tại quê nhà bởi các chính sách bài người Duy Ngô Nhĩ của Trung Quốc.

Kazakhstan[sửa | sửa mã nguồn]

Vẫn còn những tranh chấp và bất đồng tại khu vực sông Sarychildy, các đèo Chagan-Obo và Baimurza. Ngoài ra Trung Quốc còn muốn sử dụng thêm nguồn nước sông Irtysh cho công nghiệp và nông nghiệp ở tỉnh Tân Cương của Trung Quốc có thể sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường và kinh tế của Kazakhstan.

Liên Xô/Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm:

Mối quan hệ giữa hai nước đã được giàn xếp ổn thỏa năm 2004. Trung Quốc ngày nay cũng không còn đòi chủ quyền lãnh thổ Ngoại Mãn Châu thuộc vùng Siberia của Nga nữa.

Tây Tạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Tạng vốn là vùng độc lập, rồi từng thuộc Trung Hoa vào thời Nhà NguyênNhà Thanh, rồi độc lập trong thời gian ngắn sau khi Nhà Thanh sụp đổ. Năm 1949, Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền trên các lãnh thổ thuộc về Nhà Thanh trước đây và không công nhận Tây Tạng là nước độc lập, và đem quân sáp nhập lãnh thổ này vào Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau 1 cuộc chiến ngắn ngày. Năm 1959, người Tây Tạng tiến hành cuộc nổi dậy đòi độc lập, song bị đàn áp đẫm máu, dẫn đến việc Tenzin Gyatso phải rời bỏ quê hương chạy sang Ấn Độ, tạo ra hiềm khích Ấn-Trung sau này.

Người Trung Quốc đã chiếm Tây Tạng năm 1950, tiến hành "Hán hóa" bằng cách di dân Hán từ nơi khác tới. Hiện nay, Tây Tạng được thế giới công nhận là lãnh thổ thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Xem thêm: Tenzin Gyatso

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Triều Tiên có một lịch sử lâu dài đối đầu, kháng cự và chấp nhận làm chư hầu của Trung Quốc, do đó quan hệ Trung-Triều thường rất nhạy cảm và hay nổ ra xung đột giữa hai quốc gia. Cao Câu Ly đã từng chiến đấu chống lại sự bành trướng của Trung Quốc, trong khi đó Cao Ly và Joseon cũng thường hay có lịch sự đương đầu với người Trung Quốc và các triều đại sau này của Trung Hoa. Vì thế, người Triều Tiên/Hàn Quốc thường rất ác cảm với Trung Quốc do tham vọng xâm lấn của nước này vào Triều Tiên. Năm 1950 khi Chiến tranh Triều Tiên nổ ra, Hàn Quốc (biết tới là Nam Triều Tiên) đã kháng cự quyết liệt chống quân Bắc Triều Tiên cho tới khi Trung Quốc cử viện binh, dẫn đến việc chia cắt hai miền. Hành động này đã để lại vết nhơ trong quan hệ Trung-Triều, và ở Hàn Quốc vẫn tồn tại quan điểm rằng chính Trung Quốc là chủ mưu chia rẽ hai miền Triều Tiên.

Vương quốc Cao Câu Ly của người Triều Tiên hiện nay phần lớn nằm ở phía Trung Quốc. Đã có những tranh chấp gay gắt giữa hai nước khi các nhà làm phim Hàn Quốc dựng bộ phim Truyền thuyết Jumong, người Trung Quốc cho rằng Hàn Quốc cố tình viết lại lịch sử, trong khi người Hàn Quốc cho rằng lãnh thổ đó phải thuộc về mình và người Triều Tiên đã bị đồng hóa thành người gốc Hán.

Bên cạnh đó, ở Hàn Quốc, người dân cũng đang phẫn nộ về việc Trung Quốc kiểm soát một phần ngọn núi được coi là linh thiêng trong thần thoại của người Triều Tiên. Được gọi là núi Paektu theo Hàn Quốc và Changbai theo phía Trung Quốc, ngọn núi đứng giữa biên giới Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên.

[note 3]

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam từng bị Trung Quốc đô hộ trong 10 thế kỷ (Từ thế kỷ II TCN đến năm 905), là nước luôn bị Trung Quốc nhòm ngó trong suốt thời kỳ phong kiến. Trong tất cả các triều đại/chính phủ của Trung Quốc từng kiểm soát lãnh thổ giáp ranh với Việt Nam (Tần, Hán, Ngô, Đường, Tống,,Minh, Trung Hoa Dân Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), triều đại/chính phủ nào cũng đưa quân sang Việt Nam với ý định thôn tính lãnh thổ hoặc ít nhất là kiểm soát chính quyền. Các cuộc kháng chiến chống Trung Quốc được xem là một trong những chủ đề chính của lịch sử Việt Nam. Gần đây nhất là trận chiến tại Hoàng Sa (1974), tại Đá Gạc Ma (1988) và chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 do quân đội Trung Quốc tấn công nhằm làm khó khăn cho Việt Nam trong chiến dịch tiêu diệt Khmer Đỏ nhưng đã bị quân và dân Việt Nam chặn đứng ngay từ lúc xuất binh. Do vậy mục tiêu mà Trung Quốc đề ra là có thể tấn công vào Hà Nội để đoạt chính quyền của Việt Nam mà lúc đó đang thân Liên Xô - chống Trung Quốc đã phải hủy bỏ. Trung Quốc chỉ chiếm được 4 thị xã là Lào Cai, Cam Đường, Cao Bằng, Lạng Sơn, còn Lai Châu và Hà Giang thì chỉ bị phá hủy và 17 huyện là Đinh Lập, Lộc Bình, Cao Lộc, Tràng Định, Văn Lãng của Lạng Sơn, Thông Nông, Hà Quảng, Hòa An, Thạch An, Trùng Khánh, Trà Lĩnh, Hạ Lang, Quảng Hòa của Cao Bằng, Vị Xuyên, Yên Minh của Hà Giang, Sìn Hồ, Phong Thổ của Lai Châu.

Myanmar[sửa | sửa mã nguồn]

Là một trong số những quốc gia giáp biên giới Trung Quốc, nhiều năm lịch sử qua, Myanmar, cũng như Việt Nam, phải đối mặt với nguy cơ xâm lược từ Trung Quốc bất chấp sự gần gũi về nguồn gốc và ngôn ngữ giữa hai nước. Một số triều đại Trung Quốc như Nhà Nguyên, Nhà MinhNhà Thanh đã nhiều lần đưa quân bành trướng vào phía Nam. Trong những năm về sau, Trung Quốc đã ráo riết ủng hộ các lực lượng thiểu số ly khai chống lại chính phủ Miến Điện và đã tài trợ rất nhiều tiền và vũ khí. Song song đó, Trung Quốc cũng lợi dụng bạo lực sắc tộc ở Myanmar để ủng hộ chính phủ quân sự Myanmar (1988-2011), để mưu cầu tham vọng mở rộng tầm ảnh hưởng tại khu vực Đông Nam Á. Nhiều hoạt động đầu tư của Trung Quốc cũng liên quan tới điều này.

Đài Loan[sửa | sửa mã nguồn]

Đài Loan đã luôn sống trong căng thẳng với Trung Quốc bất chấp lịch sử tương đồng, do Trung Quốc không coi Đài Loan là một quốc gia và chỉ là một tỉnh tự trị. Trong nhiều năm, Trung Quốc luôn nuôi mộng xâm chiếm Đài Loan bằng vũ lực quân sự nếu Đài Loan từ chối yêu sách Một Trung Hoa của Bắc Kinh.

Trong thời kỳ mới[sửa | sửa mã nguồn]

Sau tiến hành đổi mới những năm 1970, Trung Quốc dần dần trở thành một trong những cường quốc lớn trên thế giới. Tính tới 2010, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Với sức mạnh của tiềm lực kinh tế, tư tưởng mở rộng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc đã và đang trỗi dậy mạnh mẽ. Một mặt, Trung Quốc vẫn duy trì chính sách ngoại giao mềm dẻo (củ cà rốt), một mặt sử dụng sức mạnh quân sự để gây sức ép với các nước khác, đặc biệt là các nước láng giềng trong các vụ tranh chấp lãnh thổ và tầm ảnh hưởng.

Trung Quốc đã và đang thiết lập quan hệ ngoại giao chặt chẽ với các quốc gia khác, xây dựng quan hệ đối tác với Mỹ và EU. Với các cường quốc, Trung Quốc tận dụng các mối quan hệ, tránh đụng độ, tuân thủ nguyên tắc ngoại giao đặt ra 40 năm trước của Đặng Tiểu Bình, đó là "giấu mặt". Mặt khác, khi quan hệ với những nước nhỏ đó, Trung Quốc dễ dàng đưa lực lượng các tập đoàn kinh tế hùng hậu của mình sang thâu tóm nền kinh tế còn yếu kém của các nước đó, ví dụ với Lào, Campuchia, Miến Điện hay Việt Nam.

Gần đây là quan hệ với khu vực châu Phi nhiều tài nguyên. Chính ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc đã làm các nước phương Tây lo sợ lẫn sự nghi kị của người dân các nước châu Phi đó.

Hiện nay Trung Quốc muốn mở rộng ảnh hưởng xuống phương Nam, tại các nước Miến Điện, Việt Nam, Lào, Camuchia bằng những phương pháp từ lộ liễu đến tinh vi, từ hợp tác kinh tế, viện trợ kinh tế - tài chính - giáo dục - văn hóa, đẩy mạnh thương mại một chiều, làm đường sá, khai thác khoáng sản, năng lượng, cấy dân cư, đề xướng cư dân lân bang đi lại không hộ chiếu, cho đến thủ đoạn then chốt là mua chuộc nhóm lãnh đạo chính trị của các nước này.[15]

Campuchia[sửa | sửa mã nguồn]

Campuchia là một quốc gia giáp biên giới với Việt Nam, phần lãnh thổ phía nam của Việt Nam trước kia là Đế chế Khmer. Tuy nhiên, sau nhiều năm nội chiến, đất nước suy yếu và Campuchia mất dần lãnh thổ vào tay các Chúa Nguyễn, triều đình Nhà Nguyễn qua các đợt di dân của người Việt. Vì thế, người Campuchia luôn có mâu thuẫn với Việt Nam, nhiều người Campuchia sẵn sàng gây chiến tranh để đòi lại vùng đất mà họ cho rằng lẽ ra phải thuộc về họ.[16]

Về Campuchia, Trung Quốc định dùng quốc gia này gây náo loạn vùng biên giới Tây Nam Việt Nam. Thời kì 1979-1989, chế độ Khmer Đỏ dưới sự ủng hộ của chính quyền Trung Quốc đã tạo nên nhiều cuộc chiến tranh man rợ và dã man nhằm vào nhân dân Việt Nam. Sau đó, Trung Quốc tiếp tục dụ dỗ những người Việt gốc Hoa di dân khỏi Việt Nam (vấn đề "Nạn kiều" theo cách gọi của họ), gây náo loạn cho khu vực biên giới phía Bắc. Ngày nay, người dân Campuchia vẫn không hoàn toàn thích sự có mặt của người Việt Nam trên đất nước họ, và đây là vấn đề mà nhà nước Trung Quốc tiếp tục khai thác triệt để, như quốc vương thân Trung Quốc Norodom Sihanouk-một nhân vật có thiên hướng chống Việt Nam [cần dẫn nguồn], mặc dù hiện nay chính phủ của ông Hun Sen là chính phủ thân Việt Nam. [cần dẫn nguồn]

Pakistan[sửa | sửa mã nguồn]

Pakistan là một quốc gia Hồi giáo, được tách ra từ Ấn Độ. Quốc gia này có khá nhiều mâu thuẫn với Ấn Độ như: Ấn Độ giúp Bangladesh tách khỏi Pakistan, vấn đề tranh chấp vùng Kashmir, xung đột tôn giáo giữa đạo Hinduđạo Hồi. Lợi dụng những tranh chấp này, Trung Quốc đã thiết lập quan hệ ngoại giao khá gần gũi với Pakistan, và nhờ đó Pakistan gây rất nhiều khó khăn cho Ấn Độ. Trong những năm gần đây sự hợp tác này còn sâu đậm hơn thậm chí Trung Quốc còn ký vài hiệp ước bảo vệ với Pakistan [cần dẫn nguồn]. Trung Quốc là một nguồn cung cấp chính thức các thiết bị quân sự cho Pakistan và đã hợp tác với Pakistan trong việc sản xuất những vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại.

Trong những năm trở lại đây, việc Trung Quốc chính thức bắt đầu Hành lang kinh tế Pakistan - Trung Quốc, đã làm gia tăng mối quan ngại từ Ấn Độ do nó đi qua vùng tranh chấp Kashmir.

Trước sự trỗi dậy của Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu tìm hướng gây ảnh hưởng đối đầu với Ấn Độ.

Bán đảo Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên hiện nay là một trong những quốc gia nghèo ở vùng Đông Á, bên cạnh các quốc gia giàu mạnh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan. Nhà nước này đang được sự hậu thuẫn rất nhiều từ phía đồng minh Trung Quốc. Trước đây, với sự giúp đỡ của Trung Quốc, Triều Tiên đã có cuộc chiến tranh với Hàn Quốc (1950-1953), nhằm thống nhất lãnh thổ, nhưng dưới sự can thiệp của Hoa Kỳ và các đồng minh, Triều Tiên đã không thành công.

Hiện nay, vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên là nỗi lo lớn của các nước tại khu vực Đông Á, đã có nhiều cuộc đàm phán nhằm tìm giải pháp cho vấn đề này nhưng cũng chưa giải quyết trọn vẹn. Thông qua việc ngầm ủng hộ Triều Tiên, Trung Quốc đã gián tiếp đe dọa an ninh của Nhật Bản, quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 3 trên thế giới. Điều đó đã buộc Nhật Bản nâng Cục Phòng vệ thành Bộ Quốc phòng nhằm cân bằng lực lượng.

Trong khi đó, Hàn Quốc đã trải qua mối quan hệ căng thẳng với Trung Quốc trong nhiều năm, nhưng ngay cả khi Hàn Quốc và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ vào năm 1992, hai nước vẫn có nhiều căng thẳng. Việc Hàn Quốc đặt căn cứ Quân đội Hoa Kỳ để đương đầu với Bắc Triều Tiên đã là một vấn đề nhức nhối trong ngoại giao Trung-Hàn. Năm 2017, khi Hàn Quốc triển khai THAAD, Trung Quốc đã phát động một chiến dịch tẩy chay có chủ ý nhằm gây tổn hại Hàn Quốc, cũng như công khai chủ nghĩa dân tộc cực đoan bài Hàn, gây căng thẳng ngoại giao giữa hai quốc gia. Việc Trung Quốc tham chiến chống Hàn Quốc trước đây cũng để lại quan hệ xấu giữa hai quốc gia.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Bắc Kinh đã đưa Giàn khoan 981 vào vùng biển Việt Nam vào năm 2014, mối quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh đã cho thấy sự lệ thuộc giữa cựu thuộc địa và mẫu quốc, và các căng thẳng tranh chấp về chủ quyền biển đảo. Những bất ổn ngoại giao giữa hai nước cũng như việc hai chế độ chia sẻ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, càng làm phức tạp vấn đề giữa hai quốc gia.

Myanmar[sửa | sửa mã nguồn]

Vấn đề người Rohingya thiểu số thường được chính phủ Trung Quốc trong những năm qua lợi dụng để mua chuộc quyền lợi của giới lãnh đạo Myanmar, đặc biệt là nhà hoạt động dân chủ Aung San Suu Kyi, người đang bị chỉ trích gay gắt về vấn đề nhân quyền và bạo lực sắc tộc, cũng như việc chính phủ Myanmar, vốn 25% vẫn bị kiểm soát bởi giới quân sự, châm ngòi tư tưởng dân tộc Phật giáo cực đoan ở Myanmar.

Nhiều người lo ngại việc chính phủ Myanmar vốn đang càng ngày càng bị dân tộc cực đoan hóa, tiếp tục con đường đối đầu với người thiểu số chiếm tới 40% nước này, có thể là cái cớ cho Trung Quốc để mở ngòi nổ mâu thuẫn lâu năm giữa các sắc tộc thiểu số ở Myanmar, do Trung Quốc vẫn luôn tài trợ và ủng hộ các nhóm sắc tộc ly khai ở nước này.

Afghanistan[sửa | sửa mã nguồn]

Do Pakistan, một đồng minh lâu năm của Trung Quốc, đã ủng hộ TalibanAfghanistan và được Trung Quốc ngấm ngầm hậu thuẫn, một lượng lớn người Afghanistan đã nghi ngờ Trung Quốc âm mưu tìm cách nhúng tay vào bất ổn ở Afghanistan, gây ra một làn sóng lo sợ về chủ nghĩa bá quyền Trung Hoa với chính phủ Kabul.

Ahmed Shah Masoud, người anh hùng dân tộc Afghanistan, đã ngấm ngầm chỉ đích danh Trung Quốc là nhà tài trợ cho Taliban, chỉ sau Pakistan và Ả Rập Xê Út.

Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Người Trung Quốc di cư vào Mông Cổ với số lượng lớn trở lại đây đang khiến người bản địa nghi ngờ rằng Trung Quốc định đồng hóa Mông Cổ.

Nepal[sửa | sửa mã nguồn]

Nepal vốn là quốc gia kẹp giữa hai nước Trung Quốc và Ấn Độ từ 1950, do hệ quả của việc sáp nhập Tây Tạng bởi Trung Quốc năm 1950. Trong những năm qua, việc các chính phủ Nepal dần dần rơi vào tay các nhóm ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Maoist thân Trung Quốc trong khi các chính phủ Ấn Độ ngày càng trở nên cực hữu theo thời gian, đã khiến Trung Quốc tìm cách lợi dụng những mâu thuẫn ngoại giao và lãnh thổ giữa Ấn Độ và Nepal, đặc biệt là vấn đề người Madhesh vốn thân Ấn Độ. Việc Ấn Độ phân bố một lực lượng quân sự khổng lồ ở biên giới với Trung Quốc so với việc Trung Quốc có quá ít sự hiện diện quân sự ở Tây Tạng giáp Ấn Độ buộc Trung Quốc phải sử dụng Nepal, một quốc gia trung lập, để đối phó và quấy nhiễu Ấn Độ. Các hoạt động của Trung Quốc trong nhiều năm qua ở Nepal, dù hạn chế, song đã gia tăng trong những năm trở lại đây, cộng với việc nhiều người Nepal vốn nghi kỵ Ấn Độ, càng ngày càng trở nên thân Trung Quốc, gây ra vô cùng nhiều trắc trở. Cùng lúc đó, Nepal cũng giúp Trung Quốc càn quét và trấn áp các nhóm đòi ly khai Tây Tạng lưu vong ở Nepal, gây nỗi sợ về việc Nepal rơi vào tay Trung Quốc trong tương lai.

Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Lan vốn nổi tiếng là có truyền thống quan hệ ngoại giao thân cận với Trung Quốc trong quá khứ, và điều này đã được các lãnh đạo Trung Quốc sử dụng triệt để. Các triều đại Trung Quốc trong lịch sử thường ủng hộ Xiêm La chống lại Miến Điện, đối thủ khó ưa của cả hai nước, trong khi cùng lúc đó cũng bênh vực các hoạt động quân sự của Xiêm La chống Lào và Campuchia.

Hiện nay, với việc người Thái gốc Hoa chiếm tới hơn 40% dân số nước này và cũng là cộng đồng người Hoa lớn nhất thế giới, Thái Lan được xem như là "ổ ngoại giao" của Trung Quốc trong khu vực. Trung Quốc thường sử dung Thái Lan, bất chấp Thái Lan là một đồng minh của Hoa Kỳ, để mưu toan cho kế hoạch riêng, cũng như là tạo tham vọng ở châu lục. Nhiều nhà đầu tư của Trung Quốc đã rót vốn vào Thái Lan trong nhiều năm trở lại đây.

Theo các nhà ngoại giao Mỹ ở Thái Lan thuật lại, thì Thái Lan "đã thất bại trong việc chia sẻ mối quan ngại về chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc", khi cố tìm cách thân thiện với Bắc Kinh nhiều hơn là ứng phó lại.

Malaysia[sửa | sửa mã nguồn]

Malaysia là nước có cộng đồng người Hoa lớn thứ hai thế giới chỉ sau Thái Lan. Các vương triều Mã Lai thường có quan hệ giao hảo với Trung Quốc và, không giống như các quốc gia khác ở châu lục, Malaysia không có chính sách đồng hóa người Hoa. Điều này trở thành vũ khí cho Trung Quốc sử dụng triệt để và trong nhiều năm qua, mặc dù có vần đề tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông, Malaysia dường như tìm cách "dìm nó trong im lặng", hơn là phản ứng lại nó, để đổi lấy đầu tư từ Trung Quốc. Một số nhà ngoại giao Malaysia đã bày tỏ thất vọng và cho rằng đó thể hiện "sự vô dụng của Malaysia" trên vấn đề tranh chấp lãnh thổ.

Sri Lanka[sửa | sửa mã nguồn]

Là một quốc gia Phật giáo đa số và có truyền thống thân Ấn Độ, song trong nhiều năm qua, Trung Quốc nổi lên như một nhà viện trợ kinh tế cho nước này sau cuộc nội chiến Sri Lanka. Cựu Tổng thống Mahinda Rajapaksa, một Người Sinhala theo tư tưởng thân Trung Quốc, đã có nhiều chính sách ủng hộ Trung Quốc cũng như tìm cách gây dựng một chính phủ phân biệt chủng tộc và độc tài theo mô hình Bắc Kinh, gây ra sự hoảng sợ từ Ấn Độ cũng như những người Sinhala phản đối Trung Quốc. Dưới thời Tổng thống Maithripala Sirisena, Sri Lanka đã dần cân bằng ngoại giao hơn và Sirisena cũng không quá thân thiết với Trung Quốc như trước, song vẫn tồn tại một nỗi sợ từ ảnh hưởng Trung Hoa ở Sri Lanka.

Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

Philippines luôn có hiềm khích với Trung Quốc do các tranh chấp Biển Đông cũng như việc Trung Quốc gia tăng hành động bành trướng trong vùng, tuy nhiên do có lực lượng quân sự yếu và trong những năm trở lại đây, Philippines lệ thuộc vào đầu tư của Trung Quốc, chính phủ Philippines thường dựa vào Hoa Kỳ, đồng minh hiếm hoi, để ứng phó với điều này.

Thế nhưng sau chiến thắng của Rodrigo Duterte năm 2016, Philippines đã có khuynh hướng càng ngày càng ngả nghiêng và thân Trung Quốc nhiều hơn, tạo ra vết nứt trong ngoại giao với các nước châu Á khác và Hoa Kỳ, tạo điều kiện cho Trung Quốc khuếch trương sức mạnh uy hiếp Philippines.

Indonesia[sửa | sửa mã nguồn]

Indonesia từ lâu luôn nổi tiếng với chính sách đối địch và nặng tư tưởng bài Trung Quốc do yếu tố lịch sử. Trong tranh chấp Biển Đông, mặc dù Indonesia không có tuyên bố chủ quyền, song việc Trung Quốc đòi chủ quyền với bãi cạn Natuna nằm gần Biển Đông do Indonesia kiểm soát đã gây bất bình rất lớn ở Indonesia.

Singapore[sửa | sửa mã nguồn]

Dù là quốc gia có dân số gốc Hoa lớn, Singapore lại đi theo con đường trung lập thân phương Tây hơn là ngả theo Trung Quốc, và thường làm Trung Quốc không hài lòng.

Đài Loan[sửa | sửa mã nguồn]

Đài Loan vốn là một hòn đảo được cai trị bởi người Trung Quốc kể từ thời Nhà Thanh sau khi những người ủng hộ vương triều cũ bị đánh bại, cho đến khi Trung Quốc bị đánh bại bởi Nhật Bản năm 1895. Chính việc Nhật Bản đánh chiếm Đài Loan đã khiến Đài Loan có lịch sử phức tạp sau này. Dưới thời Nhật, Đài Loan từng được coi là thuộc địa kiểu mẫu cho tới khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945. Khi đấy, Trung Hoa Dân Quốc mới là nhà nước hợp pháp của Trung Quốc và tiếp quản Đài Loan, song do thất bại trong cuộc Nội chiến Trung Quốc năm 1949, Tưởng Giới Thạch và các lãnh đạo Trung Quốc Quốc dân Đảng đã bỏ đại lục tới Đài Loan. Vì vậy, điểm này trở thành mấu chốt trong xung đột ngoại giao và lịch sử sau này giữa hai bên. Trước năm 1975, Tưởng coi Chính phủ Trung Hoa Dân quốc là đại diện hợp pháp duy nhất của toàn Trung Hoa và cấm các phe phái đòi độc lập lên tiếng.

Song, từ những năm cuối thập niên 1980, Lý Đăng Huy lên nắm quyền, đã gỡ bỏ kiểm soát truyền thông cũng như lên tiếng ủng hộ Đài Loan độc lập, gây xung đột lợi ích với Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa vốn xem Đài Loan là lãnh thổ của mình. Điều này đã trở thành điểm đối đầu của hai nước và đã đẩy hai bên vào thế địch thủ. Trung Quốc đã nhiều lần đe dọa sử dụng vũ lực tấn công Đài Loan nếu hòn đảo này tuyên bố độc lập.

Tajikistan[sửa | sửa mã nguồn]

Tajikistan vốn không có truyền thống xung đột lãnh thổ với Trung Quốc, song cộng đồng người Tajik vốn sinh sống rải rác nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt nhiều nhất là ở Afghanistan, nơi đã bị giày xéo bởi chiến tranh, luôn có ác cảm với Trung Quốc bởi rất nhiều lý do. Trong lịch sử, Nhà Thanh đã tấn công Kashgaria, một nhà nước Hồi giáo Tân Cương do người Tajik hậu thuẫn; việc Trung Quốc đã ngấm ngầm làm ngơ cho các hoạt động khủng bố của lực lượng Taliban do người Pashtun đứng sau diệt chủng người Tajik; việc Trung Quốc ủng hộ Pakistan, kẻ thù của người Tajik; và các hoạt động kinh tế được cho là không trong sạch của Trung Quốc ở Tajikistan; luôn khiến người Tajik thù hận Trung Quốc.

Bhutan[sửa | sửa mã nguồn]

Hai nước luôn căng thẳng do không có quan hệ ngoại giao chính thức và việc Trung Quốc đòi chủ quyền với cao nguyên Doklam, và ảnh hưởng Ấn Độ trong đó, khiến hai nước luôn ở thế đối đầu.

Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan[sửa | sửa mã nguồn]

Thổ Nhĩ KỳAzerbaijan là hai quốc gia nằm khá xa so với Trung Quốc nhưng cùng chia sẻ nguồn gốc Thổ tộc và nói tiếng Thổ, và trong lịch sử đã ghi nhận rất nhiều cuộc chiến của các sắc tộc người Thổ với các triều đại Trung Hoa trước cuộc di cư của người Thổ tới tiểu Á. Vì lẽ đó, người Thổ có một lịch sử khá thù hằn và đẫm máu với Trung Quốc. Nó liên quan tới rất nhiều vấn đề như viết lại lịch sử giữa hai nước, khác biệt tôn giáo, chính trị, nhưng điểm mấu chốt tới từ sự xâm chiếm Tân Cương vốn là lãnh thổ được người Thổ xem là quê hương lịch sử của họ. Đã có nhiều những cuộc xung đột ngoại giao và chính trị giữa hai nước này, và Trung Quốc thường cáo buộc Thổ Nhĩ Kỳ "xách động bất ổn" bằng việc ủng hộ các phong trào ly khai ở đây, song bị Thổ Nhĩ Kỳ bác bỏ. Trước đây, hai nước này cũng đụng độ quân sự trong chiến tranh Triều Tiên, và lính Thổ thường bị lính Trung Quốc căm thù vô cùng do sự nhẫn tâm của lính Thổ với tù binh của họ.

Hai nước này tiếp tục đối đầu về mặt tranh giành ảnh hưởng ở Pakistan vốn là đồng minh của cả hai, và Afghanistan, việc Thổ Nhĩ Kỳ cân bằng ngoại giao với Ấn Độ để đương đầu với Trung Quốc, cũng như quan hệ tốt đẹp giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hàn Quốc, hai quốc gia vốn đã sát cánh cùng nhau chống Trung Quốc trước đây, và Thổ Nhĩ Kỳ vật vờ trong vấn đề Đài Loan, khiến xung đột giữa hai bên tiếp tục ngấm ngầm căng thẳng.

So sánh với các chủ nghĩa đế quốc khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tính chất đặc trưng và riêng biệt của chủ nghĩa đế quốc Trung Hoa là chủ đề bàn tán của nhiều học giả cũng như giới tranh luận về tư tưởng cũng như ý thức hệ hun đúc chủ nghĩa đế quốc thực dân kiểu Trung Quốc. Một số lý giải được luận như sau:

Chủ nghĩa đế quốc Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

So sánh gần đây và điển hình là với chủ nghĩa đế quốc của Hoa Kỳ, do sự gần gũi về ý thức hệ mặc dù khác biệt về văn hóa. Hai nước đều có lãnh thổ ngang ngửa nhau, đều có lịch sử quân sự, chính trị chi phối và có nhiều chính sách gây ảnh hưởng lớn, cũng như sẵn sàng sử dụng vũ lực với các nước bất tuân phục mình. Việc hai nước này đang dẫn đầu thế giới đã minh chứng cho mối quan hệ đầy thú vị này.

Tuy nhiên, trong khi hai nước khá tương đồng, có nhiều điểm khác lộ diện. Theo luồng quan điểm số đông, bao gồm những học giả có uy tín, Hoa Kỳ có lịch sử dân chủ cộng hòa trong khi Trung Quốc là quốc gia toàn trị. Thêm hơn nữa, nhiều nước mà bị xem là "chư hầu" của Hoa Kỳ, theo quan điểm truyền thông Trung Quốc, lại thường phát triển hơn, điển hình như Đài Loan, Nhật Bản, Ba Lan, Israel, Pháp, Hàn Quốc, Đức, Canada, Thổ Nhĩ Kỳ, ÚcAnh; trong khi các quốc gia Trung Quốc xem là đồng minh như Pakistan, IranCộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên lại thường rất yếu kém, bất ổn và chậm phát triển. Thêm vào đó, trong khi Hoa Kỳ thường đánh các nước khác để trợ giúp và phát triển các quốc gia đó (mặc dù rất tranh cãi do vai trò phức tạp của Washington), thì Trung Quốc thường xâm lấn, ép buộc và cướp bóc khoáng sản, tài nguyên và chẳng để lại sự phát triển nào. Điều này tuy vậy lại bị phản bác bởi những người theo chủ nghĩa Trung Hoa và cho rằng điều ngược lại xảy ra, cáo buộc những người theo chủ nghĩa ái quốc Mỹ bằng hành động diều hâu của mình, lấy dẫn chứng từ Iraq, AfghanistanSyria làm điển hình.

Chủ nghĩa đế quốc Nga[sửa | sửa mã nguồn]

So sánh với Nga cũng là quan điểm chung do sự gần gũi ngày càng tăng của cả hai chế độ. Nga và Trung Quốc tuy có những bất đồng, song lại chia sẻ lịch sử toàn trị và xâm lấn các quốc gia khác. Ngoài ra, việc hai nước này cũng nổi tiếng cướp bóc tài nguyên và phá hoại khiến chủ nghĩa đế quốc của Nga và Trung Quốc thêm gán chặt với sự so sánh đó.

Một số bằng chứng tiêu biểu là cách đối xử của Nga với Ba Lan cũng như Trung Quốc với Việt Nam trong quá khứ đã không ít lần làm nổi lên tham vọng bành trướng của cả hai chế độ Nga-Trung. Ngoài Ba Lan và Việt Nam, các nước có chung biên giới với hai quốc gia này thường luôn phải sống trong lo lắng và sợ hãi bởi mộng bành trướng của cả hai nước.

Các quan điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Đến nay, quan điểm về chủ nghĩa đế quốc Trung Hoa vẫn đang gây nhiều tranh cãi, bao gồm cả ý kiến đồng thuận và phản đối.

Các quan điểm tán đồng[sửa | sửa mã nguồn]

Các quan điểm chung đều tán đồng rằng là chủ nghĩa bành trướng kiểu Trung Quốc là một dạng theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan bành trướng, và mang động cơ hiếu chiến. Theo Sebastien Roblin, chủ nghĩa bành trướng hiện đại của Trung Quốc là hệ lụy từ cuộc chiến tranh Nha phiến vào thế kỷ 19.[17] Theo các học giả Đài Loan, Trung Quốc đã sử dụng nhiều chiêu trò viện dẫn rằng họ không bành trướng song thực chất là để ngấm ngầm bành trướng theo một cách trá hình theo tư tưởng Trịnh Hòa.[18]

Ở châu Phi cũng đang nổi lên quan điểm rằng người Trung Quốc không có ý định giúp kinh tế mà gia tăng bài xích dân tộc ở các nước này và thuộc địa hóa châu lục, điển hình ở Kenya khi người Trung Quốc công khai coi người châu Phi da đen là hạ đẳng và có những khu công nghiệp mà người châu Phi không được ở.[19][20]

Ở các quốc gia Mỹ Latinh như Peru và Venezuela, những nước nổi tiếng là thân Trung Quốc, cũng đang chứng kiến sự trỗi dậy tư tưởng chống Trung Quốc, do hệ quả từ việc Trung Quốc bóc lột tài nguyên và làm Venezuela rơi vào khủng hoảng kinh tế để thu lợi bất chính và chính sách di dân ồ ạt.

Trong khi đó, theo các nước láng giềng, Trung Quốc tuy coi mình là người "giữ trật tự" và kiến thiết hòa bình khu vực, nhưng thực chất nhằm trục lợi cho âm mưu xâm lược và đánh chiếm lãnh thổ, một số điển hình như:

  • Nhà Thanh lấy chiêu trò "phù Lê diệt Tây Sơn" nhưng thực chất là mưu toan chiếm Việt Nam về lâu dài.
  • Trung Quốc, lợi dụng danh nghĩa bảo vệ Xiêm La, âm mưu thôn tính Miến Điện từ năm 1765 tới 1769.
  • Tây Tạng từng bị xem là lãnh thổ Trung Quốc trong quá khứ, nhưng độc lập khi Đại Thanh sụp đổ do dân Tạng không chấp nhận quyền pháp trị của Trung Hoa.

Các quan điểm này đều được sử gia Trần Trọng Kim ghi nhận trong "Việt Nam Sử Lược".

Nhiều quan điểm khác cũng vận dụng việc các quốc gia vệ tinh cho các lợi ích bành trướng theo chủ nghĩa đế quốc bá quyền của Trung Quốc là có cơ sở.

  • Trong trường hợp của Israel, những người theo quan điểm diều hâu và ủng hộ chủ nghĩa phục quốc Do Thái, đặc biệt tại Hoa Kỳ, lên tiếng công khai chỉ trích rằng Trung Quốc mượn tay Iran bành trướng "miệng na mô bụng bồ dao găm" bằng việc giúp phát triển vũ khí hạt nhân với ý định tiêu diệt Israel và các đồng minh của Hoa Kỳ trong khi ngoài miệng nói rằng trung lập và không can thiệp.[21]
  • Ấn Độ cũng lên tiếng với các cáo buộc rằng Trung Quốc sử dụng Pakistan, Nepal, Sri Lanka và Myanmar làm "sân sau" bành trướng và bao vây Ấn Độ, và việc lính Trung Quốc thường xuyên hoạt động tự do mà không có phản ứng an ninh nào, điển hình như vụ Doklam, và hai cuộc chiến 1962 và 1967.[22]
  • Hàn Quốc và Nhật Bản coi Trung Quốc sử dụng Bắc Triều Tiên làm sân sau cho mưu toan quân sự chống lại hai nước này.
  • Việt Nam cũng thường có quan ngại khi Trung Quốc biến Campuchia thành sân sau, lấn ảnh hưởng tại các nước lân bang như Thái Lan và Malaysia cho mưu đồ cô lập Việt Nam, do lịch sử đối đầu giữa hai nước.

Tuy rằng những tranh cãi về việc chủ nghĩa đế quốc Trung Hoa đồng thuận đến đâu, có một sự tương đồng rằng Trung Quốc là một nhà nước bành trướng nham hiểm và thông minh, tráo trở khi gặp thời và luôn biết lấn sân để phát triển và mở rộng lãnh thổ.

Các quan điểm phản đối[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ, giới học giả và truyền thông Trung Quốc phản đối các mô tả Trung Quốc như một nước đế quốc[23] cùng với tất cả những khái niệm liên quan. Họ cho rằng đó là sản phẩm của sự thù địch chống phá Trung Quốc từ bên ngoài nhằm làm suy yếu Trung Quốc. Chủ nghĩa đế quốc Trung Quốc là vô lý và Trung Quốc là nước yêu chuộng hòa bình.[24] Các luận điểm được đưa ra một mặt nhằm phủ nhận, một mặt nhằm diễn giải sự cần thiết của ảnh hưởng chính trị trong lịch sử Châu Á từ Trung Quốc, gồm các luận điểm cơ bản:

  • Vai trò của Trung Quốc trong lịch sử châu Á là giữ gìn trật tự, khiến các quốc gia láng giềng không xâm lược, không chiến tranh lẫn nhau. Vì vậy, hệ thống quyền lực Trung Quốc ở vị trí trung tâm là cần thiết. Nhờ đó, Châu Á đạt được hòa bình, ổn định, thịnh vượng. Khi trật tự không thể giữ được, hòa bình bị phá vỡ khi một nước chư hầu châu Á tấn công một nước chư hầu khác thì Trung Quốc sẽ gây áp lực hoặc sử dụng vũ lực để ngăn chặn chiến tranh, bảo vệ chư hầu trung thành.
    • Từ thế kỷ X, khi Đại ViệtChampa lần đầu chiến tranh cho đến năm 1471, khi Champa bị tiêu diệt, các triều đình Trung Quốc đã nhiều lần can thiệp để bảo vệ Champa trước các cuộc tấn công của Đại Việt.
    • Điển hình khác là trường hợp Nhà Minh đưa gần 150.000 lượt quân đến Triều Tiên[25][26] để chống lại cuộc xâm lược của quân Nhật trong cuối thế kỷ XVI. Điều này là bảo vệ chư hầu.[27]
    • Đáp ứng lời cầu cứu của Tự Đức,[note 4] gần 40.000 quân Mãn Thanh sang Việt Nam để chống lại quân Pháp, một hành động bảo vệ chư hầu của Trung Quốc (Chiến tranh Pháp-Thanh), trong 1884 - 1885.
  • Trung Quốc không chỉ bảo vệ đồng minh của mình mà còn phải tự vệ.
    • Quan niệm về tính cần thiết của tấn công chủ động đã có từ hàng ngàn năm trước trong lịch sử Trung Quốc, Tào Tháo-vua Tào Ngụy thời Tam Quốc đã từng nói: "Ta không đánh người thì người cũng đánh ta mà thôi, chi bằng ta đánh người trước".
    • Trong lịch sử, Trung Quốc thường xuyên phải chịu đựng sự tấn công của quân du mục từ phía tây và phía bắc, các tộc người du mục Hung nô, Khiết Đan, Mông Cổ, Nữ Chân,...,nhiều lần họ tàn phá thậm chí chiếm lấy Trung Quốc, sự mở rộng của Trung Quốc ra bên ngoài là từ nhu cầu tự vệ. Điều này liên quan đến sự tồn vong của dân tộc Trung Quốc mà kinh nghiệm lịch sử đã chỉ rõ.[28][29]
    • Cuộc tấn công Việt Nam trong năm 1979 là cuộc tấn công tự vệ, chính phủ Trung Quốc gọi là Chiến tranh đánh trả tự vệ trước Việt Nam (对越自卫还击战 Đối Việt tự vệ hoàn kích chiến) đáp trả cáo buộc "xâm lược", "bành trướng" từ Việt Nam, Trung Quốc khẳng định sau khi "Dạy cho Việt Nam một bài học" họ sẽ rút quân, không lấy một tấc đất nào của Việt Nam. Trung Quốc không xâm lược mà tự vệ.[30] Đồng thời, Trung Quốc còn ngăn chặn Việt Nam xâm lược Đông Nam Á, bảo vệ đồng minh Campuchia và các nước Đông Nam Á khỏi nguy cơ xâm lược.
  • Vai trò đó cũng thể hiện ở việc bảo vệ các nước chư hầu trước thế lực phương Tây, bằng chứng là sau khi Nhà Thanh bị đánh bại trong Chiến tranh Nha phiến vào năm 1840, từng bước các nước châu Á khác bị xâm chiếm. Bắt đầu thời kỳ thống trị của chủ nghĩa thực dân Châu Âu ở phương Đông.[31]
  • Hệ thống triều cống không chỉ mang hàng cống phẩm từ chư hầu đến triều đình Trung Quốc, mà hoàng đế Trung Quốc còn chiêu đãi và quà cáp cho các sứ thần các nước[32] khi họ trở về. Vì vậy, đôi lúc triều đình Trung Quốc chịu tốn kém hơn.
  • Hoạt động triều cống chỉ là cách mà các nước phương Đông lẫn phương Tây muốn tiếp cận, xâm nhập vào thị trường Trung Quốc để mua bán.[33] Cống nạp đến hoàng đế Trung Quốc là thỉnh nguyện được buôn bán.
  • Hán hóa là sự tiếp biến văn hóa tự nguyện của các nước châu Á xung quanh Trung Hoa. Về điều này, giới học giả Trung Quốc phủ nhận sự tồn tại của các nhà nước bản địa đã bị hoặc đã từng bị Trung Quốc chiếm và sáp nhập. Không có nhà nước bản địa và không có nền tảng văn hóa bản địa nào nổi bật xung quanh Trung Hoa, và văn minh Trung Hoa đã giúp khai hóa các vùng xung quanh, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Khái niệm nhà nước bản địa là mơ hồ và văn hóa bản địa là thiếu nổi bật. Vì vậy Hán hóa là điều tốt đẹp và đã được tiếp nhận tự nguyện mà không hề thông qua bạo lực.
  • Trung Quốc không phải là một nước đế quốc, mà ngược lại đã từng là nạn nhân của chủ nghĩa đế quốc. Từ chiến tranh Nha Phiến đến hết chiến tranh thế giới thứ hai (hoặc năm 1949), dân tộc Trung Quốc bị bức hại bởi chủ nghĩa đế quốc phương Tây và Nhật Bản.[34] Đó là Thế kỷ tủi nhục[4]dân tộc Trung Quốc đã phải chịu đựng.[35]

Các học giả khác ngoài Trung Quốc cũng nêu ra các quan điểm trung lập, mặc dù không phải tất cả đề cập đến Trung Quốc, nhưng chúng có tính chất tương tự trong việc lý giải hành vi chính trị của Trung Quốc, nếu không nói là biện minh cho họ.

Quan niệm về xu hướng bá quyền nước lớn không phải là trường hợp riêng biệt của Trung Quốc, hầu hết các nước lớn trong lịch sử đều có xu hướng này. Xu hướng bá quyền nước lớn thể hiện rõ nhất trong giai đoạn hiện nay khi Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, điều này tương tự trường hợp của nước Đức vào cuối thế kỷ XIX,...Các lý thuyết trong lĩnh vực quan hệ quốc tế như Lý thuyết chuyển giao quyền lực đều giải thích cho các trường hợp này.

Thông qua nhiều biến thể khác nhau của lý thuyết chuyển giao quyền lực, xung đột dễ dàng xảy ra nhất khi một cường quốc đang lên, bất mãn với tình trạng hiện hành, tiếp cận gần hơn về mặt quyền lực với cường quốc thống trị trong một khu vực hay trong toàn bộ hệ thống quốc tế, và sẵn sàng sử dụng vũ lực để định hình lại các quy chuẩn hay thể chế trong hệ thống đó.[36]

Thực tế là các bộ tộc, dân tộc và các quốc gia đã tạo nên những quan điểm cho một nền tảng chính trị cơ bản, giúp giải thích tại sao đế quốc không thể bị giới hạn ở một địa điểm hay thời đại cụ thể mà đã xuất hiện và tái lập qua hàng ngàn năm và trên tất cả các châu lục.[37]

Nhà lý luận chính trị Niccolò Machiavelli và Hans Morgenthau cũng đưa ra quan điểm quyền lực là một mục tiêu cố hữu của nhân loại và của nhà nước, theo đuổi xây dựng quốc gia thành cường quốc là mục tiêu cố hữu của các quốc gia trong lịch sử. Tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng quân sự, lan truyền văn hóa,... tất cả đều có thể được coi là làm việc hướng tới mục tiêu cuối cùng của quyền lực quốc tế.[38]

Nhiều nước trong lịch sử thường tiến hành xâm lấn nước khác như cách đẩy các mâu thuẫn nội bộ ra bên ngoài. Trung Quốc không phải là ngoại lệ.[39]

Một số khác, bao gồm các chính khách thậm chí thẳng thắn bày tỏ sự ủng hộ đối với Trung Quốc, họ có chiều hướng ngược lại với phương Tây, như một số chính khách Mỹ Latin.[40]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ An Tây đô hộ phủ thành lập năm 640, các cuộc đánh chiếm của quân Đường vẫn tiếp diễn những năm sau đó.
  2. ^ Các cuộc chiến tranh với người Mãn Châu trong thập niên 1620 khiến Mông Cổ thất bại, người Mông Cổ trở thành chư hầu trong cuộc chinh phục Minh của Mãn Thanh.
  3. ^ Nhà Nguyên và Nhà Thanh không được coi là triều đại của người Trung Hoa mãi đến sau Cách mạng Tân Hợi.
  4. ^ Theo yêu sách của Rivière, Nhà Nguyễn phải chấp nhận quyền bảo hộ của Pháp, phải trao thành Hà Nội cho Pháp quản lý, đặt thương chánh tại Bắc kỳ và giao cho Pháp cai quản. Triều đình Huế không chấp nhận các điều kiện khắc nghiệt đó nên đàm phán đổ vỡ. Ông Phạm Thận Duật được cử sang Thiên Tân cầu cứu với triều đình Nhà Thanh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Zhang Feng-Phó giáo sư khoa Quan hệ quốc tế, đại học Tsinghua, Suy ngẫm lại về “Hệ thống triều cống”: mở rộng biên độ khái niệm về chính trị Đông Á lịch sử. Link: [1]
  2. ^ “美国真的很喜欢用“中国威胁论”吓唬老百姓 (Việt ngữ: Hoa Kỳ thực sự thích sử dụng "lý thuyết đe dọa Trung Quốc" để dọa người dân)”. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2018. 
  3. ^ a ă â Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam (1979), Phê phán chủ nghĩa bành trướng và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền Bắc Kinh, NXB Khoa học Xã hội, trang 17. Link: Phê Phán Chủ Nghĩa Bành Trướng Và Bá Quyền Của Bắc Kinh
  4. ^ a ă â b “Giáo sư Mỹ: Nguồn gốc mọi căng thẳng ở Biển Đông là tư tưởng Đại Hán”. Giaoduc.net.vn. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2018. 
  5. ^ “Vì sao người Trung Quốc luôn coi dân tộc mình là nhất?”. nguyentandung.org. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2018.  Đoạn ghi: – Vấn đề này Phí Chí Thanh cũng đã bàn đến rồi. Có quan điểm như sau: do Trung Quốc là một nước lớn có cái gọi là “lễ nghi thiên triều“, có ý thức duy ngã độc tôn, xem những ngoại nhân đều là những dân tộc phải đến triều cống, vì họ có những điều cần phải cầu xin chúng ta, còn chúng ta thì chẳng cần cầu xin gì ở họ. Một khi họ đã đến Trung Quốc thì chúng ta phải dùng một loạt những chế độ lễ nghi để cải biến họ thành những phần tử có nhiệm vụ kính bái thiên triều. Từ đời Đường trở đi tình hình đều như thế cả, cho đến đời Minh thì phát triển thành một loại ngông cuồng tự đại tương đối rõ ràng, loại ngông cuồng tự đại này khiến cho Trung Quốc khó lòng đối phó với sự thách đố của văn hóa Tây phương một cách thực tế, một cách rốt ráo được. Cái gọi là “ Nam Man, Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch “tất cả đều không đáng nhắc đến, chỉ có Trung quốc mới là hạt nhân của văn minh. Điều này biểu hiện ra một loại văn hóa hết sức cường liệt, thậm chí một loại chủ nghĩa xô-vanh chủng tộc.
  6. ^ a ă “Doing Business in Yunnan Province of China”. Ministry Of Commerce - People's Republic Of China. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2018. 
  7. ^ Frederick W. Mote; Denis Twitchett (26 tháng 2 năm 1988). The Cambridge History of China: Volume 7, The Ming Dynasty, 1368-1644. Cambridge University Press. tr. 144–. ISBN 978-0-521-24332-2. 
  8. ^ 6-1 自然资源划 [6-1 Natural Resources] (bằng tiếng Trung). Statistics Bureau of Xinjiang. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2015. 
  9. ^ Millward James A. (2007). “Eurasian Crossroads: A History of Xinjiang”. illustrated. ISBN 978-0-231-13924-3. Truy cập 7 tháng 10 năm 2018. 
  10. ^ Wylie, Sđd, trang 104: 'To counterbalance the political power of the lama, Khubilai appointed civil administrators at the Sa-skya to supervise the mongol regency' (Việt ngữ: 'Để đối trọng với quyền lực chính trị của Lạt ma, Hốt Tất Liệt bổ nhiệm các quan chức tại Sa-skya giám sát thay mặt chính quyền Mông Cổ').
  11. ^ Dawa Norbu. China's Tibet Policy, pp. 139. Psychology Press.
  12. ^ “Biên giới Việt Nam và Trung Quốc qua các triều đại quân chủ Việt Nam”. Biên phòng Việt Nam. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2018.  Đoạn ghi: Vả lại, 40 dặm ấy nếu thuộc vào Vân Nam thì là nội địa của trẫm, nếu thuộc vào An Nam thì vẫn là ngoại vi của trẫm, không có chút gì phân biệt cả. Vậy chuẩn cho đem đất ấy ban thưởng cho quốc vương (vua Việt Nam) được đời đời giữ lấy.”” Nói cách khác sự phân chia biên giới giữa hai nước Hoa, Việt mang nặng tính cách lịch sử và quan niệm chính trrị cổ thời. Đó là những giới hạn có tính cách hành chánh nhiều hơn là phân ranh quốc tế.
  13. ^ Vì sao người Trung Quốc luôn coi dân tộc mình là nhất?, nguyentandung.org, (Link đã dẫn), Đoạn ghi: – Vấn đề này Phí Chí Thanh cũng đã bàn đến rồi. Có quan điểm như sau: do Trung Quốc là một nước lớn có cái gọi là “lễ nghi thiên triều“, có ý thức duy ngã độc tôn, xem những ngoại nhân đều là những dân tộc phải đến triều cống, vì họ có những điều cần phải cầu xin chúng ta, còn chúng ta thì chẳng cần cầu xin gì ở họ. Một khi họ đã đến Trung Quốc thì chúng ta phải dùng một loạt những chế độ lễ nghi để cải biến họ thành những phần tử có nhiệm vụ kính bái thiên triều. Từ đời Đường trở đi tình hình đều như thế cả, cho đến đời Minh thì phát triển thành một loại ngông cuồng tự đại tương đối rõ ràng, loại ngông cuồng tự đại này khiến cho Trung Quốc khó lòng đối phó với sự thách đố của văn hóa Tây phương một cách thực tế, một cách rốt ráo được. Cái gọi là “ Nam Man, Đông Di, Tây Nhung, Bắc Địch “tất cả đều không đáng nhắc đến, chỉ có Trung quốc mới là hạt nhân của văn minh. Điều này biểu hiện ra một loại văn hóa hết sức cường liệt, thậm chí một loại chủ nghĩa xô-vanh chủng tộc.
  14. ^ “Người vạch rõ nguồn gốc chủ nghĩa Đại Hán”. Vietnamnet.vn. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2018.  Đoạn ghi: GS Trần Đình Hượu viết: "Xâm lược nước láng giềng là cách kiếm lợi nhưng chủ yếu là để tăng thêm uy thế. Đánh là cướp bóc mà cũng để đòi thêm cống nạp. Nhưng đánh cũng còn để ra oai, tỏ ra còn đủ sức trừng phạt những ai lăm le chống đối... Đó là con đường lấy ngoài yên trong của hoàng đế".
  15. ^ “China's Ambitions in Myanmar”. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015. 
  16. ^ “Thủ tướng Hun Sen: Không có chuyện "đòi" Phú Quốc, Nam Bộ”. 27 tháng 7 năm 2015. Truy cập 17 tháng 11 năm 2015. 
  17. ^ https://warisboring.com/to-understand-chinese-expansionism-look-to-the-opium-wars/
  18. ^ https://sentinel.tw/real-reasons-behind-chinese-expansionism/
  19. ^ https://www.nytimes.com/2018/10/15/world/africa/kenya-china-racism.html
  20. ^ https://www.dw.com/en/the-racist-face-of-the-chinese-presence-in-africa/a-46223068
  21. ^ Chú thích trống (trợ giúp)  (lỗi)
  22. ^ Chú thích trống (trợ giúp)  (lỗi)
  23. ^ “美国务卿对华扣大帽子:中国是“新帝国主义列强” (Việt ngữ: Ngoại trưởng Mỹ có một chiếc mũ lớn ở Trung Quốc: Trung Quốc là một "cường quốc đế quốc mới")”. http://news.sina.com.cn. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018.  đoạn ghi:   在中国近现代史相当长一段时间内,“打倒帝国主义”是中国人最常喊的口号之一。现在中国一没有侵略他国,二没有强迫别人签下不平等条约,怎么变成了“新帝国主义列强”?蒂勒森难道是在开玩笑?显然不是。他是在得州一所大学发表演讲时这么说的。他想警告“拉美国家不要过度依赖与中国的经贸联系”,而是选择与美国合作。蒂勒森还把矛头对准俄罗斯,称俄罗斯在该地区日益增强的存在“令人感到警觉”。值得关注的是,蒂勒森的指责与美国最近出台的国家安全战略报告等如出一辙,甚至总统特朗普的国情咨文也有所体现。 Việt ngữ:   Trong lịch sử hiện đại của Trung Quốc trong một thời gian dài của thời gian, "Đả đảo chủ nghĩa đế quốc" đó là một trong những người phổ biến nhất Trung Quốc la hét các khẩu hiệu. Trung Quốc hiện nay là một quốc gia, ông đã không xâm lược, cả hai đã không buộc người khác phải ký hiệp ước bất bình đẳng, làm thế nào để trở thành một "thế lực đế quốc mới"? Tillerson có đùa không? Rõ ràng là không. Ông nói điều này khi ông phát biểu tại một trường đại học ở Texas. Ông muốn để cảnh báo "các nước Mỹ Latinh không quá phụ thuộc vào quan hệ thương mại và kinh tế với Trung Quốc", lựa chọn thay vì hợp tác với Hoa Kỳ. Tillerson cũng nhắm mục tiêu Nga, cho biết sự hiện diện ngày càng tăng của Nga trong khu vực "mọi người cảm thấy tỉnh táo." Cần lưu ý rằng lời buộc tội của Tillerson giống hệt như Báo cáo Chiến lược An ninh Quốc gia Hoa Kỳ gần đây, và thậm chí cả địa chỉ Liên bang của Tổng thống Trump cũng được phản ánh..
  24. ^ “一觉醒来,中国成“帝国主义列强”了?! (Việt ngữ: Tỉnh dậy, Trung Quốc đã trở thành một "quyền lực hoàng gia"? !)”. sohu.com. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018.  đoạn ghi: 而中华文明,是发源于大陆的农耕文明,喜欢把人类、社会、自然、和宇宙当成一个整体去研究,这种“天人合一”的理念,就容易把世界的万物调和成和谐共存关系。中华文明是一种多元化文明,是和而不同的文明,所以中国古人就开始追求天下太平、世界大同。 Việt ngữ: Khái niệm "hài hòa giữa con người và thiên nhiên" giúp cho việc hòa giải tất cả mọi thứ trên thế giới trở nên hài hòa cùng nhau. Nền văn minh Trung Quốc là một nền văn minh đa nguyên, một nền văn minh hài hòa và khác biệt, vì vậy người Trung Quốc cổ đại đã bắt đầu theo đuổi hòa bình thế giới.
  25. ^ Turnbull, Stephen (2002), trang 140, Ghi chú: lần đầu (1592-1593) 43.000 quân.
  26. ^ Turnbull, Stephen (2002), trang 217, Ghi chú: lần hai (1597-1598) là 100.000 quân.
  27. ^ Swope (2002), Sđd, trang 781.
  28. ^ Vì sao người Trung Quốc luôn coi dân tộc mình là nhất?, nguyentandung.org, (Link đã dẫn), Đoạn ghi: Tôi cho rằng đối với những trạng huống nêu trên, tất yếu cần phải tiến hành phân biệt ở những tầng lớp sâu hơn. Không thể phủ nhận rằng Trung Quốc quả thật có một loại tư tưởng văn hóa xem mình là trung tâm, nhưng đàng sau bối cảnh rộng lớn này thì tình hình cụ thể rất phức tạp. Đời Đường, văn hóa Trung Quốc phát triển đến đỉnh cao, nhưng đời Đường không có chủ nghĩa xem văn hóa Hoa Hạ làm trung tâm, mà lại có tinh thần bao dung, tổng hợp rất lớn. Sau đời Đường, Hán tộc tại Trung Quốc không những rơi vào cảnh quốc gia bại nhược mà phải còn chịu sự uy hiếp đặc biệt lớn của các dân tộc thảo nguyên (như Mông Cổ), dân tộc Sâm Lâm (như Kim), do đó quan điểm văn hóa trung tâm của Trung Quốc và kinh nghiệm về sinh tử tồn vong mà nó phải gánh chịu có tương quan mật thiết. Đặc biệt trong thời gian gần một ngàn năm lịch sử, quan niệm duy ngã độc tôn rất khó có sức thuyết phục. Đời Tống đối với Liêu, Kim, Nguyên nhiều lần đã phải cam chịu xưng “thần”. Chu Hi, một nhà tư tưởng có ý thức văn hóa Hoa Hạ rất mạnh mẽ, nhưng vẫn có những cảm giác lo lắng, sợ hãi sâu sắc, ông lo sợ rằng động lực của trung tâm thế giới không còn phạm vi Trung Quốc nữa, không những thế Trung Quốc đã bị ngoại nhân xâm lược và phải đối diện với cái họa vong quốc. Đến đời Nguyên, tròn tám mươi năm, hoàn toàn chịu sự can thiệp quấy nhiễu của văn hóa dị tộc, thành phần trí thức bị biến thành một thứ “xú lão cửu” (lão già hủ lậu hôi thối). Cho đến đời Minh, tình hình phòng vệ biên cương luôn luôn phức tạp, căng thẳng, một mặt phải lo Mông Cổ, vì Mông Cổ có khả năng hứng khởi trở lại, một mặt khác phải lo đối phó Mãn Châu. Tình cảnh biến hóa thịnh suy khôn lường, ngay cả hoàng đế cũng bị bắt giữ, trong tình huống như thế, muốn có ý thức ngông cuồng tự đại cũng không phải là việc dễ dàng. Cảm giác về mối nguy cơ rất mạnh mẽ thể hiện trong tác phẩm của Vương Phu Chi và khẩu hiệu do Cố Viêm Võ đề xuất: ”thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách“ (chuyện quốc gia còn hay mất, ngay kẻ thất phu cũng có phần trách nhiệm) tất cả cho thấy không phải đây là ý thức duy ngã độc tôn, tự ngã trung tâm, mà nên nói rằng đó là ý thức lo âu về sự tồn vong của dân tộc.
  29. ^ Suy ngẫm lại về “Hệ thống triều cống...(Link đã dẫn), Đoạn ghi: Sự hữu dụng mập mờ của thuyết lấy Trung Hoa làm trung tâm trong các thời kỳ Trung Quốc suy yếu gợi ý rằng thuyết về sự ưu việt của Trung Hoa đơn nhất là không đủ và dẫn tới lầm lẫn bởi vì một Trung Quốc suy yếu cũng phải lo lắng về sự sống sót của nó. Điều này ít nhất là những gì Nhà Tống trải nghiệm với các địch thủ đầy sức mạnh của nó ở phía Bắc. Đối với những thời kỳ này chúng ta cần một giả thuyết về động cơ của các vua Trung Quốc đối với an ninh của triều đại họ.
  30. ^ “中越战争三十周年之际 两国关系发展令人关注”. Radio France Internationale. Ngày 17 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2018. 
  31. ^ “SỰ THẬT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM & TRUNG QUỐC TRONG 30 NĂM QUA”. Sachhiem.net. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2018.  Đoạn ghi: Tài liệu của Đảng cộng sản Trung Quốc do chủ tịch Mao Trạch Đông viết mang tên Cách mạng Trung Quốc và Đảng cộng sản Trung Quốc, xuất bản năm 1939 có viết: “Các nước đế quốc sau khi đánh bại Trung Quốc, đã chiếm các nước phụ thuộc của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận. Anh chiếm Miến Điện, Butan, Hương Cảng, Pháp chiếm An Nam…”
  32. ^ Suy ngẫm lại về “Hệ thống triều cống...(Link đã dẫn), Đoạn ghi: Yongjin Zhang cho rằng, theo cách nhìn này, hệ thống triều cống là thể chế nền tảng của trật tự Đông Á lịch sử. Theo cách diễn đạt của ông, “Hệ thống triều cống là thể chế nền tảng bao gồm cả giả thuyết triết học và tập tục mang tính thể chế bên trong trật tự thế giới Trung Hoa và thứ tạo nên các mối quan hệ và đảm bảo sự hợp tác giữa Trung Quốc và các thành viên tham dự khác trong Pax Sinica (30). Chính thông qua hệ thống triều cống mà Trung Quốc và các quốc gia khác tiến hành các quan hệ có ý nghĩa với nhau. Hệ thống triều cống trong ngữ cảnh này bao gồm các giả thuyết văn hóa như lấy Trung Hoa làm trung tâm và miêu tả các quy tắc và tập tục, như người nước ngoài thực thi triều cống đối với triều đình Trung Hoa và triều đình Trung Hoa thì tặng lại quà và sắc phong.
  33. ^ Suy ngẫm lại về “Hệ thống triều cống...(Link đã dẫn), Đoạn ghi: Tôn ti trật tự của mối quan hệ được xác nhận trên sự ưu việt của Trung Quốc và sự bá chủ đối với nước ngoài và sự phục tùng của họ. Tôn trọng trật tự này và thừa nhận sự ưu việt Trung Hoa là đòi hỏi tuyệt đối đối với các quan hệ mở với Trung Quốc. Do đó, “Nước ngoài, nếu giao thiệp với Trung Quốc được chờ đợi và chỉ có thể giao thiệp khi làm điều đó như là một quốc gia triều cống” (17). Khi phân tích các động cơ riêng rẽ, mô hình thừa nhận rằng các vị vua Trung Quốc khởi xướng quan hệ triều cống bởi vì họ coi trọng thanh thế mà các đoàn triều cống nước ngoài sẽ đem đến cho họ, các vị vua nước ngoài tham gia triều cống bởi vì họ đánh giá cao lợi ích thương mại với Trung Quốc. Do đó, “thương mại và triều cống là các khía cạnh có cùng nguồn gốc của một hệ thống đơn lẻ về quan hệ đối ngoại, giá trị đạo đức của triều cống trở nên quan trọng hơn trong tâm trí của các ông vua Trung Quốc và giá trị vật chất của thương mại trong tâm trí các ông vua dã man (18). “Giá trị đạo đức của triều cống” ngụ ý rằng đối với các vua Trung Hoa, chức năng của triều cống là để chứng thực tính chính thống của các vua. Đối với các vua nước ngoài, thì trái lại, thương mại là động cơ quan trọng nhất, “phần lớn toàn bộ thực thể (hệ thống triều cống), được nhìn từ bên ngoài như là một phương tiện khéo léo của thương mại (19) và “các đoàn sứ triều cống đóng chức năng chủ yếu như là đoàn buôn” (20).
  34. ^ “帝国主义侵略给中国带来了什么 (Việt ngữ: Sự xâm lăng của đế quốc đã mang đến Trung Quốc điều gì ?)”. gaosan. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018. 
  35. ^ “Tự kỷ về lịch sử để thực hiện giấc mộng bá chủ Biển Đông”. giaoduc.net.vn. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2018.  Đoạn ghi: Trong bài báo này, bà Oánh và ông Tồn viết: "Nhân dân Trung Quốc không bao giờ quên đất nước mình đã bị chiếm đóng bởi quân đội đế quốc vào thế kỷ XX. Trong hơn một thế kỷ Trung Quốc phải chịu đựng sự sỉ nhục từ các cuộc xâm lược của ngoại bang. Đó là lý do tại sao người dân và chính phủ Trung Quốc rất nhạy cảm trước bất cứ điều gì liên quan đến toàn vẹn lãnh thổ và không cho phép điều này tái diễn. Đây là điều mà thế giới bên ngoài cần lưu ý khi tìm hiểu Trung Quốc và hãy cố gắng hiểu hành vi của Trung Quốc", bà Oánh - ông Tồn viết.
  36. ^ “M. Taylor Fravel (2010). “International Relations Theory and China’s Rise: Assessing China’s Potential for Territorial Expansion”, International Studies Review, 12, pp. 505–532.” (PDF). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018. 
  37. ^ Jane Burbank and Frederick Cooper, Empires in World History: Power and the Politics of Difference, (Princeton & Oxford, Princeton University Press, 2010, p 8.
  38. ^ “SIX PRINCIPLES OF POLITICAL REALISM”. 
  39. ^ Người vạch rõ nguồn gốc chủ nghĩa Đại Hán, Link đã dẫn, Đoạn ghi: Rõ ràng, kết luận này không chỉ đúng với bản chất các triều đại phong kiến Trung Quốc xưa. Khi đang phải đối mặt với không ít vấn đề nảy sinh từ trong nước, nền kinh tế có những dấu hiệu bất ổn, sức ép về dân số... lập tức nhà cầm quyền tìm cách đẩy mâu thuẫn ra ngoài. Điều này thể hiện ở chỗ gây hấn với các nước làng giềng như tranh chấp biên giới với Ấn Độ, tranh chấp lãnh hải với Nhật Bản và các nước Asean.
  40. ^ “拉美外交官驳蒂勒森“中国威胁论”:非常看好与中国合作 (Việt ngữ: Các nhà ngoại giao Mỹ Latinh bác bỏ "lý thuyết đe dọa Trung Quốc" của Tilson: rất lạc quan về hợp tác với Trung Quốc)”. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2018. 

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

  • Swope, Kenneth M. (2002), "Deceit, Disguise, and Dependence: China, Japan, and the Future of the Tributary System, 1592–1596", The International History Review' XXIV. 4: December 2002: 757–1008
  • Turnbull, Stephen (2002), Samurai Invasion: Japan's Korean War 1592–98, Cassell & Co, ISBN 0-304-35948-3
  • Wylie, Turrell V. "The First Mongol Conquest of Tibet Reinterpreted", Harvard Journal of Asiatic Studies (Volume 37, Number 1, June 1977).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]