Chủ nghĩa Đại Trung Hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lãnh thổ Trung Quốc thời Đường, năm 669

Trong lịch sử, Trung Hoa được coi là một thế lực ham chiến trận và muốn bành trướng lãnh thổ của họ, thể hiện qua các hoạt động quân sự và các chính sách ngoại giao, là một nỗi lo ngại đáng kể của các nước lân cận. Điều này được ngầm hiểu theo nhiều nghĩa như chủ nghĩa Đại Trung Hoa, chủ nghĩa đế quốc Trung Hoa, chủ nghĩa Đại Hán hay chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc.

Bản thân từ "Trung Quốc" cũng cho ta thấy sự tự cao của người Trung Hoa rằng xứ sở họ là trung tâm của thế giới loài người.

Kể từ khi lập ra Nhà Chu đến Nhà Tần, lãnh thổ Trung Hoa dần mở rộng: nước Yên mở rộng về phía Bắc, nước Tần mở rộng về phía Tây, nước Sở đã mở rộng lãnh thổ về phía nam khi tiến hành xâm chiếm các vùng Bách Việt dần dần.

Triều đại đầu tiên là nhà Tần thống nhất Trung Quốc từ việc đánh tan và hợp nhất 6 quốc gia khác của thời Chiến Quốc cũng như các lãnh thổ sinh sống bởi những dân tộc không nói tiếng Trung chẳng hạng như các bộ tộc Bách Việt (ngoại trừ người Âu Việt và Lạc Việt). Từ vùng thung lũng sông Hoàng Hà, cùng với sự mở rộng lãnh thổ Trung Hoa, nền văn minh Trung Hoa đã lan ra khắp các hướng, đặc biệt là về phía Nam. Trong lịch sử Trung Quốc, lãnh thổ của quốc gia này mở rộng hay thu hẹp là phụ thuộc sức mạnh của triều đại đương thời. Đỉnh cao là thời nhà Đường, khi lãnh thổ Trung Quốc phía Nam kéo tới nơi ngày nay là miền Bắc Việt Nam, phía Bắc lên tới tận miền Bắc Triều Tiên, phía Tây lan tới vùng Trung Á; và nhà Thanh khi lãnh thổ trải dài tới tận Trung Á, Tây Tạng và ra tới đảo Sakhalin.

Xung đột với các nước láng giềng[sửa | sửa mã nguồn]

Ấn Độ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm cuộc viễn chinh của Anh vào Tây Tạng, Chiến tranh Trung-Ấnxung đột Sikkim.

Tân Cương/Đông Turkestan[sửa | sửa mã nguồn]

Vùng này vốn từng là lãnh thổ của các dân tộc du mục, trong đó đông đảo là người Duy Ngô Nhĩ theo Hồi giáo và nói tiếng Duy Ngô Nhĩ vốn gần với các ngôn ngữ Thổ. Từ thời nhà Đường, Trung Quốc đã đánh chiếm vùng này, song sau đó phải từ bỏ và vùng này dần trở thành vùng đất bị Hồi giáo hóa và Thổ hóa. Các nhà nước Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ đã hoạt động độc lập cho tới khi nhà Thanh bành trướng trở lại. Kể từ đó, đã có rất nhiều cuộc chiến tranh, nổi dậy và bạo lực dân tộc ở vùng này hòng tách khỏi Trung Quốc, song tất cả đều chỉ có độc lập một thời gian ngắn trước khi bị tái chiếm.

Người Duy Ngô Nhĩ đến nay luôn lo sợ việc mình trở thành thiểu số ngay tại quê nhà bởi các chính sách bài người Duy Ngô Nhĩ của Trung Quốc.

Kazakhstan[sửa | sửa mã nguồn]

Vẫn còn những tranh chấp và bất đồng tại khu vực sông Sarychildy, các đèo Chagan-Obo và Baimurza. Ngoài ra Trung Quốc còn muốn sử dụng thêm nguồn nước sông Irtysh cho công nghiệp và nông nghiệp ở tỉnh Tân Cương của Trung Quốc có thể sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường và kinh tế của Kazakhstan.

Liên Xô/Nga[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm

Mối quan hệ giữa hai nước đã được giàn xếp ổn thỏa năm 2004. Trung Quốc ngày nay cũng không còn đòi chủ quyền vùng Siberia của Nga nữa.

Tây Tạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Tạng vốn là vùng độc lập, rồi từng thuộc Trung Hoa vào thời nhà Nguyênnhà Thanh, rồi độc lập trong thời gian ngắn sau khi nhà Thanh sụp đổ. Năm 1949, Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền trên các lãnh thổ thuộc về nhà Thanh trước đây và không công nhận Tây Tạng là nước độc lập, và đem quân sáp nhập lãnh thổ này vào Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau 1 cuộc chiến ngắn ngày. Năm 1959, người Tây Tạng tiến hành cuộc nổi dậy đòi độc lập, song bị đàn áp đẫm máu, dẫn đến việc Tenzin Gyatso phải rời bỏ quê hương chạy sang Ấn Độ, tạo ra hiềm khích Ấn-Trung sau này.

Người Trung Quốc đã chiếm Tây Tạng năm 1950, tiến hành "Hán hóa" bằng cách di dân Hán từ nơi khác tới. Hiện nay, Tây Tạng được thế giới công nhận là lãnh thổ thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Xem:Tenzin Gyatso

Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Vương quốc Cao Câu Ly của người Triều Tiên hiện nay phần lớn nằm ở phía Trung Quốc. Đã có những tranh chấp gay gắt giữa hai nước khi các nhà làm phim Hàn Quốc dựng bộ phim Truyền thuyết Jumong, người Trung Quốc cho rằng Hàn Quốc cố tình viết lại lịch sử, trong khi người Hàn Quốc cho rằng lãnh thổ đó phải thuộc về mình và người Triều Tiên đã bị đồng hóa thành người gốc Hán.

Bên cạnh đó, ở Hàn Quốc, người dân cũng đang phẫn nộ về việc Trung Quốc kiểm soát một phần ngọn núi được coi là linh thiêng trong thần thoại của người Triều Tiên. Được gọi là núi Paektu theo Hàn Quốc và Changbai theo phía Trung Quốc, ngọn núi đứng giữa biên giới Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên.

Lưu ý: Nhà Nguyên và nhà Thanh không được coi là triều đại của người Trung Hoa mãi đến sau Cách mạng Tân Hợi

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam từng bị Trung Quốc đô hộ trong 10 thế kỷ (Từ thế kỉ 2 TCN đến năm 938), là nước luôn bị Trung Quốc nhòm ngó trong suốt thời kỳ phong kiến. Trong tất cả các triều đại/chính phủ của Trung Quốc từng kiểm soát lãnh thổ giáp ranh với Việt Nam (Tần, Hán, Ngô, Đường, Tống,,Minh, Trung Hoa Dân Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa), triều đại/chính phủ nào cũng đưa quân sang Việt Nam với ý định thôn tính lãnh thổ hoặc ít nhất là kiểm soát chính quyền. Các cuộc kháng chiến chống Trung Quốc được xem là một trong những chủ đề chính của lịch sử Việt Nam. Gần đây nhất là trận chiến tại Hoàng Sa (1974), tại Đá Gạc Ma (1988) và chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 do quân đội Trung Quốc tấn công nhằm làm khó khăn cho Việt Nam trong chiến dịch tiêu diệt Khmer Đỏ nhưng đã bị quân và dân Việt Nam chặn đứng ngay từ lúc xuất binh. Do vậy mục tiêu mà Trung Quốc đề ra là có thể tấn công vào Hà Nội để đoạt chính quyền của Việt Nam mà lúc đó đang thân Liên Xô - chống Trung Quốc đã phải hủy bỏ. Trung Quốc chỉ chiếm được 4 thị xã là Lào Cai, Cam Đường, Cao Bằng, Lạng Sơn, còn Lai Châu và Hà Giang thì chỉ bị phá hủy và 17 huyện là Đinh Lập, Lộc Bình, Cao Lộc, Tràng Định, Văn Lãng của Lạng Sơn, Thông Nông, Hà Quảng, Hòa An, Thạch An, Trùng Khánh, Trà Lĩnh, Hạ Lang, Quảng Hòa của Cao Bằng, Vị Xuyên, Yên Minh của Hà Giang, Sìn Hồ, Phong Thổ của Lai Châu.

Myanmar[sửa | sửa mã nguồn]

Là một trong số những quốc gia giáp biên giới Trung Quốc, nhiều năm lịch sử qua, Myanmar, cũng như Việt Nam, phải đối mặt với nguy cơ xâm lược từ Trung Quốc bất chấp sự gần gũi về nguồn gốc và ngôn ngữ giữa hai nước. Một số triều đại Trung Quốc như nhà Nguyên, nhà Minhnhà Thanh đã nhiều lần đưa quân bành trướng vào phía Nam. Trong những năm về sau, Trung Quốc đã ráo riết ủng hộ các lực lượng thiểu số ly khai chống lại chính phủ Miến Điện và đã tài trợ rất nhiều tiền và vũ khí. Song song đó, Trung Quốc cũng lợi dụng bạo lực sắc tộc ở Myanmar để ủng hộ chính phủ quân sự Myanmar (1988-2011), để mưu cầu tham vọng mở rộng tầm ảnh hưởng tại khu vực Đông Nam Á. Nhiều hoạt động đầu tư của Trung Quốc cũng liên quan tới điều này.

Trong thời kỳ mới[sửa | sửa mã nguồn]

Sau tiến hành đổi mới những năm 1970, Trung Quốc dần dần trở thành một trong những cường quốc lớn trên thế giới. Tính tới 2010, Trung Quốc là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Với sức mạnh của tiềm lực kinh tế, tư tưởng mở rộng tầm ảnh hưởng của Trung Quốc đã và đang trỗi dậy mạnh mẽ. Một mặt, Trung Quốc vẫn duy trì chính sách ngoại giao mềm dẻo (củ cà rốt), một mặt sử dụng sức mạnh quân sự để gây sức ép với các nước khác, đặc biệt là các nước láng giềng trong các vụ tranh chấp lãnh thổ và tầm ảnh hưởng.

Trung Quốc đã và đang thiết lập quan hệ ngoại giao chặt chẽ với các quốc gia khác, xây dựng quan hệ đối tác với Mỹ và EU. Với các cường quốc, Trung Quốc tận dụng các mối quan hệ, tránh đụng độ, tuân thủ nguyên tắc ngoại giao đặt ra 40 năm trước của Đặng Tiểu Bình, đó là "giấu mặt". Mặt khác, khi quan hệ với những nước nhỏ đó, Trung Quốc dễ dàng đưa lực lượng các tập đoàn kinh tế hùng hậu của mình sang thâu tóm nền kinh tế còn yếu kém của các nước đó, ví dụ với Lào, Campuchia, Miến Điện hay Việt Nam.

Gần đây là quan hệ với khu vực châu Phi nhiều tài nguyên. Chính ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc đã làm các nước phương Tây lo sợ lẫn sự nghi kị của người dân các nước châu Phi đó.

Hiện nay Trung Quốc muốn mở rộng ảnh hưởng xuống phương Nam, tại các nước Miến Điện, Việt Nam, Lào, Camuchia bằng những phương pháp từ lộ liễu đến tinh vi, từ hợp tác kinh tế, viện trợ kinh tế - tài chính - giáo dục - văn hóa, đẩy mạnh thương mại một chiều, làm đường sá, khai thác khoáng sản, năng lượng, cấy dân cư, đề xướng cư dân lân bang đi lại không hộ chiếu, cho đến thủ đoạn then chốt là mua chuộc nhóm lãnh đạo chính trị của các nước này.[1][2]

Campuchia[sửa | sửa mã nguồn]

Campuchia là một quốc gia giáp biên giới với Việt Nam, phần lãnh thổ phía nam của Việt Nam trước kia là Đế chế Khmer. Tuy nhiên, sau nhiều năm nội chiến, đất nước suy yếu và Campuchia mất dần lãnh thổ vào tay các chúa Nguyễn, triều đình nhà Nguyễn qua các đợt di dân của người Việt. Vì thế, người Campuchia luôn có mâu thuẫn với Việt Nam, nhiều người Campuchia sẵn sàng gây chiến tranh để đòi lại vùng đất mà họ cho rằng lẽ ra phải thuộc về họ.[3]

Về Campuchia, Trung Quốc định dùng quốc gia này gây náo loạn vùng biên giới Tây Nam Việt Nam. Thời kì 1979-1989, chế độ Khmer Đỏ dưới sự ủng hộ của chính quyền Trung Quốc đã tạo nên nhiều cuộc chiến tranh man rợ và dã man nhằm vào nhân dân Việt Nam. Sau đó, Trung Quốc tiếp tục dụ dỗ những người Việt gốc Hoa di dân khỏi Việt Nam (vấn đề "Nạn kiều" theo cách gọi của họ), gây náo loạn cho khu vực biên giới phía Bắc. Ngày nay, người dân Campuchia vẫn không hoàn toàn thích sự có mặt của người Việt Nam trên đất nước họ, và đây là vấn đề mà nhà nước Trung Quốc tiếp tục khai thác triệt để, như quốc vương thân Trung Quốc Norodom Sihanouk-một nhân vật có thiên hướng chống Việt Nam [cần dẫn nguồn], mặc dù hiện nay chính phủ của ông Hun Sen là chính phủ thân Việt Nam. [cần dẫn nguồn]

Pakistan[sửa | sửa mã nguồn]

Pakistan là một quốc gia Hồi giáo, được tách ra từ Ấn Độ. Quốc gia này có khá nhiều mâu thuẫn với Ấn Độ như: Ấn Độ giúp Bangladesh tách khỏi Pakistan, vấn đề tranh chấp vùng Kashmir, xung đột tôn giáo giữa đạo Hinduđạo Hồi. Lợi dụng những tranh chấp này, Trung Quốc đã thiết lập quan hệ ngoại giao khá gần gũi với Pakistan, và nhờ đó Pakistan gây rất nhiều khó khăn cho Ấn Độ. Trong những năm gần đây sự hợp tác này còn sâu đậm hơn thậm chí Trung Quốc còn ký vài hiệp ước bảo vệ với Pakistan [cần dẫn nguồn]. Trung Quốc là một nguồn cung cấp chính thức các thiết bị quân sự cho Pakistan và đã hợp tác với Pakistan trong việc sản xuất những vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại.

Trong những năm trở lại đây, việc Trung Quốc chính thức bắt đầu Hành lang kinh tế Pakistan - Trung Quốc, đã làm gia tăng mối quan ngại từ Ấn Độ do nó đi qua vùng tranh chấp Kashmir.

Trước sự trỗi dậy của Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu tìm hướng gây ảnh hưởng đối đầu với Ấn Độ.

Bắc Triều Tiên[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên hiện nay là một trong những quốc gia nghèo ở vùng Đông Á, bên cạnh các quốc gia giàu mạnh như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan. Nhà nước này đang được sự hậu thuẫn rất nhiều từ phía đồng minh Trung Quốc. Trước đây, với sự giúp đỡ của Trung Quốc, Triều Tiên đã có cuộc chiến tranh với Hàn Quốc (1950-1953), nhằm thống nhất lãnh thổ, nhưng dưới sự can thiệp của Hoa Kỳ và các đồng minh, Triều Tiên đã không thành công.

Hiện nay, vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên là nỗi lo lớn của các nước tại khu vực Đông Á, đã có nhiều cuộc đàm phán nhằm tìm giải pháp cho vấn đề này nhưng cũng chưa giải quyết trọn vẹn. Thông qua việc ngầm ủng hộ Triều Tiên, Trung Quốc đã gián tiếp đe dọa an ninh của Nhật Bản, quốc gia có nền kinh tế lớn thứ 3 trên thế giới. Điều đó đã buộc Nhật Bản nâng Cục Phòng vệ thành Bộ Quốc phòng nhằm cân bằng lực lượng.

Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Khi Bắc Kinh đã đưa Giàn khoan 981 vào vùng biển Việt Nam vào năm 2014, mối quan hệ giữa Hà Nội và Bắc Kinh đã cho thấy sự lệ thuộc giữa cựu thuộc địa và mẫu quốc, và các căng thẳng tranh chấp về chủ quyền biển đảo. Những bất ổn ngoại giao giữa hai nước cũng như việc hai chế độ chia sẻ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa, càng làm phức tạp vấn đề giữa hai quốc gia.

Myanmar[sửa | sửa mã nguồn]

Vấn đề người Rohingya thiểu số thường được chính phủ Trung Quốc trong những năm qua lợi dụng để mua chuộc quyền lợi của giới lãnh đạo Myanmar, đặc biệt là nhà hoạt động dân chủ Aung San Suu Kyi, người đang bị chỉ trích gay gắt về vấn đề nhân quyền và bạo lực sắc tộc, cũng như việc chính phủ Myanmar, vốn 25% vẫn bị kiểm soát bởi giới quân sự, châm ngòi tư tưởng dân tộc Phật giáo cực đoan ở Myanmar.

Nhiều người lo ngại việc chính phủ Myanmar vốn đang càng ngày càng bị dân tộc cực đoan hóa, tiếp tục con đường đối đầu với người thiểu số chiếm tới 40% nước này, có thể là cái cớ cho Trung Quốc để mở ngòi nổ mâu thuẫn lâu năm giữa các sắc tộc thiểu số ở Myanmar, do Trung Quốc vẫn luôn tài trợ và ủng hộ các nhóm sắc tộc ly khai ở nước này.

Afghanistan[sửa | sửa mã nguồn]

Do Pakistan, một đồng minh lâu năm của Trung Quốc, đã ủng hộ TalibanAfghanistan và được Trung Quốc ngấm ngầm hậu thuẫn, một lượng lớn người Afghanistan đã nghi ngờ Trung Quốc âm mưu tìm cách nhúng tay vào bất ổn ở Afghanistan, gây ra một làn sóng lo sợ về chủ nghĩa bá quyền Trung Hoa với chính phủ Kabul.

Ahmed Shah Masoud, người anh hùng dân tộc Afghanistan, đã ngấm ngầm chỉ đích danh Trung Quốc là nhà tài trợ cho Taliban, chỉ sau Pakistan và Ả Rập Xê Út.

Mông Cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Người Trung Quốc di cư vào Mông Cổ với số lượng lớn trở lại đây đang khiến người bản địa nghi ngờ rằng Trung Quốc định đồng hóa Mông Cổ.

Nepal[sửa | sửa mã nguồn]

Nepal vốn là quốc gia kẹp giữa hai nước Trung Quốc và Ấn Độ từ 1950, do hệ quả của việc sáp nhập Tây Tạng bởi Trung Quốc năm 1950. Trong những năm qua, việc các chính phủ Nepal dần dần rơi vào tay các nhóm ủng hộ chủ nghĩa cộng sản Maoist thân Trung Quốc trong khi các chính phủ Ấn Độ ngày càng trở nên cực hữu theo thời gian, đã khiến Trung Quốc tìm cách lợi dụng những mâu thuẫn ngoại giao và lãnh thổ giữa Ấn Độ và Nepal, đặc biệt là vấn đề người Madhesh vốn thân Ấn Độ. Việc Ấn Độ phân bố một lực lượng quân sự khổng lồ ở biên giới với Trung Quốc so với việc Trung Quốc có quá ít sự hiện diện quân sự ở Tây Tạng giáp Ấn Độ buộc Trung Quốc phải sử dụng Nepal, một quốc gia trung lập, để đối phó và quấy nhiễu Ấn Độ. Các hoạt động của Trung Quốc trong nhiều năm qua ở Nepal, dù hạn chế, song đã gia tăng trong những năm trở lại đây, cộng với việc nhiều người Nepal vốn nghi kỵ Ấn Độ, càng ngày càng trở nên thân Trung Quốc, gây ra vô cùng nhiều trắc trở. Cùng lúc đó, Nepal cũng giúp Trung Quốc càn quét và trấn áp các nhóm đòi ly khai Tây Tạng lưu vong ở Nepal, gây nỗi sợ về việc Nepal rơi vào tay Trung Quốc trong tương lai.

Thái Lan[sửa | sửa mã nguồn]

Thái Lan vốn nổi tiếng là có truyền thống quan hệ ngoại giao thân cận với Trung Quốc trong quá khứ, và điều này đã được các lãnh đạo Trung Quốc sử dụng triệt để. Các triều đại Trung Quốc trong lịch sử thường ủng hộ Xiêm La chống lại Miến Điện, đối thủ khó ưa của cả hai nước, trong khi cùng lúc đó cũng bênh vực các hoạt động quân sự của Xiêm La chống Lào và Campuchia.

Hiện nay, với việc người Thái gốc Hoa chiếm tới hơn 40% dân số nước này và cũng là cộng đồng người Hoa lớn nhất thế giới, Thái Lan được xem như là "ổ ngoại giao" của Trung Quốc trong khu vực. Trung Quốc thường sử dung Thái Lan, bất chấp Thái Lan là một đồng minh của Hoa Kỳ, để mưu toan cho kế hoạch riêng, cũng như là tạo tham vọng ở châu lục. Nhiều nhà đầu tư của Trung Quốc đã rót vốn vào Thái Lan trong nhiều năm trở lại đây.

Theo các nhà ngoại giao Mỹ ở Thái Lan thuật lại, thì Thái Lan "đã thất bại trong việc chia sẻ mối quan ngại về chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc", khi cố tìm cách thân thiện với Bắc Kinh nhiều hơn là ứng phó lại.

Malaysia[sửa | sửa mã nguồn]

Malaysia là nước có cộng đồng người Hoa lớn thứ hai thế giới chỉ sau Thái Lan. Các vương triều Mã Lai thường có quan hệ giao hảo với Trung Quốc và, không giống như các quốc gia khác ở châu lục, Malaysia không có chính sách đồng hóa người Hoa. Điều này trở thành vũ khí cho Trung Quốc sử dụng triệt để và trong nhiều năm qua, mặc dù có vần đề tranh chấp lãnh thổ ở biển Đông, Malaysia dường như tìm cách "dìm nó trong im lặng", hơn là phản ứng lại nó, để đổi lấy đầu tư từ Trung Quốc. Một số nhà ngoại giao Malaysia đã bày tỏ thất vọng và cho rằng đó thể hiện "sự vô dụng của Malaysia" trên vấn đề tranh chấp lãnh thổ.

Sri Lanka[sửa | sửa mã nguồn]

Là một quốc gia Phật giáo đa số và có truyền thống thân Ấn Độ, song trong nhiều năm qua, Trung Quốc nổi lên như một nhà viện trợ kinh tế cho nước này sau cuộc nội chiến Sri Lanka. Cựu Tổng thống Mahinda Rajapaksa, một Người Sinhala theo tư tưởng thân Trung Quốc, đã có nhiều chính sách ủng hộ Trung Quốc cũng như tìm cách gây dựng một chính phủ phân biệt chủng tộc và độc tài theo mô hình Bắc Kinh, gây ra sự hoảng sợ từ Ấn Độ cũng như những người Sinhala phản đối Trung Quốc. Dưới thời Tổng thống Maithripala Sirisena, Sri Lanka đã dần cân bằng ngoại giao hơn và Sirisena cũng không quá thân thiết với Trung Quốc như trước, song vẫn tồn tại một nỗi sợ từ ảnh hưởng Trung Hoa ở Sri Lanka.

Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

Philippines luôn có hiềm khích với Trung Quốc do các tranh chấp Biển Đông cũng như việc Trung Quốc gia tăng hành động bành trướng trong vùng, tuy nhiên do có lực lượng quân sự yếu và trong những năm trở lại đây, Philippines lệ thuộc vào đầu tư của Trung Quốc, chính phủ Philippines thường dựa vào Hoa Kỳ, đồng minh hiếm hoi, để ứng phó với điều này.

Thế nhưng sau chiến thắng của Rodrigo Duterte năm 2016, Philippines đã có khuynh hướng càng ngày càng ngả nghiêng và thân Trung Quốc nhiều hơn, tạo ra vết nứt trong ngoại giao với các nước châu Á khác và Hoa Kỳ, tạo điều kiện cho Trung Quốc khuếch trương sức mạnh uy hiếp Philippines.

Indonesia[sửa | sửa mã nguồn]

Indonesia từ lâu luôn nổi tiếng với chính sách đối địch và nặng tư tưởng bài Trung Quốc do yếu tố lịch sử. Trong tranh chấp biển Đông, mặc dù Indonesia không có tuyên bố chủ quyền, song việc Trung Quốc đòi chủ quyền với bãi cạn Natuna nằm gần biển Đông do Indonesia kiểm soát đã gây bất bình rất lớn ở Indonesia.

Singapore[sửa | sửa mã nguồn]

Dù là quốc gia có dân số gốc Hoa lớn, Singapore lại đi theo con đường trung lập thân phương Tây hơn là ngả theo Trung Quốc, và thường làm Trung Quốc không hài lòng.

Đài Loan[sửa | sửa mã nguồn]

Đài Loan vốn là một hòn đảo được cai trị bởi người Trung Quốc kể từ thời nhà Thanh sau khi những người ủng hộ vương triều cũ bị đánh bại, cho đến khi Trung Quốc bị đánh bại bởi Nhật Bản năm 1895. Chính việc Nhật Bản đánh chiếm Đài Loan đã khiến Đài Loan có lịch sử phức tạp sau này. Dưới thời Nhật, Đài Loan từng được coi là thuộc địa kiểu mẫu cho tới khi Nhật Bản đầu hàng năm 1945. Khi đấy, Trung Hoa Dân Quốc mới là nhà nước hợp pháp của Trung Quốc và tiếp quản Đài Loan, song do thất bại trong cuộc Nội chiến Trung Quốc năm 1949, Tưởng Giới Thạch và các lãnh đạo Trung Quốc Quốc dân Đảng đã bỏ đại lục tới Đài Loan. Vì vậy, điểm này trở thành mấu chốt trong xung đột ngoại giao và lịch sử sau này giữa hai bên. Trước năm 1975, Tưởng coi Chính phủ Trung Hoa Dân quốc là đại diện hợp pháp duy nhất của toàn Trung Hoa và cấm các phe phái đòi độc lập lên tiếng.

Song, từ những năm cuối thập niên 1980, Lý Đăng Huy lên nắm quyền, đã gỡ bỏ kiểm soát truyền thông cũng như lên tiếng ủng hộ Đài Loan độc lập, gây xung đột lợi ích với Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa vốn xem Đài Loan là lãnh thổ của mình. Điều này đã trở thành điểm đối đầu của hai nước và đã đẩy hai bên vào thế địch thủ. Trung Quốc đã nhiều lần đe dọa sử dụng vũ lực tấn công Đài Loan nếu hòn đảo này tuyên bố độc lập.

Tajikistan[sửa | sửa mã nguồn]

Tajikistan vốn không có truyền thống xung đột lãnh thổ với Trung Quốc, song cộng đồng người Tajik vốn sinh sống rải rác nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt nhiều nhất là ở Afghanistan, nơi đã bị giày xéo bởi chiến tranh, luôn có ác cảm với Trung Quốc bởi rất nhiều lý do. Trong lịch sử, nhà Thanh đã tấn công Kashgaria, một nhà nước Hồi giáo Tân Cương do người Tajik hậu thuẫn; việc Trung Quốc đã ngấm ngầm làm ngơ cho các hoạt động khủng bố của lực lượng Taliban do người Pashtun đứng sau diệt chủng người Tajik; việc Trung Quốc ủng hộ Pakistan, kẻ thù của người Tajik; và các hoạt động kinh tế được cho là không trong sạch của Trung Quốc ở Tajikistan; luôn khiến người Tajik thù hận Trung Quốc.

Bhutan[sửa | sửa mã nguồn]

Hai nước luôn căng thẳng do không có quan hệ ngoại giao chính thức và việc Trung Quốc đòi chủ quyền với cao nguyên Doklam, và ảnh hưởng Ấn Độ trong đó, khiến hai nước luôn ở thế đối đầu.

Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan[sửa | sửa mã nguồn]

Thổ Nhĩ KỳAzerbaijan là hai quốc gia nằm khá xa so với Trung Quốc nhưng cùng chia sẻ nguồn gốc Thổ tộc và nói tiếng Thổ, và trong lịch sử đã ghi nhận rất nhiều cuộc chiến của các sắc tộc người Thổ với các triều đại Trung Hoa trước cuộc di cư của người Thổ tới tiểu Á. Vì lẽ đó, người Thổ có một lịch sử khá thù hằn và đẫm máu với Trung Quốc. Nó liên quan tới rất nhiều vấn đề như viết lại lịch sử giữa hai nước, khác biệt tôn giáo, chính trị, nhưng điểm mấu chốt tới từ sự xâm chiếm Tân Cương vốn là lãnh thổ được người Thổ xem là quê hương lịch sử của họ. Đã có nhiều những cuộc xung đột ngoại giao và chính trị giữa hai nước này, và Trung Quốc thường cáo buộc Thổ Nhĩ Kỳ "xách động bất ổn" bằng việc ủng hộ các phong trào ly khai ở đây, song bị Thổ Nhĩ Kỳ bác bỏ. Trước đây, hai nước này cũng đụng độ quân sự trong chiến tranh Triều Tiên, và lính Thổ thường bị lính Trung Quốc căm thù vô cùng do sự nhẫn tâm của lính Thổ với tù binh của họ.

Hai nước này tiếp tục đối đầu về mặt tranh giành ảnh hưởng ở Pakistan vốn là đồng minh của cả hai, và Afghanistan, việc Thổ Nhĩ Kỳ cân bằng ngoại giao với Ấn Độ để đương đầu với Trung Quốc, cũng như quan hệ tốt đẹp giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hàn Quốc, hai quốc gia vốn đã sát cánh cùng nhau chống Trung Quốc trước đây, và Thổ Nhĩ Kỳ vật vờ trong vấn đề Đài Loan, khiến xung đột giữa hai bên tiếp tục ngấm ngầm căng thẳng.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Do bản tính cũng như lịch sử hiếu chiến của Trung Quốc, phần đông các quốc gia lân bang cũng như các học giả cho rằng Trung Quốc thực sự là một nỗi lo ngại cho các láng giềng lân bang. Nhiều người cáo buộc Trung Quốc có âm mưu muốn đồng hóa và gây nguy hiểm cho các nước lân bang bằng các hoạt động diệt chủng văn hóa láng giềng, quân sự hóa và bành trướng.

Tuy nhiên, những người theo Chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc thì lại bác bỏ hoàn toàn rằng Trung Quốc là một thế lực bá quyền hung bạo, cho rằng Trung Quốc là một quốc gia hòa bình, thân thiện, nhưng phải đối mặt với các láng giềng hung hăng, thích gây hấn để đe dọa sự thống nhất Trung Hoa. Cuộc Chiến tranh biên giới Việt–Trung 1979 là một trong số những cuộc chiến mà những nhà dân tộc chủ nghĩa Trung Quốc lợi dụng để lý giải lý do đó.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “404”. Báo Đất Việt. Truy cập 13 tháng 10 năm 2015. 
  2. ^ “China's Ambitions in Myanmar”. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015. 
  3. ^ “Thủ tướng Hun Sen: Không có chuyện "đòi" Phú Quốc, Nam Bộ”. 27 tháng 7 năm 2015. Truy cập 17 tháng 11 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]