Vương Chiêu Quân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Chiêu Quân)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Vương Chiêu Quân
Yên chi của người Hung Nô
Wang Zhaojun.png
Thông tin chung
Phối ngẫu Hán Nguyên Đế
Hô Hàn Tà
Phục Chu Luy Nhược Đề
Hậu duệ Y Chư Trí Nha Sư
Tu Bốc Cư Thứ
Đương Vu Cư Thứ
Tên đầy đủ Vương Tường (王牆)
Tước hiệu Ninh Hồ Yên Chi (宁胡阏氏)

Vương Chiêu Quân (chữ Hán: 王昭君, bính âm: Wang zhào jun; 51 TCN - 15 TCN) là một mỹ nhân thời nhà Hán, một trong Tứ đại mỹ nhân của lịch sử Trung Quốc. Về sau do kiêng húy của Tư Mã Chiêu, nàng được đổi gọi là Minh phi (明妃).

Với sắc đẹp được ví là Trầm ngư Lạc nhạn (沉鱼落雁)[1], Họa công kí thị (畫工棄市)[2], câu chuyện về nàng trở thành một đề tài sáng tác phổ biển của thi ca, nghệ thuật. Vương Chiêu Quân đi vào lịch sử Trung Quốc như một người đẹp hòa bình, trở thành hình ảnh tiêu biểu cho nền chính trị Hòa thân.

Nàng là một trong Hai đại mỹ nhân của lịch sử nhà Hán cùng với một mỹ nhân khác tên Triệu Phi Yến.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nàng sinh vào năm Cam Lộ thứ 3 (51 TCN), tên thật là Vương Tường (王牆), tựChiêu Quân (昭君)[3], là con gái của một gia đình thường dân ở Tỉ Quy (秭归), Nam Quận (南郡), nay là huyện Hưng Sơn, tỉnh Hồ Bắc. Vương Chiêu Quân được trời phú nhan sắc tuyệt trần, cử chỉ phong nhã, lời ăn tiếng nói dịu dàng thanh cao, mắt ngọc mày ngài không có tỳ vết và trí thông minh.

Năm Kiến Chiêu nguyên niên (38 TCN), do thông thạo đàn tỳ bà và tứ nghệ gồm: cầm, kì, thi, họa, Vương Chiêu Quân được tuyển vào nội cung vào đời Hán Nguyên Đế. Trong thời gian ở hậu cung, nàng chưa bao giờ được gặp mặt Hoàng đế và vẫn chỉ là một cung nữ (宮女). Theo truyền thuyết, vì số phi tần trong hậu cung của Hán Nguyên Đế quá đông, nên hoàng đế ra lệnh cho họa sĩ Mao Diên Thọ (毛延壽) phải vẽ hình các cung phi để hoàng đế chọn. Các cung phi thường lo lót tiền cho họa sĩ để được vẽ cho đẹp, mong hoàng đế để ý tới. Chiêu Quân từ chối đút lót cho Mao Diên Thọ, hậu quả bức chân dung nàng thật xấu xí nên nàng không được Hán Nguyên Đế để mắt tới.

Năm Cánh Ninh nguyên niên (33 TCN), chính nguyệt, lúc đó Hung Nô phía Bắc đã thống nhất được Nam bắc sau thời kỳ chia cắt, thiền vu Hung NôHô Hàn Tà (呼韓邪) đến kinh đô Trường An để tỏ lòng thần phục nhà Hán, một phần trong hệ thống triều cống giữa nhà Hán và Hung Nô. Thiền vu nắm lấy cơ hội để đề nghị được trở thành con rể của Nguyên Đế. Thay vì gả một Công chúa cho Thiền vu thì Hô Hàn Tà đã được ban cho cung nữ Vương Chiêu Quân[4].

Theo truyền thuyết, khi được Hô Hàn Tà yêu cầu, Hán Nguyên Đế ra lệnh trong các cung nữ: "Ai tình nguyện lấy thiền vu Hung Nô sẽ được coi như công chúa". Các cung nữ đều ngần ngại sang Hung Nô. Có cung nữ Vương Chiêu Quân tình nguyện lấy Hô Hàn Tà. Đến ngày hôn lễ giữa Hô Hàn Tà và Vương Chiêu Quân, Nguyên Đế thấy nàng xinh đẹp nên rất hối tiếc. Ông bèn hạ lệnh mang bức tranh nàng ra xem, thì thấy bức tranh do họa sĩ Mao Diên Thọ vẽ không giống chân dung thật. Nguyên do vì Mao Diên Thọ bắt các cung nữ phải đút lót mới vẽ hình đẹp để được vào gặp thiên tử, nếu không chịu hối lộ sẽ bị vẽ hình xấu. Nguyên Đế thấy tranh Mao Diên Thọ vẽ sai với người thật, bèn sai xử trảm Thọ.

Vương Chiêu Quân trở thành sủng phi của Hô Hàn Tà, được phong là Ninh Hồ Yên Chi (宁胡阏氏) [5]. Họ sinh được người con trai, tên gọi là Y Chư Trí Nha Sư (伊屠智牙師), sau trở thành Nhật Trực vương[6][7][8][9].

Năm Kiến Thủy thứ 2 (31 TCN), Hô Hàn Tà chết, Chiêu Quân muốn trở về Trung Quốc, nhưng Hán Thành Đế đã buộc nàng phải theo tập quán nối dây của người Hung Nô[10] và Chiêu Quân trở thành phi tần của thiền vu tiếp theo là Phục Chu Luy Nhược Đề (復株累若鞮) - con trai lớn của Hô Hàn Tà. Trong cuộc hôn nhân mới này nàng có hai người con gái, Tu Bốc Cư Thứ (須卜居次) và Đương Vu Cư Thứ (當于居次).

Năm Hồng Gia nguyên niên (20 TCN), Phục Chu Luy Nhược Đề qua đời, em là Sưu Hài Nhược Đê Thiền vu (搜諧若鞮單于) kế vị.

Năm Vĩnh Thủy thứ 2 (15 TCN), Chiêu Quân qua đời. Sau khi chết, Chiêu Quân được táng tại Thanh Trủng, lăng mộ hiện nay vẫn còn tại phía nam thành Hô Hòa Hạo Đặc, Nội Mông Cổ[11].

Kể từ thế kỉ 3 trở đi thì câu chuyện về Chiêu Quân đã được phóng tác nên như là hình tượng của một nhân vật nữ đầy bi thương trong nhiều tác phẩm thơ ca hay kịch, thông qua ngòi bút của các thi sĩ như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vương An Thạch, Quách Mậu Thiến, Mã Trí Viễn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Tiễn Bá Tán,…

Truyền thuyết[sửa | sửa mã nguồn]

Chiêu Quân xuất tái[sửa | sửa mã nguồn]

Thanh Trủng tại Nội Mông Cổ

Câu chuyện về Chiêu Quân được gọi Chiêu Quân xuất tái (昭君出塞) trở thành một điển tích nổi tiếng trong thi ca Trung Quốc về sau.

Truyền thuyết nói rằng, khi Chiêu Quân đi ngang một hoang mạc lớn, lòng nàng chan chứa nỗi buồn vận mệnh cũng như lìa xa quê hương. Nhân lúc ngồi lưng ngựa buồn u uất, liền đàn "Xuất tái khúc". Có một con ngỗng trời bay ngang, nghe nỗi u oán cảm thương trong khúc điệu liền ruột gan đứt đoạn và sa xuống đất. Từ "Lạc nhạn" trong câu "Trầm ngư lạc nhạn" (沉魚落雁; chim sa cá lặn) do đó mà có.

Khi qua Nhạn Môn Quan, cửa ải cuối cùng, Chiêu Quân được cho là đã cảm tác nhiều bài thơ rất cảm động. Tiếng đàn của Chiêu Quân ở Nhạn Môn Quan trở thành điển tích Hồ Cầm.

Ngôi làng quê hương của nàng ngày nay mang tên là làng Chiêu Quân. Dòng suối, nơi tương truyền nàng từng ra giặt vải trước khi được tuyển vào hoàng cung, được đặt tên là Hương Khê (suối thơm) để tưởng nhớ nàng. Trong miền Nội Mông Cổ có hai địa điểm được cho là mộ của Chiêu Quân, một gần Hohhot và một gần Bao Đầu, cả hai đều xanh ngắt cỏ tươi, nên đều được gọi là Thanh Trủng (mồ xanh).

Những chi tiết còn mâu thuẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nhắc đến Vương Chiêu Quân, hẳn rất nhiều người biết đó là một trong "Tứ đại mỹ nhân" của Trung Hoa cổ đại. Nhưng tại một làng quê nhỏ vùng đồng bằng Bắc bộ (làng Diêm Tỉnh, xã Thụy Dũng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, Việt Nam) cũng có một Vương Chiêu Quân mà đền thờ còn hiển hiện và thần tích còn ghi rõ.
  • Khi vẽ Chiêu Quân, có thuyết cho rằng Mao Diên Thọ đã vẽ thêm một nốt ruồi dưới khóe mắt và tâu với Hán Nguyên Đế đó là "Sát phu trích lệ", tướng sát chồng. Vì vậy Hán Nguyên Đế không cho vời nàng tới tận khi Chiêu Quân bị cống sang Hung Nô. Một thuyết khác thì Chiêu Quân tài hoa tự vẽ chân dung của mình, nhưng bức tranh đó bị Mao Diện Thọ điểm thêm nốt ruồi "Sát phu trích lệ".
  • Nhà văn nổi tiếng Thái Ung cho rằng Nguyên Đế đã từng gặp Chiêu Quân, nhưng không biết cảm nhận vẻ đẹp của nàng. Chiêu Quân vô cùng thất vọng và đau khổ sau nhiều năm sống cô độc trong cung cấm. Từ đó, Thái Ung kết luận rằng quyết định sang Hung Nô của Chiêu Quân là một hành động phản kháng lại Nguyên Đế.
  • Nhà sử học Ngô Quân đã cho ra một dị bản về câu chuyện của nàng như sau: "Vì số phi tần trong hậu cung của Hán Nguyên Đế quá đông, nên hoàng đế ra lệnh cho các họa sĩ phải vẽ hình các cung phi để hoàng đế chọn. Các cung phi thường lo lót tiền cho họa sĩ để được vẽ cho đẹp, mong hoàng đế để ý tới. Chiêu Quân từ chối đút lót cho họa sĩ là Mao Diên Thọ, hậu quả bức chân dung nàng thật xấu xí nên nàng không được Hán Nguyên Đế để mắt tới. Một hôm Hoàng hậu tình cờ biết tới Chiêu Quân qua tiếng đàn lâm li ai oán của nàng. Bà đưa Chiêu Quân tới gặp Hán Nguyên Đế. Hán Nguyên Đế ngỡ ngàng vì sắc đẹp của nàng, phong Chiêu Quân làm Minh phi. Mao Diên Thọ bị Hán Nguyên Đế quở trách, đem lòng oán hận Chiêu Quân, lấy chân dung Chiêu Quân nạp cho thiền vu Hung NôHô Hàn Tà (呼韓邪). Thiền vu Hung Nô say đắm sắc đẹp của nàng, cất quân sang đánh, buộc Hán Nguyên Đế phải cống nạp Chiêu Quân thì mới bãi binh. Hán Nguyên Đế đành phải đem Chiêu Quân sang cho Hung Nô".
  • Về cái chết của Chiêu Quân cũng có nhiều giả thuyết.
  1. Đến Nhạn Môn Quan, Chiêu Quân gieo mình xuống sông tự vẫn.
  2. Chiêu Quân đến đất Hồ, nàng yêu cầu thiền vu Hồ giết chết gian thần Mao Diên Thọ, rồi sau đó nàng tìm cách tự tử, nhảy xuống sông để xác nàng theo dòng trôi trở về đất Trung Nguyên.
Tranh vẽ Vương Chiêu Quân rời khỏi Trung nguyên

Hình ảnh trong thi ca nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Thi ca[sửa | sửa mã nguồn]

Chiêu Quân cầm tỳ bà, tranh vẽ thời Edo, Nhật Bản

Những tác phẩm thơ ca viết về Chiêu Quân xuất hiện vào khoảng từ đầu thế kỷ 7 đến cuối thế kỷ 13, thường dựa trên những dị bản của Ngô Quân. Đa số đều nói về sự ra đi cùng nỗi oán hận của nàng. Chiêu Quân thường xuất hiện với một vẻ đẹp u buồn, choàng khăn đỏ, mặc áo lông, ôm đàn tỳ bà, cùng với một con bạch mã.

Nhà thơ Lý Bạch viết hai bài thơ về Chiêu Quân:

王昭君其一
...
漢家秦地月,
流影照明妃。
一上玉關道,
天涯去不歸。
漢月還從東海出,
明妃西嫁無來日。
燕支長寒雪作花,
蛾眉憔悴沒胡沙。
生乏黃金枉圖畫,
死留青冢使人嗟。
Vương Chiêu Quân kỳ 1
...
Hán gia Tần địa nguyệt,
Lưu ảnh chiếu Minh Phi.
Nhất thướng Ngọc Quan đạo,
Thiên nhai khứ bất quy.
Hán nguyệt hoàn tòng Đông hải xuất,
Minh Phi tây giá vô lai nhật.
Yên Chi trường hàn tuyết tác hoa,
Nga my tiều tụy một Hồ sa.
Sinh phạp hoàng kim uổng đồ họa,
Tử lưu thanh trủng sử nhân ta.
Dịch thơ, bởi Trúc Khê
...
Xứ Tần trăng sáng tỏ,
Dõi bóng chiếu Minh Phi.
Một lên đường ải Ngọc,
Bên trời biền biệt đi.
Trăng Hán vẫn mọc ngoài Đông Hải,
Minh Phi sang Hồ không trở lại.
Lạnh lùng hoa tuyết núi Yên Chi,
Cát bụi bay mù ngập thúy mi.
Sống thiếu cân vàng tranh vẽ nhọ,
Chết phơi nấm đất cỏ xanh rì.
王昭君其二
...
昭君拂玉鞍,
上馬啼紅頰。
今日漢宮人,
明朝胡地妾。
Vương Chiêu Quân kỳ 2
...
Chiêu Quân phất ngọc an
Thướng mã đề hồng giáp
Kim nhật Hán cung nhân
Minh triêu Hồ địa thiếp.
Dịch thơ
...
Chiêu Quân phủi yên ngọc,
Lên ngựa, đấng má hồng nức nở.
Hôm nay là người trong cung Hán,
Sáng mai đã thành tì thiếp ở đất Hồ

Thi thánh Đỗ Phủ cũng để lại những bình phẩm sâu sắc qua bài "Vịnh hoài cổ tích":

詠懷古跡五首之三
...
群山萬壑赴荊門,
生長明妃尚有村。
一去紫台連朔漠,
獨留青塚向黃昏。
畫圖省識春風面,
環佩空歸月夜魂。
千載琵琶作胡語,
分明怨恨曲中論。
Vịnh hoài cổ tích ngũ thủ chi tam
...
Nghìn non vạn suối tới Kinh Môn
Quê quán Minh Phi vẫn hãy còn
Đài tía bước ra nơi sóc mạc
Nấm mồ gửi lại bóng hoàng hôn
Vẻ xuân tranh cổ phôi pha nét
Gót ngọc đêm trăng phảng phất hồn
Đàn phổ tiếng Hồ muôn thuở đó
Tỳ bà oán hận mạch sầu tuôn.

Thi sĩ Bạch Cư Dị làm về Chiêu Quân:

昭君詞其一
...
滿面胡沙滿鬢風,
眉銷殘黛臉銷紅。
秋苦辛勤憔悴盡,
如今卻似畫圖中。
Chiêu Quân từ, bản dịch của Tản Đà
...
Cát Hồ đầy mặt, gió đầy tai,
Mực nhạt mày xanh, má đỏ phai.
Khổ sở lo buồn tiều tuỵ thế,
Mới là tranh vẽ giống như ai.
過昭君村
...
靈珠產無種,彩雲出無根。
亦如彼姝子,生此遐陋村。
至麗物難掩,遽選入君門。
獨美衆所嫉,終棄出塞垣。
唯此希代色,豈無一顧恩。
事排勢須去,不得由至尊。
白黑既可變,丹青何足論。
竟埋代北骨,不返巴東魂。
慘澹晚雲水,依稀舊鄉園。
妍姿化已久,但有村名存。
村中有遺老,指點爲我言。
不敢往者戒,恐貽來者冤。
至今村女面,燒灼成瘢痕。
Quá Chiêu Quân thôn
...
Linh châu sản vô chủng, thải vân xuất vô căn.
Diệc như bỉ xu tử, sinh thử hà lậu thôn.
Chí lệ vật nan yểm, cự tuyển nhập quân môn.
Độc mỹ chúng sở tật, chung khí xuất tắc viên.
Duy thử hi đại sắc, khởi vô nhất cố ân.
Sự bài thế tu khứ, bất đắc do chí tôn.
Bạch hắc kí khả biến, đan thanh hà túc luận.
Cánh mai đại bắc cốt, bất phản ba đông hồn.
Thảm đạm vãn vân thủy, y hi cựu hương viên.
Nghiên tư hóa dĩ cửu, đãn hữu thôn danh tồn.
Thôn trung hữu di lão, chỉ điểm vi ngã ngôn.
Bất cảm vãng giả giới, khủng di lai giả oan.
Chí kim thôn nữ diện, thiêu chước thành ban ngân.

Nhà cải cách thời Tống là Vương An Thạch đã viết hai bài thơ về Chiêu Quân, đưa ra những cách nhìn nhận khá độc đáo. Một trong hai bài đó:

明妃曲其一
...
明妃初出漢宮時,
淚濕春風鬢腳垂。
低回顧影無顏色,
尚得君王不自持。
歸來卻怪丹青手,
入眼平生未曾有。
意態由來畫不成,
當時枉殺毛延壽。
一去心知更不歸,
可憐著盡漢宮衣。
寄聲欲問塞南事,
只有年年鴻雁飛。
家人萬里傳消息:
好在氈城莫相憶;
君不見:
咫尺長門閉阿嬌,
人生失意無南北。
Minh phi oán kỳ 1
...
Từ ấy nàng xa chốn Hán cung,
Tóc mai gió thổi lệ xuân nồng.
Dung nhan nhìn lại bơ phờ quá,
Thiên tử muôn trùng luống khổ tâm!
Oán trách nhầm tay họa sĩ hèn,
Sắc đẹp xưa nay chẳng thấy quen
Thần thái trời sinh ai vẽ nổi?
Mao Diên Thọ chết vẫn còn oan.
Một đi đi mãi, đáng thương thay!
Áo Hán cung xưa vẫn mặc dày
Phương nam thư gửi về quan ải
Chỉ thấy năm dài cánh nhạn bay.
Người nhà muôn dặm nhắn tin cùng
Ở lại chiên thành chớ ngóng trông
Nàng chẳng thấy đó sao:
A Kiều khóa chặt Trường Môn đó
Nam bắc nào ai được thỏa lòng?

Không chỉ Trung Hoa, những nhà thơ Việt Nam cũng cảm thán cho số phận của Vương Chiêu Quân. Ta có thể thấy qua bài Chiêu Quân của Quang Dũng:

Tuyết lạnh che mờ trời Hán Quốc
Tì bà lanh lảnh buốt cung Thương
Tang tình năm ngón sầu dâng lệ
Chiêu Quân sang Hồ xừ hồ xang
Đây Nhạn Môn Quan đường ải vắng
Trường Thành xa lắm Hán Vương ơi!
Chiêu Quân che khép mền chiên bạch
Gió bấc trời Phiên thấm lạnh rồi
Ngó lại xanh xanh triều Hán Đế
Từng hàng châu lệ thấm chiên nhung
Quân vương chắc cũng say và khóc
Ái khanh! Ái khanh! Lời nghẹn ngùng
Hồ xang hồ xang xự hồ xang
Chiêu Quân nàng ơi lệ dâng hàng
Lã chã trời Phiên mưa tuyết xuống
Chiêu Quân sang Hồ, xừ hồ xang.

Tế Chiêu Quân của Tản Đà:

Tản Đà chú thích: Bài này khi tôi ở chơi chùa Non Tiên, làm bằng chữ Nho để tế nàng Chiêu Quân giữa đêm hôm 13 tháng 3 năm Duy Tân thứ 7. Sau về đến Nam Định, quan huyện Nẻ (Nễ Xuyên Nguyễn Thiện Kế) mới dịch ra Nôm cho
Cô ơi, cô đẹp nhất đời
Mà cô mệng bạc, thợ trời cũng thua
Một đi, từ biệt cung vua
Có về đâu nữa, đất Hồ nghìn năm!
Mả xanh còn dấu còn căm,
Suối vàng lạnh lẽo cô nằm với ai?
Má hồng để tiếc cho ai,
Đời người như thế có hoài mất không!
Khóc than nước mắt ròng ròng
Xương không còn vết, giận không có kì.
Mây mờ trăng bạc chi chi
Hôi tanh thôi có mong gì khói nhang,
Ới hồng nhan, hỡi hồng nhan!
Khôn thiêng cũng chẳng ai van ai mời.
Trời Nam thằng kiết là tôi.
Chùa Tiên đất khách khóc người bên Ngô.
Cô với tôi, tôi với cô,
Trước sân lễ bạc có mồ nào đây.
Hồn cô có ở đâu đây,
Đem nhau đi với lên mây cũng đành.

Sân khấu[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thế kỷ 13 đã xuất hiện nhiều tác phẩm kịch nghệ về Chiêu Quân. Kịch tác gia nổi tiếng Mã Trí Viễn (1252-1321) dẫn đầu với vở kịch Hán Cung Thu, tập trung vào chủ đề bảo vệ đất nước.

Khi người Hung Nô đe dọa biên cương nhà Hán, triều đình, đứng đầu là Hán Nguyên Đế, không tìm được một phương sách hiệu quả nào. Chiêu Quân được miêu tả như một người phụ nữ thông minh tuyệt đỉnh, luôn hết lòng vì hòa bình và sự bảo tồn giang sơn nhà Hán. Nàng hoàn toàn tương phản với vị hoàng đế kém cỏi và hèn nhát, viên thừa tướng thối nát bất tài, và tên thợ vẽ tư lợi Mao Diên Thọ. Tiếc thay, vở kịch có chỗ còn chưa đạt. Hai phần ba nội dung của kịch được dành để nói về chuyện tình giữa hoàng đế và người cung phi, làm giảm đi hình ảnh anh hùng của Chiêu Quân.

Vào thời hiện đại, học giả Quách Mạt Nhược (1892-1978) đã sáng tác một vở kịch mang tên "Vương Chiêu Quân", miêu tả bi kịch của Chiêu Quân như là hậu quả của mâu thuẫn giữa tinh thần dũng cảm và khao khát tự do của nàng và những âm mưu đen tối của Nguyên Đế và Mao Diên Thọ.

Tranh vẽ Vương Chiêu Quân của họa sĩ người Nhật Bản, Hishida Shunso (菱田春草)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 傳說昭君出塞時,王昭君行於大漠途中,悲懷於自身命運和遠離家鄉,因而在馬上百無聊賴,彈《出塞曲》。而天邊飛過的大雁,聽到曲調的幽怨和感傷,肝腸寸斷,紛紛的掉落在地。因而「沉魚落雁」中的「落雁」由此得名。戲曲中多安排她奏畢後投江自盡以留貞名。
  2. ^ 《西京雜記》:「元帝後宮既多,不得常見,乃使畫工圖形,案圖召幸之。諸宮人皆路畫工,多者十萬,少者亦不減五萬。獨王牆不肯,遂不得見。匈奴入朝,求美人為闊氏,於是上案圖,以昭君行。及去,召見,貌為後宮第一,善應對,舉止閑推。帝悔之,而名籍已定,帝重信於外國,故不復更人。乃窮案其事,畫工皆棄市,籍其家,資皆巨萬。畫工有杜陵毛延壽,為人形,醜好老少,必得其真。安陵陳敞,新豐劉白、龔寬,並工為牛馬飛鳥眾勢,人形好醜,不逮延壽。下杜陽望,亦善畫,尤善布色。樊育亦善布色。同日棄市。京師畫工,於是差稀。」
  3. ^ 《漢書·匈奴傳》記載,王牆字昭君,號甯胡閼氏;《漢書·元帝紀》又稱之為王檣。《後漢書·南匈奴列傳》中,稱「昭君字嬙」。在兩本史籍中,就出現四個不同的稱號:王牆、王檣、王嬙、王昭君,致後世對王昭君的真實姓名莫衷一是。
  4. ^ 《後漢書》「昭君字嬙,南郡人也。初,元帝時,以良家子選入掖庭。時呼韓邪來朝,帝□以宮女五人賜之。昭君入宮數歲,不得見禦,積悲怨,乃請掖庭令求行。呼韓邪臨辭大會,帝召五女以示之。昭君豐容靚飾,光明漢宮,顧景裴回,竦動左右。帝見大驚,意欲留之,而難於失信,遂與匈奴。生二子。」
  5. ^ Yên chi (閼氏): tên hiệu của hoàng hậu Hung Nô
  6. ^ 《漢書元帝紀》:「竟寧元年春正月,匈奴呼韓邪單于來朝。詔曰:「匈奴郅支單于背叛禮義,既伏其辜,呼韓邪單于不忘恩德,鄉慕禮義,復修朝賀之禮,願保塞傳之無窮,邊垂長無兵革之事。其改元為竟寧,賜單于待招掖庭王檣(牆)為闊氏。」
  7. ^ 《漢書卷九十四下》:「竟寧元年,單于復入朝,禮賜如初,加衣服錦帛絮,皆倍於黃龍時。單于自言願婿漢氏以自親。元帝以後宮良家子王牆字昭君賜單于。單于歡喜,上書願保塞上谷以西至敦煌,傳之無窮,請罷邊備塞吏卒,以休天子人民。」
  8. ^ 《世說新語·賢媛第十九》:「漢元帝宮人既多,乃令畫工圖之,欲有呼者,輒披圖招之.其中常者,皆行貨路.王明君姿容甚麗,志不苟求,工遂毀為其狀。後甸奴來和,求美女于漢帝,帝以明君充行。既召,見而惜之,但名字已去,不欲中改,於是遂行。」
  9. ^ 匈奴呼韓邪單于來朝請求和親,昭君自願請求嫁於匈奴。到了昭君出塞那一天,帝見昭君美冠漢宮,不禁大吃一驚。想留下她,又怕失信。後來漢元帝大為惱火,殺掉了毛延壽等畫工,沒收了他們的財産。宋代王安石在《明妃曲》詩中說:「明妃初出漢宮時,淚濕春風鬢腳垂,低頭顧影無顏色,尚得君王不自持,歸來卻怪丹青手,入眼平生幾曾有;意態由來畫不成,當時枉殺毛延壽。」
  10. ^ 《後漢書·南匈奴傳》:「及呼韓邪死,其前閼氏子代立,欲妻之,昭君上書求歸,成帝□令從胡俗,遂複為後單于閼氏焉。」
  11. ^ 內蒙古昭君墓,座落於呼和浩特市南郊大黑河南岸,墓體狀如覆斗,高達33米,底面積約13000平方米,墓前雕有聯轡而行的雙騎塑像。


Tứ đại mỹ nhân Trung Hoa
Tây Thi • Vương Chiêu Quân • Điêu Thuyền • Dương Quý Phi